Ảnh Hưởng Của Tư Duy Kinh Nghiệm Đối Với Công Cuộc Đổi Mới Ở Nước Ta Hiện Nay

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của tư duy kinh nghiệm đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Triết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2008

106
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Tư Duy Kinh Nghiệm và Đổi Mới Kinh Tế Việt Nam

Tư duy kinh nghiệm đóng vai trò quan trọng trong công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam. Đổi mới kinh tế bắt đầu từ năm 1986, nhằm cải cách hệ thống kinh tế và xã hội. Tư duy kinh nghiệm giúp con người tiếp cận thực tiễn, nhưng cũng có những hạn chế nhất định. Việc hiểu rõ bản chất và vai trò của tư duy kinh nghiệm là cần thiết để thúc đẩy đổi mới.

1.1. Khái niệm Tư Duy Kinh Nghiệm và Đổi Mới Kinh Tế

Tư duy kinh nghiệm là quá trình nhận thức dựa trên trải nghiệm thực tiễn. Đổi mới kinh tế là sự chuyển mình của nền kinh tế Việt Nam từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường. Sự kết hợp giữa tư duy kinh nghiệm và đổi mới kinh tế tạo ra những cơ hội và thách thức cho sự phát triển.

1.2. Vai trò của Tư Duy Kinh Nghiệm trong Đổi Mới

Tư duy kinh nghiệm giúp người dân và doanh nghiệp nắm bắt nhanh chóng các cơ hội trong thị trường. Tuy nhiên, nó cũng có thể dẫn đến những quyết định sai lầm nếu không được kết hợp với tư duy lý luận. Việc phát triển tư duy lý luận là cần thiết để nâng cao hiệu quả của đổi mới.

II. Những Thách Thức Đối Với Tư Duy Kinh Nghiệm Trong Đổi Mới

Mặc dù tư duy kinh nghiệm có những lợi ích, nhưng cũng tồn tại nhiều thách thức trong bối cảnh đổi mới. Những thách thức này bao gồm sự chậm đổi mới trong tư duy, sự thiếu hụt kiến thức lý luận và khả năng ứng dụng công nghệ mới. Để vượt qua những thách thức này, cần có những giải pháp cụ thể.

2.1. Sự Chậm Đổi Mới Trong Tư Duy Kinh Nghiệm

Tư duy kinh nghiệm thường bị ảnh hưởng bởi thói quen và truyền thống. Điều này dẫn đến sự chậm chạp trong việc áp dụng các phương pháp mới và công nghệ hiện đại. Cần có sự thay đổi trong cách tiếp cận và tư duy để đáp ứng yêu cầu của thời đại.

2.2. Thiếu Kiến Thức Lý Luận và Ứng Dụng Công Nghệ

Nhiều người vẫn dựa vào tư duy kinh nghiệm mà không có kiến thức lý luận vững chắc. Điều này gây khó khăn trong việc áp dụng công nghệ mới và cải cách quản lý. Cần nâng cao năng lực tư duy lý luận để cải thiện tình hình này.

III. Phương Pháp Nâng Cao Năng Lực Tư Duy Kinh Nghiệm

Để nâng cao năng lực tư duy kinh nghiệm, cần áp dụng các phương pháp cụ thể. Những phương pháp này bao gồm việc kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, đào tạo và phát triển kỹ năng tư duy cho người dân. Việc này sẽ giúp cải thiện khả năng ứng dụng tư duy kinh nghiệm trong thực tế.

3.1. Kết Hợp Giữa Lý Luận và Thực Tiễn

Việc kết hợp giữa lý luận và thực tiễn giúp người dân có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề. Điều này không chỉ giúp nâng cao năng lực tư duy mà còn tạo ra những giải pháp hiệu quả cho các vấn đề thực tiễn.

3.2. Đào Tạo và Phát Triển Kỹ Năng Tư Duy

Đào tạo và phát triển kỹ năng tư duy cho người dân là rất quan trọng. Các chương trình đào tạo cần tập trung vào việc phát triển tư duy phản biện và khả năng sáng tạo. Điều này sẽ giúp nâng cao năng lực tư duy kinh nghiệm trong bối cảnh đổi mới.

IV. Ứng Dụng Tư Duy Kinh Nghiệm Trong Thực Tiễn Đổi Mới

Tư duy kinh nghiệm đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Những ứng dụng này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả công việc mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Việc phân tích các ứng dụng thực tiễn sẽ giúp nhận diện rõ hơn vai trò của tư duy kinh nghiệm.

4.1. Ứng Dụng Trong Kinh Tế

Trong lĩnh vực kinh tế, tư duy kinh nghiệm giúp doanh nghiệp đưa ra quyết định nhanh chóng và hiệu quả. Tuy nhiên, cần phải kết hợp với tư duy lý luận để đảm bảo tính bền vững và phát triển lâu dài.

4.2. Ứng Dụng Trong Giáo Dục

Tư duy kinh nghiệm cũng được áp dụng trong giáo dục, giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách thực tiễn. Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng giáo dục mà còn phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Tư Duy Kinh Nghiệm Ở Việt Nam

Tư duy kinh nghiệm sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, cần có những biện pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế của nó. Tương lai của tư duy kinh nghiệm phụ thuộc vào khả năng kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, cũng như sự phát triển của công nghệ.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Tư Duy Kinh Nghiệm Trong Tương Lai

Tư duy kinh nghiệm sẽ tiếp tục là một phần không thể thiếu trong quá trình phát triển của Việt Nam. Việc phát triển tư duy lý luận sẽ giúp nâng cao hiệu quả của tư duy kinh nghiệm trong tương lai.

5.2. Định Hướng Phát Triển Tư Duy Kinh Nghiệm

Định hướng phát triển tư duy kinh nghiệm cần phải gắn liền với sự phát triển của công nghệ và hội nhập quốc tế. Cần có những chính sách cụ thể để thúc đẩy sự phát triển này, nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại.

16/07/2025
Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của tư duy kinh nghiệm đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết. 11 Chƣơng I BẢN CHẤT, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA TƢ DUY KINH NGHIỆM 1.Tƣ duy và tƣ duy kinh nghiệm 1. Khái niệm “Tư duy” Tư duy là vấn đề xuyên suốt lịch sử triết học. Việc trả lời câu hỏi “tư duy là gì”, “bản chất của tư duy là gì”, vấn đề về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại là giải quyết vấn đề cơ bản của triết học.

Xung quanh việc làm sáng tỏ các vấn đề về quan hệ giữa tư duy và tồn tại, tư duy và thực tiễn, tư duy và cảm tính, khả năng đạt được chân lý khách quan của tư duy, vấn đề bản chất của tư duy đã được giải quyết theo các lập trường khác nhau trong suốt lịch sử triết học, do đó việc đưa ra một định nghĩa ở tầm triết học về tư duy là một vấn đề hết sức phức tạp. Xuất phát từ lập trường triết học duy vật biện chứng mác xít, các nhà triết học, lôgíc học đã đưa ra một số định nghĩa khác nhau về khái niệm “tư duy”: A.Leonchiep cho rằng: “Tư duy là trình độ cao của nhận thức mà con người có được, là quá trình phản ánh thực tế khách quan. Tư duy tạo ra tri thức về những thuộc tính, mối liên hệ và quan hệ cơ bản của thực tế khách quan, trong quá trình nhận thức nó thực hiện sự chuyển đổi nhận thức từ “hiện tượng đến bản chất”,… Tư duy là sự phản ánh hiện thực một cách gián tiếp hoá, qua nhiều khâu trung gian, … Tư duy là hoạt động tích cực nhào nặn các tài liệu kinh nghiệm cảm tính [73, tr.Spirkin quan niệm: “Tư duy là hình thái cao của sự phản ánh thực tế khách quan một cách tích cực, đó là sự nhận thức gián tiếp hoá, khái quát hoá và có mục đích do chủ thể đặt ra nhằm nắm được những mối liên hệ, quan hệ cơ bản của các sự vật và hiện tượng, tạo ra các ý niệm mới và đi sâu vào bản 12 chất của các sự kiện và quá trình. Tư duy xuất hiện và thực hiện trong quá trình người ta đặt ra và giải quyết các vấn đề thực tiễn và lý luận” [76, tr.

Trong mục từ “tư duy”, Từ điển Triết học, Nxb Tiến bộ, Mat-xcơ- va, năm 1975, tr.634 viết: “ Tư duy- sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận, v. Tương tự như vậy, Từ điển Triết học, Nxb Tiến bộ, Mat-xcơ-va, năm 1984, tr.422 viết: “ Tư duy là quá trình tích cực qua đó thế giới khách quan được phản ánh trong các khái niệm, phán đoán, lý thuyết,.v…, và nó gắn với việc giải quyết các vấn đề; là sản phẩm cao nhất của dạng vật chất được tổ chức một cách đặc biệt, đó là bộ não” [75, tr. Từ điển Bách khoa Xô viết, Nxb Tiến bộ, Mat-xcơ-va năm 1986, tr.851 viết: “ Tư duy là trình độ cao của nhận thức mà con người có được, của quá trình phản ánh hiện thực khách quan. Nó tạo ra tri thức về các khách thể, các thuộc tính và quan hệ của thế giới thực tại mà trình độ nhận thức cảm tính trực tiếp không thể nắm bắt được” [74, tr.Kandakop khẳng định: “ Tư duy là trình độ cao trong sự phát triển của hoạt động tinh thần, lý luận của con người, đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin xác định như là “quá trình sản xuất ý niệm, biểu tượng, ý thức”…Khác với nhận thức cảm tính là trình độ nhận thức chỉ phản ánh các hiện tượng, cái vẻ bên ngoài và những thuộc tính riêng lẻ của các sự vật, hiện tượng; tư duy phát triển dưới các hình thức trìu tượng như các khái niệm, phán đoán, suy lý, giả thuyết, lý thuyết… Tư duy là trình độ nhận thức gián tiếp hoá chứ không phải là trình độ nhận thức trực tiếp các sự vật, hiện tượng của thực tế khách quan,… Tư duy không chỉ là trình độ nhận thức gián tiếp hoá mà còn là trình độ nhận thức khái quát hoá các sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài,…” [71, tr.Lektorski cho rằng: “ Tư duy là quá trình giải quyết các vấn đề, đó là quá trình chuyển dịch từ các điều kiện tạo lập vấn đề đến việc thu nhận các kết quả giải quyết vấn đề đặt ra.

Tư duy định hướng hoạt động kiến tạo tích cực nhằm kiến tạo lại những dữ liệu ban đầu bằng các thao tác phân tích, tổng hợp, bổ sung” [72, tr. Leonchiep nhấn mạnh năng lực tư duy tạo ra bước nhảy vọt của nhận thức từ “hiện tượng đến bản chất” của sự vật, hiện tượng bằng cách nhào nặn các tài liệu kinh nghiệm, thực tiễn.Spirkin quan tâm đến tính sáng tạo có mục đích của tư duy trong quá trình con người đặt ra và giải quyết các vấn đề thực tiễn và lý luận nhằm đi sâu vào bản chất của đối tượng mà tư duy phản ánh.Kandakop vạch rõ ranh giới giữa nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) và nhận thức lý tính (tư duy trìu tượng), nhấn mạnh năng lực trìu tượng hoá, khái quát hoá của tư duy, những năng lực mà nhận thức cảm tính không thể có được. Mặc dù nhấn mạnh những đặc trưng cơ bản khác nhau của tư duy, song các tác giả đều nhất trí với nhau ở lập trường duy vật biện chứng khi khẳng định đặc trưng cơ bản của tư duy là năng lực phản ánh mang tính nhận thức của con người. Đặc điểm của năng lực phản ánh ở trình độ tư duy là phản ánh gián tiếp, trìu tượng hoá, khái quát hoá và mang tính tích cực của chủ thể nhận thức.

Nội hàm của hai khái niệm “tư duy” và “nhận thức” có sự thống nhất và khác biệt. Nhận thức là một quá trình bắt đầu từ thực tại khách quan đến giai đoạn tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Quá trình nhận thức bao gồm hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Tư duy chính là giai đoạn cao của nhận thức- nhận thức lý tính, nhận thức bằng khái niệm.

Trong giai đoạn này, diễn ra các thao tác trừu tượng hoá, khái quát hoá, đồng thời thông qua các thao tác đó, tri thức của con người được liên kết lại nhằm mục đích nắm bắt những dấu hiệu, thuộc tính bản chất của đối tượng. 14 Trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tiếp thu có lựa chọn những điểm hợp lý ở những định nghĩa đã nêu và dựa trên nguyên tắc lôgíc của việc định nghĩa một khái niệm, chúng tôi đưa ra khái niệm sau về tư duy để làm công cụ cho giải quyết những vấn đề tiếp theo của luận văn: Tư duy là quá trình phản ánh hiện thực một cách gián tiếp, mang tính trừu tượng hoá, khái quát hoá và sáng tạo của chủ thể nhận thức, nhằm mục đích nhận thức những mối liên hệ bản chất của hiện thực khách quan. Xét theo trình độ phát triển, có thể phân tư duy thành: tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận. Bản chất của tư duy kinh nghiệm Tư duy kinh nghiệm là một khái niệm có quan hệ chặt chẽ với khái niệm kinh nghiệm.

Vì vậy, để hiểu rõ bản chất của tư duy kinh nghiệm, chúng ta cần nắm rõ bản chất của kinh nghiệm, tri thức kinh nghiệm. Đây là vấn đề quan trọng của nhận thức luận và đã dành được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà triết học trong lịch sử. Chủ nghĩa duy vật trước Mác, từ Đêmôcrít, đến F.Bêcơn, Lốccơ, Điđrô, cho đến Phoibắc, đều thống nhất khi cho rằng kinh nghiệm đồng nhất với cảm giác. Kinh nghiệm có nguồn gốc khách quan, được hình thành nhờ sự tác động của thế giới khách quan vào giác quan của con người.

Kinh nghiệm chỉ phản ánh được những thuộc tính bề ngoài, hình thức của thế giới vật chất. Song mọi tri thức đều được bắt nguồn từ kinh nghiệm. Chủ nghĩa duy tâm lại coi kinh nghiệm là một dạng thức chủ quan, thần bí. Platon cho rằng kinh nghiệm là một dạng thức tinh thần thuần túy, phản ánh những tri thức không chân thực.

Beccơly coi kinh nghiệm là những phức hợp cảm giác. Hêghen khẳng định kinh nghiệm thuộc về lĩnh vực tâm lý, là sự tha hoá của ý niệm tuyệt đối, phản ánh ý niệm tuyệt đối thông qua giới tự nhiên. 15 Aristốt có một cái nhìn khác về kinh nghiệm khi cho rằng kinh nghiệm là cái được sản sinh từ bên ngoài, chỉ nhận thức được các hình thức của vật chất, giống như chất sáp in dấu của nhẫn vàng. Đềcáctơ- đại diện cho chủ nghĩa duy lý khẳng định kinh nghiệm chỉ là những quan điểm mơ hồ, dễ nhận thức sai lầm về thế giới đối tượng.

Các nhà bất khả tri luận lại cho rằng kinh nghiệm là sự tổng hợp tri giác chủ quan cảm tính (Hium).Kant thì cho rằng kinh nghiệm được hình thành từ hai giai đoạn cảm tính, giác tính, thể hiện trình độ lôgíc thông thường, không đầy đủ, chỉ ra những đặc tính riêng lẻ của sự vật. Các nhà triết học tư sản cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, đã đặt ra và nghiên cứu một cách sâu sắc hơn vấn đề kinh nghiệm. Khái niệm kinh nghiệm được giải thích một cách khác nhau thông qua bốn trào lưu triết học tiêu biểu: [theo 17] Trong hiện tượng học, Huséc coi kinh nghiệm là cái trực quan cảm tính biểu hiện trong quan hệ “cái sống thực tâm lý” và “cái sống thực luận lý” đối với thế giới bên ngoài.Sactre - đại biểu của triết học hiện sinh đã coi kinh nghiệm là thế giới nội tâm của những cảm xúc, là một dạng hoạt động mang tính bản ngã tự nhiên của mỗi “cá sinh”, là sự thể nghiệm trực tiếp của chủ thể. Triết học thực dụng với đại biểu là J.Dewey đồng nhất kinh nghiệm với kinh nghiệm sống của cá nhân, là dạng thích ứng theo bản năng một cách có lợi nhất cho hoạt động sống của mỗi cá nhân.

Triết học thực chứng mới coi kinh nghiệm là những cảm giác, cảm xúc cá nhân của con người không mang nội dung khách quan. Các quan điểm về kinh nghiệm của triết học tư sản hiện đại hoặc mới chỉ ra một số đặc tính của kinh nghiệm, hoặc coi kinh nghiệm là nguồn gốc của tri thức nhưng giải thích bản chất kinh nghiệm một cách duy tâm là hoạt động bản 16 năng tự nhiên, là tri thức chủ quan của chủ thể nhận thức mà chưa lột tả được bản chất của kinh nghiệm trong hoạt động nhận thức của con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ