CHƯƠNG 1. BỐI CẢNH VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG CHO SỰ RA ĐỜI ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA ARIXTỐT 1. Điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh kinh tế - xã hội của Hy Lạp cổ đại 1. Điều kiện tự nhiên Tìm hiểu về đất nước Hy Lạp cổ đại, chúng ta thấy từ xa xưa các bộ lạc Hy Lạp gọi mình bằng những tên riêng.
Đến khoảng thế kỉ thứ VIII – VII Tr. CN, người Hy Lạp mới gọi mình là Helen và gọi đất nước mình là Hellas tức Hy Lạp. Hy Lạp cổ đại là một quốc gia ở khu vực Địa Trung Hải, đây là một lãnh thổ vô cùng rộng lớn, lớn hơn nhiều lần so với đất nước Hy Lạp ngày nay. Hy Lạp cổ đại bao gồm miền lục địa Hy Lạp (Nam bán đảo Bancăng), vùng ven biển Tiểu Á và các đảo của vùng biển Êgiê, trong đó miền lục địa Hy Lạp có tầm quan trọng nhất.
Từ cuộc di cư ồ ạt vào các thế kỉ VIII – VII Tr. CN, người Hy Lạp chiếm thêm miền nam Italia, đảo Sicily, vùng ven biển Đen. Sau này những cuộc viễn chinh toàn thắng của Alêchxanđrơ vào cuối thế kỉ IV Tr. CN đã đưa đến sự ra đời của các quốc gia Hy Lạp trải rộng từ Sicily ở phía tây sang Ấn Độ ở phía đông, từ biển Đen ở phía bắc đến tiếp giáp sông Nil ở phía nam.
Miền lục địa Hy Lạp có thể chia thành 3 khu vực: Bắc, Trung và Nam. Nét nổi bật của địa hình Hy Lạp là ở 3 khu vực đều có sự đan xen của những cấu trúc đồng bằng, cao nguyên, rừng, núi, đồi, sông, suối… Từ Bắc xuống Nam, về đường bộ, người Hy Lạp buộc phải vượt qua đèo Técmôpin. Miền trung Hy Lạp có địa hình khác hẳn, ở đây có nhiều rừng núi chạy dọc, ngang đã chia vùng này thành nhiều khu vực địa lý nhỏ. Đây là vùng có nhiều đồng bằng trù phú như đồng bằng Áttích và Bêôxi.
Đồng thời ở đây còn có nhiều thành phố quan trọng, trong đó được biết đến nhiều nhất là Aten. Nam Hy Lạp là một bán đảo nhỏ, hình bàn tay có 4 ngón duỗi thẳng xuống Địa Trung Hải. Đây là vùng đất trù phú nhất với nhiều đồng bằng như Lacôni, Métxêni. Người Hy Lạp gọi bán đảo này là 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Vùng bờ biển phía đông của Hy Lạp khúc khuỷu, hình răng cưa tạo ra nhiều vịnh, nhiều hải cảng tự nhiên, an toàn, thuận tiện cho việc đi lại của tàu thuyền, tạo điều kiện phát triển các cảng biển. Bờ biển phía tây của miền Tiểu Á cũng có địa hình tương tự như bờ phía đông lục địa Hy Lạp. Vùng đất liền ven bờ biển Tiểu Á là vùng đất trù phú, tạo thành vùng đệm nối Hy Lạp với các nền văn minh phương Đông. Hy Lạp cổ đại có nhiều đảo lớn, nhỏ nằm rải rác trên vùng biển Egiê thuộc Địa Trung Hải, tạo thành một hành lang cầu nối giữa miền lục địa Hy Lạp với Tiểu Á.
Trong khi đó biển Egiê lại như một cái hồ lớn nên càng tạo điều kiện thuật lợi cho nghề đi biển trong điều kiện đóng tàu, thuyền khá thô sơ. Với sự phân bố đất đai và điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy, đất nước Hy Lạp đã toạ lạc vào một vị trí vô cùng lý tưởng. Khí hậu, đất đai, biển cả và lòng nhiệt thành của con người là những tài vật, tài lực vô giá để tạo ra sự phát triển đa dạng ở các vùng. Có vùng phù hợp với sự phát triển của nông nghiệp với điều kiện tự nhiên mưa thuận gió hoà.
Có vùng thuận lợi cho sự tăng trưởng của thương nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp do có nhiều hải cảng ở vùng biển Êgiê. Cũng nhờ những điều kiện đó mà tư duy của con người nơi đây được tự do bay bổng, sự thông thương giữa Hy Lạp với các nước, các vùng văn minh khác thời kỳ đó không ngừng được mở rộng về mọi mặt. Cũng giống như các quốc gia cổ đại khác, điều kiện tự nhiên đã có những tác động không nhỏ tới khuynh hướng phát triển kinh tế cũng như thiết chế nhà nước của Hy Lạp. Do điều kiện địa hình phức tạp như trên, cho nên Hy Lạp cổ đại bị phân tán thành nhiều khu vực (các thành bang), chia cắt bởi thung lũng và các ngọn đồi bao quanh, các hòn đảo ven biển.
Các khu vực đó có sắc tộc, lợi ích, cách thức quản lý đôi khi khác xa nhau, dẫn đến tình trạng hiềm khích, xung đột triền miên. Ngay cả trong phạm vi một khu vực, mối liên hệ giữa các nhóm không cùng huyết thống cũng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lỏng lẻo, trừ khi tất cả cư dân phải hợp sức với nhau chống kẻ thù bên ngoài. Chính yếu tố trên đã chi phối sự hình thành, phát triển và tan rã của Hy Lạp cổ đại. Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và khoa học ở Hy Lạp cổ đại Điều kiện tự nhiên khác nhau giữa các vùng góp phần quyết định sự phát triển khác nhau của các ngành kinh tế và do đó cũng quyết định sự phát triển đa dạng các mặt khác trong đời sống xã hội, kể cả các quan điểm triết học, các tư tưởng đạo đức học.
Thời cổ đại, nền kinh tế Hy lạp phát triển đều cả về nông nghiệp, thủ công nghiệp, và thương nghiệp. Vào thế kỷ XV cho đến thế kỷ IX Tr. CN, xu hướng chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ đã hiện dần và ngày càng lộ rõ. Sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp, thủ công nghiệp từ cuối thế kỷ thứ VII Tr.
CN là lực đẩy quan trọng cho trao đổi, buôn bán, giao lưu trong khu vực, dẫn đến sự ra đời các thành bang (Polis) và các trung tâm văn hoá lớn như Aten, Spác. Thành bang Aten nằm trên vùng đồng bằng thuộc trung bộ Hy Lạp, là nơi có nhiều hải cảng thuận lợi cho việc trao đổi mậu dịch, làm xuất hiện các quan hệ tiền - hàng từ rất sớm và chính quan hệ này đã giúp cho giai cấp chủ nô giàu lên nhanh chóng. Do vị trí địa lý như vậy nên Aten phát triển mạnh mẽ về thủ công nghiệp, thương nghiệp. Còn ở Spác lại tăng trưởng về nông nghiệp.
Cơ sở của nền kinh tế ở Hy Lạp chính là dựa trên chế độ chiếm hữu nô lệ. Thời kỳ này, nô lệ là những người giữ vai trò rất quan trọng trong sản xuất. Trong dân cư, lực lượng này chiếm đa số (ở Aten có tới 250 nghìn nô lệ trên 340 nghìn dân). Tuy họ bị coi là “công cụ biết nói”, “động vật biết nói” nhưng chính họ lại là lực lượng quyết định sự đi lên mạnh mẽ của nền kinh tế thời cổ đại này.
Lực lượng sản xuất trong xã hội không ngừng phát triển đã kéo theo sự phân công lao động trong xã hội: giữa lao động chân tay và lao động trí óc, trong nông nghiệp chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, nghề thủ công xuất hiện. Lúc này, những người lao 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động trí óc đầu tiên cũng xuất hiện ở Aten. Họ là một bộ phận trong giai cấp chủ nô giàu có được học hành. Điều này góp phần phát sinh các ngành khoa học, trong đó có triết học, đạo đức học.
Chế độ công xã nguyên thủy tan rã, chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời. Xã hội có giai cấp đầu tiên của loài người xuất hiện. Giai cấp chủ nô và nô lệ là hai giai cấp cơ bản của xã hội chiếm hữu nô lệ, bên cạnh đó còn có dân tự do. Giai cấp chủ nô nắm trong tay toàn bộ quyền hành còn giai cấp nô lệ không được tham gia và không đủ khả năng tham gia các hoạt động xã hội, chính trị và văn hoá.
Họ không có một chút quyền lợi nào ngoài sự lao động bị cưỡng bức tàn bạo. Tài sản nằm trong tay giai cấp chủ nô thực chất có được là do bóc lột sức lao động của những người nô lệ. Cuộc sống khổ cực của giai cấp nô lệ chính là bản án tố cáo mặt trái của xã hội chiếm hữu nô lệ. So với phương Đông, chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cổ đại phát triển cao hơn và đầy đủ nhất đến mức điển hình.
Chế độ nô lệ là một chế độ xã hội có hình thức áp bức bóc lột tàn bạo nhất, dã man nhất, vô nhân đạo nhất trong lịch sử so với tất cả các hình thức áp bức bóc lột ở các chế độ xã hội có giai cấp khác. Do vậy, ở xã hội này luôn luôn diễn ra những cuộc nổi dậy tự phát của nô lệ chống lại chủ nô song kết cục thường thất bại, thậm chí bị đàn áp rất dã man. Nguyên nhân chính của những thất bại đó là do họ không có khả năng xây dựng một hệ tư tưởng phản ánh những quyền lợi của mình. Họ xuất thân từ những người lao động chân tay nặng nhọc ở các bộ lạc khác nhau với những ngôn ngữ khác nhau, do đó họ đã không có tiếng nói chung, ngôn ngữ chung.
Tuy nhiên, nhờ có chế độ đó, giai cấp chủ nô Hy Lạp cổ đại mới có thể thoát ly được hoạt động lao động chân tay vất vả để xây dựng các khoa học, trong đó có triết học, nghệ thuật. Ăngghen trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” đã khẳng định: “Không có chế độ nô lệ thì không 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có quốc gia Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp, không có chế độ nô lệ thì không có đế quốc La Mã mà không có cái cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã, thì không có Châu Âu hiện đại được” [3, 254]. Phải có những khả năng của chế độ nô lệ mới tạo ra được sự phân công lao động quy mô lớn trong nông nghiệp và công nghiệp, mới làm lên sự giàu có của đất nước Hy Lạp cổ đại. Xã hội chiếm hữu nô lệ hình thành, nền kinh tế phát triển về mọi mặt đã dần dần dẫn tới sự tách rời thành thị với nông thôn, các quốc gia – thị thành Hy Lạp được thành lập.
Đó là nơi tập trung những cơ quan đầu não về kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao. do giai cấp chủ nô xây dựng nhằm bảo vệ và củng cố quyền sở hữu, quyền áp bức bóc lột của họ đối với nô lệ và dân tự do. Sự thành lập và phát triển của các thành thị góp phần làm cho văn hoá Hy Lạp tiến bộ.