Từ ngữ xưng hô trong truyện “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” của Nguyễn Nhật Ánh

Luận văn thạc sĩ: Từ ngữ xưng hô trong truyện Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của Nguyễn Nhật Ánh

Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và vai trò của từ ngữ xưng hô trong truyện Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ Việt Nam

Tác giả

Pakayphet Deemanivong

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

184
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về từ ngữ xưng hô trong Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh

Tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh sở hữu hệ thống từ ngữ xưng hô phong phú. Nghiên cứu ngôn ngữ ghi nhận tác phẩm có 160 đơn vị xưng hô với 1821 lượt sử dụng. Các từ ngữ này phản ánh chân thực đời sống nông thôn Việt Nam. Nhà văn khắc họa thế giới trẻ thơ qua lời ăn tiếng nói mộc mạc. Hệ thống xưng từ bao gồm đại từ nhân xưng, danh từ thân tộc và tên riêng. Ngoài ra, tác phẩm còn xuất hiện danh từ chỉ chức vụ cùng các tổ hợp lâm thời. Mỗi lớp từ thể hiện một tầng bậc quan hệ xã hội riêng biệt. Nhân vật Thiều dẫn dắt câu chuyện qua điểm nhìn tự sự sâu sắc. Các nhân vật thiếu nhi xưng hô linh hoạt theo ngữ cảnh và cảm xúc. Tính tôn ti trật tự trong gia đình truyền thống được duy trì nghiêm ngặt. Tình cảm anh em ruột thịt cùng mối giao hảo đồng trang lứa hiện lên rõ nét. Từ ngữ xưng hô trở thành phương tiện nghệ thuật đắc lực. Tác giả kiến tạo không gian văn hóa làng quê giàu giá trị nhân văn.

1.1. Bối cảnh nghiên cứu từ ngữ xưng hô

Đề tài xuất phát từ luận văn thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam của tác giả Pakayphet Deemanivong. Nghiên cứu thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên năm 2024. Đối tượng khảo sát tập trung vào các phát ngôn thoại trong thiên truyện. Ngôn ngữ giao tiếp của nhân vật tái hiện sinh động văn hóa ứng xử miền Trung. Tác giả vận dụng các lí thuyết ngữ dụng học hiện đại để giải mã cấu trúc xưng từ. Không gian nông thôn thanh bình định hình phương thức trò chuyện của trẻ nhỏ. Từng câu thoại mang đậm màu sắc địa phương chân chất. Việc tìm hiểu hệ thống này giúp làm sáng tỏ thi pháp ngôn từ của tác giả.

1.2. Phân loại từ ngữ xưng hô cơ bản

Khảo sát thực tế chia các từ ngữ xưng hô thành năm nhóm chính. Nhóm đại từ nhân xưng giữ vai trò nòng cốt với tần suất cao. Nhóm danh từ thân tộc thể hiện tôn ti gia đình và quan hệ huyết thống. Nhóm tên riêng phản ánh sự gần gũi trong môi trường học đường và xóm giềng. Nhóm danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp thể hiện sự kính trọng đối với người bề trên. Cuối cùng, nhóm tổ hợp kết hợp lâm thời tạo nên sự đa dạng cho lời thoại. Sự phân chia này minh chứng cho tính đa tầng của hệ thống xưng hô tiếng Việt. Mỗi nhóm từ đảm nhiệm chức năng diễn ngôn chuyên biệt. Chúng phản ánh chuẩn xác quy ước xã hội trong bối cảnh nông thôn truyền thống.

II. Phân tích các từ ngữ xưng hô trong Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh

Phân tích định lượng chỉ ra tần suất xuất hiện dày đặc của các từ đơn. Đại từ nhân xưng chiếm ưu thế nổi bật với các đơn vị mang sắc thái thân mật hoặc suồng sã. Cụ thể, từ 'mày' đạt 277 lượt sử dụng, dẫn đầu toàn bộ hệ thống xưng từ. Từ 'tao' theo sau với 201 lượt xuất hiện. Từ 'nó' ghi nhận 118 lượt dùng trong các ngữ cảnh gọi ngôi thứ ba. Sự chiếm ưu thế của cặp xưng hô 'mày - tao' phản ánh chân thực giao tiếp trẻ thơ ở làng quê. Lũ trẻ xưng hô tự nhiên, không câu nệ khoảng cách. Bên cạnh đó, danh từ thân tộc đóng vai trò điều tiết quan hệ gia đình. Cặp từ 'anh - em' giữa Thiều và Tường vừa biểu thị trật tự, vừa gắn kết tình anh em. Khi mâu thuẫn nảy sinh, cách xưng hô lập tức biến đổi sang trạng thái xa cách. Tác phẩm còn ghi nhận sự chuyển hóa linh hoạt của từ 'mình' với 74 lượt dùng. Từ này luân chuyển linh hoạt giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai. Cách dùng đó biểu đạt tâm trạng ngập ngừng cùng những cảm xúc đầu đời trong trẻo.

2.1. Đặc điểm cấu tạo ngữ pháp của xưng từ

Về mặt cấu tạo, các từ ngữ xưng hô phân hóa thành ba dạng thức: từ đơn, từ ghép và ngữ xưng hô. Từ đơn chiếm số lượng áp đảo với 137 đơn vị. Dạng thức này bao gồm hầu hết các đại từ nhân xưng đơn tiết và danh từ quen thuộc. Từ ghép chiếm tỷ lệ khiêm tốn hơn với 15 đơn vị như 'anh em', 'chị em'. Các tổ hợp từ đạt 8 đơn vị, kết hợp danh từ thân tộc với chức danh hoặc tên riêng. Ví dụ điển hình gồm 'chú Đàn', 'thầy phán', 'bác thợ mộc'. Cấu trúc ngữ pháp ngắn gọn phản ánh đúng nhịp điệu khẩu ngữ sinh hoạt hàng ngày. Lối cấu tạo này tạo nên sự chân thực tối đa cho lời thoại của các nhân vật thiếu niên.

2.2. Ý nghĩa ngữ dụng và sắc thái biểu cảm

Ngữ nghĩa của từ xưng hô phụ thuộc chặt chẽ vào ngữ cảnh phát ngôn và khoảng cách quan hệ. Nguyễn Nhật Ánh sử dụng xưng hô để bộc lộ cảm xúc yêu ghét rõ ràng. Sự hoán chuyển giữa 'mày - tao' và gọi tên riêng thể hiện sự dao động tâm lý phức tạp. Trong các tình huống vui chơi, từ ngữ xưng hô mang tính thân mật cao. Ngược lại, khi giận dữ xuất hiện, lời xưng hô trở nên gai góc hoặc xa cách. Nhân vật chú Đàn hay chị Vinh giữ chuẩn mực xưng hô lễ phép trước người lớn tuổi. Yếu tố văn hóa làng quê chi phối sâu sắc quy tắc ứng xử của mọi thế hệ. Ngôn ngữ đối thoại vì thế trở thành tấm gương phản chiếu luân thường đạo lý.

III. Giải pháp học từ ngữ xưng hô trong Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh

Việc tiếp cận hệ thống xưng từ đòi hỏi phương pháp nghiên cứu liên ngành chặt chẽ. Phương pháp thống kê định lượng giúp xác định chính xác tần số xuất hiện của từng đơn vị từ ngữ. Nhà nghiên cứu lập bảng biểu phân loại theo ngôi xưng, số lượng và cương vị xã hội. Tiếp đó, phương pháp phân tích diễn ngôn hỗ trợ làm rõ ngữ cảnh xuất hiện của từng lời thoại. Người đọc cần đặt từ ngữ xưng hô vào mối quan hệ liên cá nhân cụ thể. Trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, tác phẩm cung cấp kho ngữ liệu thực tế sinh động. Giảng viên hướng dẫn người học phân biệt sắc thái giữa đại từ nhân xưng và danh từ thân tộc. Việc mô phỏng các tình huống giao tiếp trong truyện giúp người học nắm vững phép lịch sự. Người học tránh được lỗi dùng sai đại từ suồng sã trong môi trường trang trọng. Ngoài ra, việc so sánh đối chiếu với ngôn ngữ đời thường nâng cao năng lực tiếp nhận văn học thiếu nhi.

3.1. Phương pháp phân tích diễn ngôn thoại

Phân tích diễn ngôn thoại yêu cầu người nghiên cứu xem xét lời nói trong chỉnh thể ngữ cảnh văn hóa. Mỗi phát ngôn xưng hô gắn liền với địa vị, lứa tuổi và tâm trạng của người nói. Người phân tích ghi nhận các biến đổi ngữ dụng khi nhân vật thay đổi đối tượng giao tiếp. Mô hình này giúp giải thích nguyên nhân Thiều chuyển từ cách gọi thân mật sang xa cách với em trai. Ngữ dụng học làm sáng tỏ chiến lược lịch sự và hành vi ứng xử trong đời sống nông thôn. Phương pháp này cung cấp cái nhìn sâu sắc về nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật qua lời thoại văn học.

3.2. Ứng dụng giảng dạy tiếng Việt thực hành

Ứng dụng hệ thống xưng từ vào giảng dạy tiếng Việt mang lại hiệu quả sư phạm rõ rệt. Người học tiếp cận ngôn ngữ sống động thay vì các quy tắc ngữ pháp khô khan. Giáo viên thiết kế bài tập tình huống dựa trên đối thoại của Thiều, Tường và Mận. Hoạt động đóng vai giúp người học hiểu rõ cách dùng danh từ thân tộc thay cho đại từ. Người học quốc tế nhanh chóng nắm bắt tính tôn ti trật tự trong gia đình truyền thống Việt Nam. Phương pháp này rèn luyện phản xạ ngôn ngữ tự nhiên và chuẩn xác cho người học trong giao tiếp hàng ngày.

IV. Kết luận về từ ngữ xưng hô trong Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh

Từ ngữ xưng hô trong tác phẩm là chìa khóa mở vào thế giới tâm lý nhân vật. Nguyễn Nhật Ánh sử dụng lớp từ này như một thủ pháp khắc họa tính cách tài tình. Sự biến đổi xưng từ phản ánh chân thực quá trình trưởng thành và nhận thức của trẻ thơ. Hệ thống xưng hô còn gìn giữ nét đẹp văn hóa ứng xử truyền thống của người Việt. Tác phẩm bảo lưu trọn vẹn phong vị lời ăn tiếng nói mộc mạc của dải đất miền Trung. Nghiên cứu của tác giả Pakayphet Deemanivong mang lại giá trị học thuật thiết thực cho ngành Việt ngữ học. Đề tài mở ra hướng tiếp cận văn học hiện đại dưới lăng kính ngôn ngữ học ứng dụng. Các kết quả khảo sát đóng góp nguồn tư liệu quý báu cho công tác biên soạn giáo trình. Lời thoại trong tác phẩm khẳng định sức sống mãnh liệt của tiếng Việt đời thường. Tác phẩm truyền tải thông điệp sâu sắc về tình thân và lòng trắc ẩn qua từng cách gọi thân thương.

4.1. Đóng góp đối với ngôn ngữ học nghệ thuật

Nghiên cứu khẳng định từ ngữ xưng hô là yếu tố cốt lõi tạo nên phong cách tác giả. Nguyễn Nhật Ánh thành công trong việc cá biệt hóa ngôn ngữ nhân vật thiếu nhi. Mỗi nhân vật sở hữu một lối xưng hô riêng biệt, phản ánh tính cách và hoàn cảnh sống. Sự kết hợp giữa đại từ thân mật và danh từ thân tộc tạo nên cấu trúc đối thoại đa tầng. Tác phẩm chứng minh khả năng biểu cảm phong phú của hệ thống đại từ tiếng Việt. Văn bản nghệ thuật trở thành môi trường kiểm chứng sinh động cho các lý thuyết ngữ dụng học. Thành công này đóng góp kinh nghiệm quý giá cho sáng tác văn xuôi đương đại.

4.2. Định hướng ứng dụng văn hóa và giáo dục

Kết quả nghiên cứu mở ra triển vọng ứng dụng rộng rãi trong nhà trường và xã hội. Dữ liệu từ ngữ xưng hô hỗ trợ đắc lực cho việc giảng dạy văn học và tiếng Việt thực hành. Học sinh tiếp thu bài học về phép lịch sự và đạo lý kính trên nhường dưới một cách tự nhiên. Bên cạnh đó, đề tài cung cấp tài liệu tham khảo giá trị cho người nước ngoài học tiếng Việt. Người học hiểu sâu hơn về văn hóa giao tiếp và tâm thức cộng đồng người Việt. Nghiên cứu cũng góp phần bảo tồn vẻ đẹp trong sáng của ngôn ngữ dân tộc trong thời kỳ hội nhập.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

10/10/2026
Từ ngữ xưng hô trong truyện tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của nguyễn nhật ánh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái quát về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt 1. Khái niệm xưng hô và từ ngữ xưng hô Xưng hô là vấn đề thú vị từ lâu đã được bàn đến trong ngôn ngữ học. Ở Việt Nam, từ ngữ xưng hô đã trở thành lĩnh vực được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ, từ miêu tả đến đối chiếu dụng học, trong các giáo trình ngôn ngữ và nhiều nghiên cứu với nhiều mức độ khác nhau.

Có thể nói, trong bất kỳ một cuộc giao tiếp nào, không thể thiếu được từ ngữ “xưng” và “hô”. Và khi nói đến xưng hô là đề cập đến vấn đề từ ngữ xưng hô và cách thức xưng hô. Trong cuộc giao tiếp, xưng hô là cách thức giao tiếp của con người với nhau trong xã hội, “xưng” được hiểu là cách tự gọi mình hay tự giới thiệu mình của người nói, qua đó, người nói thể hiện vị thế trong mối quan hệ xã hội; còn “hô” là cách dùng ngôn ngữ để gọi người tham gia giao tiếp với mình hoặc gọi người khác được nhắc tới trong quá trình giao tiếp, cách “hô” cũng thể hiện bản chất của mối quan hệ xã hội giữa các nhân vật trong giao tiếp, thể hiện chính bản thân người nói ở nhiều phương diện khác nhau. Từ điển tiếng Việt định nghĩa về xưng hô: ''xưng hô là tự xưng mình và gọi người khác trong giao thiệp hoặc trong thư từ” [62, tr.

Hay “Đại từ điển Tiếng Việt” đã định nghĩa xưng hô là: “Tự xưng mình và gọi người khác trong giao tiếp hoặc trong thư từ”; “Từ điển Tiếng Việt 1997” thì định nghĩa xưng hô là: “Tự xưng mình và gọi người khác”. Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”, tác giả Diệp Quang Ban đồng nhất từ xưng hô với đại từ xưng hô và cho rằng: “Đại từ xưng hô dùng thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia quá trình giao tiếp”. Còn tác giả Đỗ Hữu Châu đã viết: “Xưng hô là hành vi chiếu vật, ở đây là quy chiếu các đối ngôn trong ngữ cảnh, nó sẽ gắn diễn ngôn của 9 người nói, người tiếp thoại. Xưng hô thể hiện vai giao tiếp” trong cuốn Cơ sở ngữ dụng học.

[Dẫn theo 27, tr. Đỗ Hữu Châu nhận định: “Ngữ pháp truyền thống phân chia xưng hô thành ba ngôi: Ngôi thứ nhất là ngôi người nói, ngôi thứ hai là ngôi người tiếp thoại và ngôi thứ ba là ngôi của người, sự vật, sự việc, vv. được nói tới trong diễn ngôn” [11, tr. Từ ngữ xưng hô là những từ ngữ dùng để “xưng” và “hô” trong giao tiếp.

Từ ngữ dùng để xưng hô đều mang trong mình màu sắc biểu cảm. Qua từ ngữ xưng hô, người ta có thể cảm nhận được thái độ, tình cảm giữa những người tham gia giao tiếp với nhau. Các từ ngữ xưng hô sẽ không giới hạn mà ngày càng mở rộng hơn qua thời gian, với sự phát triển của xã hội. Điều đó góp phần tăng thêm vốn từ xưng hô trong quá trình giao tiếp hằng ngày của người Việt.

Tóm lại, theo quan điểm của chúng tôi, từ ngữ xưng hô được hiểu là từ ngữ để tự xưng mình và gọi người đang tham gia cuộc giao tiếp hoặc là người được nhắc đến trong cuộc giao tiếp đó theo hành vi, thái độ, tình cảm của người nói. Phân loại các từ ngữ dùng để xưng hô trong tiếng Việt Trong tiếng Việt, từ xưng hô (TXH) được chia thành các nhóm: 1. Đại từ nhân xưng (ĐTNX): tôi, tao, mày, mình, nó, họ, chúng, hắn, chúng tôi, chúng ta, vv. đây là nhóm từ xưng hô chuyên dụng với chức năng chính, chủ yếu là xưng hô; 2.

Các từ thân tộc (TTT): ba, cha, mẹ, anh, em, chị, ông, bà, chú, dì, cháu, vv. Từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp trong xã hội như: giáo sư, giám đốc, tiến sĩ, hiệu trưởng, thủ trưởng, thủ tướng, bộ trưởng, thầy giáo, cô giáo bác sĩ, giáo viên, vv. đây là những từ xưng hô lâm thời. Trong đó, đại từ xưng hô với tư cách là từ xưng hô chuyên dụng, không chỉ dùng để xưng hô mà còn để bày tỏ quan hệ (thân mật hay xa lạ, chính thức hay không chính thức, xấu hay tốt, vv.) của các vai trong giao tiếp.

Ý nghĩa trực tiếp của các đại từ nhân xưng chuyên dụng phụ thuộc vào văn cảnh, được 10 xác định trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, còn đại từ xưng hô lâm thời, với tư cách là từ xưng hô không chuyên dụng là những từ thuộc các nhóm từ loại khác nhưng đã được sử dụng như các đại từ xưng hô. Các từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc căn cứ vào vai giao tiếp, tức vị thế của các vai giao tiếp để sử dụng. Người đóng vai giao tiếp có quan hệ với nhau như thế nào thì phải sử dụng từ xưng hô như thế. Một điểm cần lưu ý là các từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc có thể được sử dụng để xưng hô trong gia đình, trong gia tộc nhưng cũng có thể sử dụng trong xã hội.

Trong cuộc sống hằng ngày, tùy theo mối quan hệ liên cá nhân và vị thế xã hội giữa các vai giao tiếp, người tham gia giao tiếp có thể lựa chọn cách xưng hô phù hợp với cuộc giao tiếp xã hội. Trên cơ sở lí thuyết trong các tài liệu và các công trình nghiên cứu về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt, chúng tôi phân loại các từ ngữ dùng để xưng hô trong giao tiếp tiếng Việt cụ thể như sau: 1. Xưng hô bằng các đại từ nhân xưng Đại từ nhân xưng trong tiếng Việt rất phong phú. Đó là những từ chỉ người nói, như: tôi, ta, tao, tớ, mình,.chỉ người đồng thoại, như: bạn, cậu, mày, mi,.chỉ người hoặc vật được nói đến, như: nó, họ, hắn, y, chúng, thị, gã, vv.

Trong văn chương nghệ thuật, đại từ nhân xưng được sử dụng rất uyển chuyển, tạo nên sắc thái tình cảm rất tế nhị và độc đáo Ví dụ: - “Mình về mình nhớ ta chăng, Ta về, ta nhớ hàm răng mình cười” (Ca dao). - “Này cậu ạ! Người nhà quê họ vô ý lắm. Mình có của thì mình phải giữ gìn. Hay là ta đem cất cái ghế mây đi” (Nam cao 7.

- “Thiếu một đồng thì tôi không thể để yên chúng nó” ( Nam cao 7. - “Rồi anh đứng như trời trồng cho đến khi tôi đủ sức thốt lên: Em đã có người khác” (Pạm Sông Hồng 112), v. 11 Đại từ nhân xưng là những từ dùng để thay cho người nói trong giao tiếp, như: tôi, ta, tao, mình, mày, cậu, chúng tôi, chúng mày, vv. hoặc để chỉ người và vật được nói đến, như: nó, họ, hắn, y, ả, chúng nó, vv.

Đỗ Hữu Châu nhận định: “Các đại từ nhân xưng tiếng Việt không có sự phân chia rạch ròi về ngôi như trong tiếng Anh, gồm các đại từ: tôi, tớ, tao, tụi, mày, mi, mình, choa, chúng tôi, chúng ta, chúng mình, chúng tớ, bầy (bi), chúng mày, bay, hắn, nó, y, thị, chúng, nó, nhau” [10, tr. Theo các ngôi giao tiếp, đại từ nhân xưng trong tiếng Việt được phân thành 3 loại: + Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (chỉ người đang nói): Số ít: tớ, tôi, tao, mình, ta, người ta, thiếp, đây, vv. Số nhiều: chúng tớ, chúng tôi, chúng mình, chúng tao, chúng ta, tụi tôi, tụi tao, bọn tôi, bọn tao, bọn tớ, bọn ta, bọn mình, vv. + Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai (chỉ người đang cùng giao tiếp): Số ít: mình, mày, cậu, bạn, ngài, mi, ngươi, người, nàng, chàng, ấy, mụ, vv.

Số nhiều: tụi mày, bọn mày, bọn mi, bọn bay, tụi bay, chúng bay, chúng mày, các cậu, các bạn, các người, các ngươi, các ngài, bọn bay, chúng mi, vv. + Đại từ nhân xưng ngôi thứ ba (chỉ người được nhắc đến trong cuộc giao tiếp): Số ít: nó, hắn, y, ả, thị, gã, lão, người, vv… Số nhiều: họ, chúng, chúng nó, tụi nó, tụi kia, cả nhà nó, bọn chúng, bọn họ, bọn nó, vv. Đại từ nhân xưng trong tiếng Việt có thể được khái quát qua bảng sau đây: 12 Bảng 1. Bảng đại từ nhân xưng trong tiếng Việt Ngôi Số ĐTNX tôi, tớ, mình, ta, tao, người ta, thiếp, Số ít đây, vv.

Ngôi 1 chúng tôi, chúng mình, chúng tớ, chúng (Chỉ người nói) Số nhiều tao, chúng ta, tụi tôi, tụi tao, bọn tôi, bọn tao, bọn tớ, bọn ta, bọn mình, vv. mình, mày, cậu, bạn, mi, ngươi, người, Số ít ngài, chàng, nàng, ấy, mụ, vv. Ngôi 2 chúng mày, tụi mày, bọn mày, bọn mi, (Chỉ người nghe) chúng bay, tụi bay, bọn bay, các cậu, Số nhiều các bạn, các người, các ngươi, các ngài, bọn bay, chúng mi, vv. Ngôi 3 Số ít nó, hắn, y, ả, thị, gã, lão, người, vv… (Chỉ đối tượng được họ, chúng, bọn chúng, chúng nó, tụi nó, Số nhiều nhắc đến) tụi kia, cả nhà nó, bọn họ, bọn nó, vv.

Xưng hô bằng tên riêng Trong xã hội hiện nay, tên riêng cũng là cách xưng hô phổ biến và vô cùng quan trọng đối với mỗi con người. Khi giao tiếp, con người thường dùng tên riêng để gọi đối tượng được nói đến. Xưng hô bằng tên riêng là cách thức giao tiếp và gọi người khác bằng tên của họ. Khi người ta gọi tên thì người được gọi thường là người lớn tuổi hơn hoặc là người bằng tuổi với người được gọi tên.

Tên riêng đóng vai trò làm định danh cho mỗi một con người trong xã hội. Một người không những có một tên mà còn có hai hoặc ba tên; Điều này phụ thuộc vào cách đạt gọi tên của bản thân mình, bố, mẹ, anh, chị, em, họ hàng, bạn bè, con người trong xã hội,. nhưng sự thống nhất là tên chính thức của mình. Xưng hô bằng tên riêng của người Việt nhằm tạo mối quan hệ thân 13 thiết giữa các đối tượng giao tiếp.

Tránh được sự nhầm lẫn khi gọi các đối tượng với nhau vì tên gọi là đặc điểm để nhận biết đầu tiên của con người. Có thể nói, xưng hô bằng tên riêng được sử dụng khá nhiều trong cuộc sống hàng ngày của người Việt Nam. Qua cách dùng tên riêng, người nghe nhận biết được đối tượng mà người nói đề cập đến. Ví dụ: - “Lan ơi! Con đang làm gì vậy?” - “Thanh ơi! Đi học với tôi không?” - “Chị Thủy đến chơi đấy à”.

- “Nếu ngày mai thời tiết không thay đổi thì tôi sẽ đi chơi với Nguyễn Lan cả ngày”. Trong cuộc sống, chúng ta thường sử dụng tên riêng trong môi trường gia đình và xã hội cụ thể: a. Tên riêng gọi trong gia đình Việt Nam là quốc gia có sự ảnh hướng lớn của văn hóa Trung Hoa, chính hưởng vì vậy tên gọi của người Việt cũng có nghĩa và tên gọi tương tự như người Trung Quốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Pakayphet Deemanivong (2024), Từ ngữ xưng hô trong truyện “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” của Nguyễn Nhật Ánh, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
APA 7
Deemanivong, P. (2024). Từ ngữ xưng hô trong truyện “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” của Nguyễn Nhật Ánh [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/tu-ngu-xung-ho-trong-truyen-toi-thay-hoa-vang-tren-co-xanh-nguyen-nhat-anh/9883763368
IEEE
P. Deemanivong, "Từ ngữ xưng hô trong truyện “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” của Nguyễn Nhật Ánh," Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2024. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/tu-ngu-xung-ho-trong-truyen-toi-thay-hoa-vang-tren-co-xanh-nguyen-nhat-anh/9883763368

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác