Chương 1: Giới thiệu • Chương 2: Khái niệm cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây • Chương 3: Phương pháp nghiên cứu • Chương 4: Phân tích và kết quả nghiên cứu • Chương 5: Kết luận gợi ý chính sách và những hạn chế của bài nghiên cứu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG 2: KHÁI NIỆM CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Khái niệm và một số lý thuyết liên quan 2. Khái niệm Đa dạng hóa xuất khẩu, theo định nghĩa của Dennis và Shepherd (2007) là sự thay đổi cơ cấu xuất khẩu của một quốc gia, điều này đạt được thông qua thay đổi giỏ hàng hóa hiện có hoặc bằng cách tôn tạo chúng thông qua đổi mới và công nghệ. Đa dạng hóa xuất khẩu là mở rộng phạm vi sản phẩm của một quốc gia hay cụ thể hơn là mở rộng xuất khẩu sang các phân khúc mới ngoài phạm vi xuất khẩu hiện có. Đa dạng hóa xuất khẩu phân ra làm hai loại theo chiều ngang và theo chiều dọc.
Đa dạng hóa xuất khẩu theo chiều ngang là việc gia tăng các ngành xuất khẩu. Đa dạng hóa xuất khẩu theo chiều dọc xảy ra khi các quốc gia nâng cao chất lượng giỏ hàng hóa của mình hoặc khi cấu trúc xuất khẩu của một quốc gia chuyển từ các sản phẩm thô sang các sản phẩm sản xuất thông qua chế biến hoặc áp dụng công nghệ để gia tăng năng xuất. Tự do hóa thương mại theo Fischer (2003) được định nghĩa là quá trình phụ thuộc kinh tế ngày cành lớn giữa các quốc gia, được phản ánh thông qua việc gia tăng của trao đổi buôn bán hàng hóa và dịch vụ xuyên biên giới, khối lượng tài chính quốc tế ngày càng tăng và dòng chảy lao động ngày càng tăng. Pritchett (1996) chỉ đơn giản định nghĩa “tự do hóa thương mại” là cường độ thương mại của một quốc gia đó ám chỉ khối lượng của thương mại trong GDP của quốc gia đó.
Krueger (1978) thì lập luận rằng tự do hóa thương mại có thể đạt được bằng cách thực hiện các chính sách làm giảm sự thiên vị đối với lĩnh vực xuất khẩu, ví dụ như trợ cấp cho xuất khẩu hoặc khuyến khích các chương trình xuất khẩu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lý thuyết liên quan Về mặt lý thuyết, mối quan hệ giữa thương mại và đa dạng hóa xuất khẩu với tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào mô hình hoặc khuôn khổ được xem xét. Các học thuyết và mô hình thương mại truyền thống cho rằng thương mại thúc đẩy chuyên môn hóa thông qua việc tái phân bổ việc làm, vốn và tài nguyên giữa các ngành, phù hợp với lợi thế so sánh của một quốc gia, nhưng các mô hình lý thuyết gần đây cho thấy mở rộng thương mại có thể là nguyên nhân dẫn tới cho đa dạng hóa và là động lực giúp thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia.
Lý thuyết về "lợi thế so sánh" Lý thuyết được đưa ra bởi Adam Smith (1723-1790) theo đó, thương mại giữa các quốc gia tiến hành dựa trên lợi thế tuyệt đối của từng quốc gia, nghĩa là quốc gia này có lợi thế hơn quốc gia khác về sản xuất một loại hàng hoá nào đó và ngược lại quốc gia khác cũng có lợi thế tuyệt đối về một loại hàng hóa nào đó, khi trao đổi thương mại xảy ra cả hai nước đều đạt được lợi ích cao nhất. Cho nên mỗi quốc gia cần chuyên môn hoá sản xuất những hàng hoá mà quốc gia đó có lợi thế hơn. Tuy nhiên rất ít các bằng chứng thực nghiệm ủng hộ lý thuyết này, lý thuyết này của Adam Smith có gặp những điểm hạn chế nhất định, sau này Ricardo tiếp tục phát triển lý thuyết về lợi thế tuyệt đối và xây dựng lý thuyết về lợi thế so sánh. Lý thuyết Heckscher – Ohlin Là một lý thuyết ủng hộ lý thuyết về lợi thế so sánh, nó đưa ra cách giải thích rằng lợi thế so sánh xuất phát từ sự khác biệt của các yếu tố có sẵn của một quốc gia, thể hiện thông qua xây dựng mô hình H-O.
Mô hình H-O giúp dự báo những sản phẩm mà quốc gia sẽ sản xuất dựa trên nền tảng những nguồn lực sản xuất sẵn có của quốc gia đó. Sau này Paul Samuelson cải thiện mô hình thông qua việc áp dụng toán học, nên mô hình còn gọi là mô hình Heckscher-Ohlin-Samuelson (HOS). Những giả định của mô hình Heckscher-Ohlin: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Công nghệ sản xuất mỗi quốc gia là cố định và công nghệ này là đồng nhất. Sản lượng sản xuất được giả định để thể hiện lợi nhuận không đổi theo tỷ lệ Tính di động của yếu tố trong các quốc gia Yếu tố bất động giữa các quốc gia Giá hàng hóa là như nhau ở khắp mọi nơi Cạnh tranh nội bộ hoàn hảo Từ những giả thuyết trên lý thuyết Heckscher-Ohlin cho rằng những quốc gia nên xuất khẩu hàng hóa thâm dụng các yếu tố đầu vào mà quốc gia đó dồi dào và nhập khẩu các sản phẩm thâm dụng những yếu tố đầu vào mà quốc gia đó có ít lợi thế hơn.
Kết luận này ủng hộ việc xuất khẩu nên tập trung vào sản phẩm mà quốc gia có lợi thế, tuy nhiên nhiều nghiên cứu sau này tiêu biểu là của Leontief (nghịch lý Leontief) và cho thấy lý thuyết HOS không được ủng hộ về mặt thống kê. Giả thuyết Presbish-Singer Giả thuyết của Presbish-Singer (2013) tiến hàng phân tích mối quan hệ giữa thuận lợi thương mại tới đa dạng hóa xuất khẩu trong mẫu 118 nước kết luận rằng tự do thương mại dẫn tới đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu là tất yếu, các nước đang phát triển không nên xuất khẩu một mặt hàng hay những mặt hàng thô. Các quốc gia có sự phụ thuộc quá nhiều vào một loại sản phẩm (nghĩa là đa dạng hóa thấp trong cơ cấu thương mại hàng hóa của họ) có phải đối mặt với tình trạng bất ổn xuất khẩu phát sinh từ nhu cầu toàn cầu không ổn định. Trong dài hạng quốc gia đó sẽ phải nhập một lượng hàng hóa có giá trị cao hơn so với giá trị hàng hóa đã xuất đi.
Để ổn định kim ngạch xuất khẩu và thúc đẩy tăng trưởng các quốc gia đang phát triển phải tăng sự phong phú của giỏ hàng xuất khẩu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Các nghiên cứu thực nghiệm Dennis và Shepherd (2011) nghiên cứu quan hệ giữa thuận lợi thương mại và đa dạng hóa trong xuất khẩu trong mẫu 118 quốc gia phát triển đã chỉ ra rằng thương mại quốc tế thúc đẩy đa dạng hóa xuất khẩu ở các nước đang phát triển. Bên cạnh đó tồn tại một tác động tích cực của tự do hóa thương mại tới tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Olivier Cadot và Vanessa Strauss-Kahn (2011) tiến hành khảo sát và tổng hợp những nghiên cứu thực nghiệm về sự liên kết giữa đa dạng hóa xuất khẩu liên quan đến tự do hóa thương mại và tăng trưởng kinh tế ở cấp độ doanh nghiệp và ngành.
Bài nghiên cứu chỉ ra rằng tự do hóa thương mại, đa dạng hóa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế có quan hệ tích cực với nhau. Ngoài ra khi xem xét ở mức độ doanh nghiệp đa dạng hóa xuất khẩu tác động tích cực tới năng xuất, chất lượng của sản phẩm và phạm vi thị trường của các công ty. Nghiên cứu của Kim và Suen (2012) trong nghiên cứu thực nghiệm của mình về mối liên kết giữa và đa dạng hóa xuất khẩu, mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế. Kết quả bài viết cho thấy tự do hóa thương mại đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia có thu nhập cao và lạm phát thấp nhưng có tác động tiêu cực đến tăng trưởng ở các quốc gia có đặc điểm ngược lại.
Kết quả cho thấy sự tồn tại một mối liên kết tích cực của sự phát triển thị trường tài chính lên tự do hóa thương mại và tác động tiêu cực của thương mại đối với sự phát triển tài chính ở các nước nghèo. Ở các nước giàu hơn, phát triển tài chính kích thích tự do hóa thương mại trong khi mở rộng thương mại có tác động mơ hồ đến phát triển tài chính. Mona Haddad (2012) nghiên cứu dữ liệu của 77 nước phát triển và đang phát triển từ năm 1976 – 2005 sử dụng phương pháp dữ liệu bảng và phương pháp hồi quy GMM để đo lường mối quan hệ giữa tự do hóa thương mại đến tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu đề cập các cơ chế theo đó mở cửa thương mại ảnh hưởng đến biến động tăng trưởng kinh tế.
Cụ thể hơn, họ đã tìm cách xác định xem ảnh hưởng của mức độ tự do hóa thương mại đối với tăng trưởng kinh tế liệu có thay phụ thuộc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 vào mức độ tập trung xuất khẩu hay không. Nghiên cứu chỉ ra rằng tác động của độ mở cửa thương mại tới tăng trưởng kinh tế thực sự bị quy định bởi đa dạng hóa xuất khẩu, cụ thể đa dạng hóa sản phẩm đóng một vai trò quan trọng trong việc che chắn một nền kinh tế chống lại tác động bất lợi của các cú sốc toàn cầu về sự biến động. Ferreira và Harrison (2012) tiến hành nghiên cứu kiểm tra mối quan hệ giữa đa dạng hóa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Costa Rica trong giai đoạn từ năm 1965 đến 2006 sử dụng phương pháp thống kê (ARDL) và OLS động (DOLS). Kết quả bài nhiên cứu không tìm thấy mối quan hệ nhân quả nào giữa đa dạng hóa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế.
Aditya và Acharyya (2013) xem xét mối liên hệ giữa đa dạng hóa xuất khẩu và thành phần trong giỏ hàng xuất khẩu tới tăng trưởng kinh tế trong mẫu dữ liệu 65 quốc gia trong gia đoạn 1965 tới 2005. Kết quả cho thấy tự do hóa thương mại thúc đẩy đa dạng hóa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế. Bài nghiên cứu khuyên các quốc gia đang cố gắng tăng trưởng thông qua xuất khẩu nên xem xét tới mức độ đa dạng hóa trong giỏ hàng hóa của quốc gia đó. Bài viết cũng nhấn mạnh nhân tố về nguồn lực con người hay giáo dục là nhân tố chính quyết định tới tăng trưởng kinh tế Ulason B.
(2014) nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tự do hóa thương mại với tăng trưởng kinh tế trong phạm vi dữ liệu từ năm 1960 tới 2000 tại 130 nước bằng ước tính GMM. Kết quả chỉ ra rằng thương mại tự do hơn có tác động tiêu cực tơi tăng trưởng kinh tế.