Chương I. Một số vấn đề lý luận chung 23 cấp tư sản Pháp) trực tiếp nắm giữ những vị trí chủ chốt trong bộ máy quyền lực. Chính quyền này chính là nhà nước bảo hộ. Chính quyền phong kiến bản xứ là chính quyền phong kiến cũ được thực dân Pháp giữ lại và cải biến theo chủ đích của mình để phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu chính trị của chúng.
Trong cuốn sách, khái niệm chính quyền thuộc địa và khái niệm chính quyền thực dân - phong kiến hay nhà nước thực dân - phong kiến có thể được dùng với ý nghĩa như nhau. Nói đến chính trị, không thể không bàn đến nhà nước. Vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước là một trong những nội dung chủ đạo khi bàn tới chính trị và các vấn đề chính trị. Căn cứ vào lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin, người ta đưa ra khái niệm kiểu nhà nước và phân loại nhà nước theo các kiểu này.
“Kiểu nhà nước là tổng thể những dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản, đặc thù của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp và những điều kiện tồn tại và phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định” [176, tr. Khi đề cập đến kiểu nhà nước, người ta hiểu đó là nhà nước của giai cấp nào, tồn tại trên nền tảng kinh tế nào, tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội nào. Tương ứng với bốn hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử xã hội có giai cấp là bốn kiểu nhà nước: kiểu nhà nước chủ nô, kiểu nhà nước phong kiến, kiểu nhà nước tư sản và kiểu nhà nước XHCN. Ba kiểu đầu là những kiểu nhà nước của giai cấp bóc lột, được xây dựng trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, là công cụ để bảo vệ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, duy trì sự bóc lột của giai cấp thống trị đối với đông đảo quần chúng lao động.
Nhà nước XHCN là kiểu nhà nước mới, dựa trên cơ sở công hữu về tư liệu sản xuất, có bản chất khác với các kiểu nhà nước của giai cấp bóc lột. Nhà nước XHCN thực hiện dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội [176, tr. Sự thay thế các kiểu nhà nước trong lịch sử là một tất yếu khách quan. Thông thường, nó được thực hiện thông qua một cuộc cách 24 SỰ BIẾN ĐỔI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM TỪ 1858 ĐẾN 1945 mạng xã hội như ở nước Pháp năm 1789 hoặc bằng những cuộc cải cách có tính cách mạng như ở nước Nhật năm 1868 với phong trào Minh Trị Duy Tân.
Lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin đã chỉ ra tiến trình lịch sử tự nhiên của sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử phát triển nhân loại. Từ hình thái kinh tế xã hội cộng sản nguyên thủy tiến lên hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ, tới phong kiến, TBCN rồi XHCN. Tương ứng với sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử là sự thay đổi từ kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ sang kiểu nhà nước phong kiến, kiểu nhà nước tư sản rồi kiểu nhà nước XHCN. Sự thay thế các kiểu nhà nước trong lịch sử cũng thể hiện sự tiến triển của loài người về văn minh chính trị.
Tùy theo điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia dân tộc mà sự thay thế kiểu nhà nước ở các nước khác nhau diễn ra theo những cách thức hết sức khác nhau. Trong một kiểu nhà nước, giai cấp cầm quyền có nhiều cách tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, hay nói cách khác, có nhiều hình thức nhà nước khác nhau. Hình thức nhà nước chính là cách tổ chức quyền lực nhà nước và những phương pháp để thực thi quyền lực nhà nước. Mỗi kiểu nhà nước thường có những hình thức nhà nước đặc trưng nhất định.
Những yếu tố ảnh hưởng tới việc hình thành các hình thức nhà nước là: cơ sở kinh tế của nhà nước; tương quan lực lượng giữa các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội; mức độ gay gắt của cuộc đấu tranh giành và giữ chính quyền; đặc điểm lịch sử, truyền thống dân tộc; hoàn cảnh quốc tế và các điều kiện khác có ảnh hưởng khi thành lập nhà nước; trình độ dân trí. Hình thức nhà nước gồm hình thức chính thể và hình thức cấu trúc nhà nước. Khi bàn tới hình thức chính thể, người ta đề cập tới cách thức, trình tự để lập ra các cơ quan cao nhất của nhà nước và mối quan hệ giữa các cơ quan đó với nhau. Khi quyền lực tối cao của nhà nước tập trung toàn bộ hay một phần trong tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắc thế tập, ta có chính thể quân chủ.
Một số vấn đề lý luận chung 25 khi quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về một cơ quan được nhân dân hoặc tầng lớp quý tộc bầu ra trong một thời gian nhất định, ta có chính thể cộng hoà. Ngoài hai hình thức chính thể cơ bản như trên, còn có thể có những hình thức chính thể biến dạng như chính thể quân chủ tuyệt đối (hay quân chủ chuyên chế), chính thể quân chủ hạn chế, chính thể cộng hoà quý tộc và chính thể cộng hoà dân chủ. Khi người đứng đầu nhà nước nắm giữ toàn bộ quyền lực tối cao của nhà nước, toàn quyền quyết định các vấn đề đối nội, đối ngoại của nhà nước mà không có bất cứ sự chia xẻ nào, ta có chính thể quân chủ tuyệt đối. Việt Nam thời các vua nhà Nguyễn trị vì đến trước 1858 thuộc loại này.
Khi quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ quan cao nhất của nhà nước thuộc về đông đảo nhân dân (chứ không chỉ thuộc về tầng lớp quý tộc), chúng ta có chính thể cộng hoà dân chủ. Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thuộc loại này. Hình thức cấu trúc nhà nước là cách cấu tạo nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ và mối quan hệ giữa các đơn vị hành chính lãnh thổ với nhau cũng như mối quan hệ giữa trung ương với địa phương [33, tr. Cấu trúc nhà nước có hai loại là nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang.
Nhà nước Việt Nam thời nhà Nguyễn đến trước (1858), là một nhà nước đơn nhất trong đó chủ quyền chung do triều đình phong kiến, đứng đầu là các vua nhà Nguyễn nắm giữ, có hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý thống nhất từ Trung ương xuống địa phương, có một hệ thống pháp luật thống nhất trong cả nước và chỉ tồn tại một loại quy chế thần dân. Khi Pháp thôn tính nước ta, đặc biệt khi Liên bang Đông Dương thuộc Pháp ra đời năm 1887, Việt Nam trở thành một yếu tố, một phần tử của Liên bang này. Đến lượt nó, Liên bang Đông Dương lại chỉ là một phần tử của một hệ thống lớn hơn đó là nhà nước tư sản Pháp với nhà nước ở chính quốc và nhà nước thực dân ở các thuộc địa của Pháp. Thời Pháp thuộc, nước Việt Nam thống nhất trước đây bị chia thành ba xứ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với các quy chế cai trị khác nhau cho mỗi kỳ.
26 SỰ BIẾN ĐỔI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM TỪ 1858 ĐẾN 1945 Chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước. Các phương pháp này rất đa dạng song được phân thành hai loại chính là các phương pháp dân chủ và các phương pháp phản dân chủ. Trong thời kỳ thuộc Pháp nửa sau thế kỷ XIX, đến 1945, dưới sự cai trị chuyên chế, phản động của thực dân Pháp, nhân dân Việt Nam không có chút quyền tự do dân chủ nào. Cho tới khi chế độ dân chủ cộng hoà được thành lập sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chế độ mới bằng phương pháp quản lý dân chủ đã đem lại những quyền lợi cơ bản, thiết thực cho đông đảo nhân dân Việt Nam.
Khái niệm “chế độ thuộc địa” được dùng trong sách này chỉ chế độ chính trị mà thực dân Pháp thiết lập ở thuộc địa Việt Nam và Đông Dương sau khi chúng thôn tính được vùng đất này. “Chế độ phong kiến” chỉ chế độ chính trị mà giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam thiết lập ở nước ta trong lịch sử mà liên quan trực tiếp tới nội dung cuốn sách là chế độ phong kiến nhà Nguyễn. “Chế độ dân chủ cộng hòa” hay “chế độ dân chủ nhân dân” là chế độ chính trị mà nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thiết lập sau thành công của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Thể chế chính trị là một hệ thống bao gồm các quy định, luật lệ, giá trị, chuẩn mực tạo nên nguyên tắc tổ chức và cách thức vận hành của chế độ chính trị, là hình thức biểu hiện các thành tố của hệ thống chính trị đồng thời là cơ sở chính trị - xã hội quy định tính chất, nội dung của chế độ chính trị nhằm đảm bảo duy trì, củng cố, thực hiện quyền lực và lợi ích của giai cấp thống trị xã hội.
Thể chế chính trị gồm thể chế của đảng chính trị, thể chế nhà nước, thể chế của các tổ chức chính trị - xã hội. trong đó thể chế nhà nước là cơ bản và quan trọng nhất. Thể chế nhà nước là những quy định của pháp luật do nhà nước ban hành được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước và có tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội. Một số vấn đề lý luận chung 27 Kiểu nhà nước, hình thức nhà nước và chế độ chính trị có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Trong một kiểu nhà nước nhất định thường có các hình thức nhà nước đặc thù và gắn với một chế độ chính trị tương ứng. Tính chất, nội dung của chế độ chính trị lại được quy định thông qua thể chế chính trị, đặc biệt là thể chế nhà nước. Để một sự cai trị chính trị được thực hiện, cần có cơ sở về mọi mặt từ chính trị đến kinh tế, văn hoá, xã hội… và chính những cơ sở đó cũng cho thấy bản chất của một nền chính trị: tiến bộ hay phản động, phục vụ đông đảo người lao động hay áp bức người lao động để làm lợi cho một thiểu số người thuộc giai cấp cầm quyền.