Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA NGÔ THÌ NHẬM 1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VIỆT NAM THẾ KỶ XVII - XVIII ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA NGÔ THÌ NHẬM 1. Điều kiện về kinh tế, chính trị thế kỷ XVII - XVIII cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của Ngô Thì Nhậm Thứ nhất, về điều kiện kinh tế: Trong nông nghiệp: Mặc dù, nội chiến Nam – Bắc triều kết thúc nhưng trong nội bộ Nam triều một mâu thuẫn mới lại đang lớn dần giữa hai dòng họ đó là dòng họ Trịnh và dòng họ Nguyễn. Từ sau năm 1672, do thấy không thể tiêu diệt được nhau nên hai bên Trịnh – Nguyễn đã lấy sông Gianh làm giới tuyến để chia đôi đất nước: phía bắc của sông Gianh thuộc quyền vua Lê - chúa Trịnh được gọi là Đàng Ngoài hay Bắc Hà (có kinh đô là Đông Kinh), còn ở phía nam sông Gianh thuộc quyền của chúa Nguyễn gọi là Đàng Trong hay Nam Hà.
Dù là Đàng trong hay Đàng ngoài thì vào thời điểm này tình hình kinh tế đều rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng. Trước hết, về chế độ ruộng đất ở Đàng Ngoài: Nhằm thôn tính đất đai làm tải sản cho bản thân, các quan lại, địa chủ thường ép giá người dân và mua lại với giá rẻ mạt. Chính điều này làm xảy ra tình trạng tư hữu hóa ruộng đất càng nhiều, các quan lại, địa chủ là những người nắm giữ phần lớn ruộng tư. Vào năm 1711, theo như lời đề nghị của Nguyễn Quý Đức, triều đình đã ban hành lại phép quân điền của thời Lê Sơ nhằm để ngăn chặn tình trạng trên.
Theo như chính sách đó thì những người đã được cấp đủ ruộng tư hoặc ruộng lộc thì sẽ thôi không được cấp thêm nữa. Những dân đinh từ trên 18 tuổi sẽ được ban ruộng khẩu phần cho đến khi 60 tuổi thì sẽ trả 15 lại cho làng xã phần ruộng đấy. Cách chia và khẩu phần thực hiện như trên sẽ được tiến hành 6 năm 1 lần. Chính sách là vậy, tuy nhiên việc áp dụng chính sách quân điền này khi tiến hành đã không thực hiện được như mục đích ban đầu của triều đình đề ra.
Việc thôn tính đất đai vẫn diễn ra rất mạnh mẽ, phần ruộng công sau khi phân chia cho quân lính, số còn lại rất ít cho dân cày nghèo. Cho đến năm 1723, Trịnh Cương đã cho ban hành biểu thuế ruộng, bắt đầu đánh thuế ruộng đất tư. Nếu căn cứ theo biểu này thì các quý tộc và quan lại sẽ được miễn thuế ruộng tư, số lượng nhiều - ít căn cứ theo phẩm hàm. Việc thu thuế ruộng tư phần nào cũng giảm bớt được sự bất công do chính sách miễn thuế ruộng tư đã có từ thời Lê sơ, đồng thời còn góp phần vào việc tăng nguồn thu cho ngân khố của triều đình.
Tuy nhiên với biểu thuế ruộng đất trên cũng vẫn không thay đổi được việc thôn tính đất đai vốn đang diễn ra của quý tộc, quan lại. Thêm vào đó, hậu quả của cuộc chiến tranh Nam - Bắc triều đã phá hoại nghiêm trọng nên sản xuất nông nghiệp. Nạn tham ô, vơ vét của công của bè lũ quan lại địa phương và sự bỏ mặc của chính quyền vua Lê, chúa Trịnh đối với công tác thuỷ lợi, tổ chức khai hoang càng khiến cho đê điều bị bỏ mặc. Chính điều này đã làm cho tình trạng vỡ đê, lụt lội xảy ra liên tục, kéo theo đó là mất mùa, đói kém dồn dập.
hậu quả đã làm cho đời sống nhân dân càng ngày thêm cơ cực. Trong khi đó bộ máy quan lại thời Lê – Trịnh vừa cồng kềnh, vừa hoạt động kém hiệu quả. Tất cả những gánh nặng phu dịch thì đều được đổ lên đầu các xã dân. Nhu cầu chi tiêu tăng lên trong khi đó nạn đói lại diễn ra triền miên khiến cho người dân không thể nào có đủ khả năng nộp được thuế, họ đã phải bỏ quê hương và đi lưu tán các nơi với số lượng ngày càng nhiều.
Nhà nước còn đặt ra tệ mua quan, bán chức nhằm thu thóc và tiền từ người dân. Tại phủ chúa lại còn đặt ra các loại tiền được gọi là “tiền thông kinh” – mục đích của khoản tiền này chính là để miễn khảo hạch vào kỳ thi hương. chính điều này đã góp phần tạo ra hàng loạt những tên quan lại dốt nát, không có học thức, tham nhũng, lộng hành, chỉ biết vơ vét chiếm đoạt, bóc lột người dân. 16 Bên cạnh tệ bóc lột của quan lại, Nhà chúa vô cảm, thờ ơ, bỏ mặc sự đói khổ của dân tình đã huy động tiền của, lao dịch để xây dựng cung điện, chùa chiền nhằm thỏa mãn sở thích bản thân; nghe lời xàm tấu của hoạn quan mà giết hại các trung thần.
Hậu quả để lại chính là nạn đói kém liên miên hoành hành, xóm làng tiêu điều, kinh tế suy sụp. Người dân hoặc chết vì đói, hoặc chết vì bệnh. khi không còn cách nào, tình thế cuối cùng người dân đã nổi dậy cầm gậy gộc, giáo mác nhằm chống lại cường hào, quan lại, chống lại nhà nước phong kiến. Ở Đàng trong, giai đoạn đầu lãnh thổ Đàng trong chủ yếu là đồi núi đan xen với những đồng bằng nhỏ hẹp, trong khi điều kiện tự nhiên nơi đây lại rất khắc nghiệt nên dân cư ở đây thưa thớt.
Nhưng bắt đầu từ khoảng thế kỷ XII cư dân Việt thuộc nhiều tầng lớp khác nhau đã di cư vào đây và thực hiện khai hoang, xây dựng xóm làng. Số dân Việt ngày càng tăng lên, đặc biệt từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ ở vùng đất Thuận Quảng và có ý định gây dựng cơ đồ tại đây. Những người dân nghèo, bị áp bức bóc lột nặng nề đã từ bỏ xứ Bắc, họ đã rủ nhau di tản vào phía nam để khai hoang và thành lập xóm làng. Vì vậy đã có rất nhiều những con sông, những kênh rạch được đào vét ở vùng Thuận Quảng trong thời gian này.
Sang đến thế kỷ XVIII, những vùng đất trước kia vốn dĩ bị bỏ phế, hoang vu ở Nam Bộ thì giờ đây đã trở thành những đám ruộng phì nhiêu, tốt tươi bậc nhất Đại Việt. Vào thời gian đầu, do thuế má nhẹ, người dân không bị bó buộc bởi những khoản thuế nên đời sống đã có phần được cải thiện. Tuy nhiên sau khi đo đạc ruộng đất, chúa Nguyễn cho tiến hành phép thu thuế nông dân cày ruộng phải nộp rất nhiều các loại: từ tiền cung đốn, tiền bao mây, tiền trình diện đến cả tiền nộp thóc vào kho. Ngoài các khoản đóng góp chính ra thì người nông dân còn phải nộp gạo theo đầu mẫu, tiền phụ trình diện, tiền cót tre cả thuế nhân đinh.
Không dừng lại ở đó, người dân còn phải thực hiện nghĩa vụ binh dịch rất nặng nề kể cả việc bị bắt làm phu canh gác hay quét dọn cho các quan. Về thủ công nghiệp: Trong bối cảnh đất nước bị chia cắt và nội chiến của hai hai nhà Trịnh – Nguyễn kéo dài, tuy nhiên công thương nghiệp nước ta thời bấy giờ 17 vẫn phát triển mạnh mẽ. Cả Đàng Trong và Đàng Ngoài, tại nhiều làng xã đã hình thành nên những nghề thủ công chuyên tạo ra các sản phẩm như rèn, mộc, dệt vải, đúc chuông, tô tượng, chạm trỗ, làm đá, đồ gốm, dệt chiếu, kể cả làm đồ trang sức. để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Nghề gốm có những trung tâm sản xuất nổi tiếng trong và ngoài nước như Bát Tràng, Thổ Hà, Hương Canh ở Đàng Ngoài. Còn ở Đàng Trong cũng có nhiều sản phẩm được người nước ngoài ưa chuộng và ca ngợi như vải, lụa, tơ, đường. Để phục vụ cho nhu cầu trao đổi hàng hóa được mở rộng và với số lượng lớn, chợ búa mọc lên khắp nơi, với nhiều loại chợ khác nhau như: chợ làng, chợ chùa, chợ tổng, chợ huyện, chợ phủ. đặc biệt là sự ra đời của các làng buôn hay sự phát triển của các đô thị.
Sự xuất hiện nhiều khách hàng mới như Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, Pháp cùng các khách hàng nước ngoài quen thuộc như Trung Quốc, Ấn Độ, Xiêm La, Java. mặc dù số khách này vẫn chưa nhiều và chưa liên tục nhưng chính những điều này đã đánh dấu thời kỳ Đại Việt đi vào luồng giao lưu, buôn bán quốc tế. Sự khởi sắc của nền kinh tế hàng hóa đã góp phần làm cho nền kinh tế Việt Nam ta thay đổi một diện mạo mới, đã bớt đi tính chất tự túc, tự cấp. Tuy nhiên, nền kinh tế Đại Việt đương thời do nhiều hạn chế: do những chính sách của các nhà nước, sự nhũng nhiễu, cướp đoạt tùy tiện của bọn quan lại phụ trách thuế, do sức ì của các quan hệ sở hữu trong nông nghiệp cũ; do sự tàn phá sức sản xuất của chiến tranh phong kiến.
tất cả chúng đã góp phần làm cho các mầm mống tư bản chủ nghĩa lúc bấy giờ xuất hiện chậm chạp và phát triển rất khó khăn, không tạo được cơ sở của sự phát triển mạnh mẽ và liên tục của công thương nghiệp, đó là lý do chủ yếu dẫn đến sự suy tàn của nó cuối thế kỷ XVIII. Tóm lại, xã hội phong kiến Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII mặc dù có sự trỗi dậy của kinh tế thương nghiệp đã góp phần tác động thúc đẩy nền kinh tế quốc dân. Song đây vẫn là giai đoạn mang tính đặc thù của nền sản xuất nông nghiệp, nền kinh tế thời kỳ này chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp là chính dù nông nghiệp đang ở vào thời kỳ khủng hoảng. Đồng ruộng không được canh tác mà bị bỏ hoang, xóm làng trở nên tiêu điều, xơ xác còn nông dân thì bị phá sản, đời sống đói khổ.
Trong hoàn 18 cảnh đó, các đời chúa Trịnh cũng ban hành nhiều chính sách với mong muốn có thể khôi phục lại sản xuất nhưng cuối cùng đều không mang lại hiệu quả. Khi làm quan cho triều đình Lê – Trịnh, Ngô Thì Nhậm đã tận mắt chứng kiến cảnh khốn cùng của người dân, ông thương xót cho cuộc sống của họ và thể hiện niềm mong ước về một cuộc sống tươi đẹp hơn. Thông qua các tác phẩm của mình, ông đã nói lên tiếng lòng của người dân trong xã hội thời đó. Ông viết: “Núi Việt dàn sau lưng, Gò Sở bày trước mặt.
Cảnh vật bao đẹp tươi, Xóm làng sao xơ xác? Cá nấp sạp nhà buôn, Én đậu cửa chòi gác. Bóng trâu cày lưa thưa, Nhà đảo phô mờ nhạt”. (Mai Quốc Liên, 2001b, tr.