CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ YÊN VÀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH. Tổng quan về BVĐK Phú Yên. Quá trình hình thành và phát triển. BVĐK Phú Yên được xây dựng trước năm 1975, tiền thân là một bệnh viện dã chiến của chế độ cũ chưa xây dựng hoàn chỉnh, được Ban Quân - Dân Y của cách mạng tiếp quản và đưa vào sử dụng ngay từ sau ngày giải phóng Phú Yên (ngày 01/04/1975).
Từ năm 1976 đến 1989, BVĐK Phú Yên hiện nay chỉ là một Bệnh viện Đa khoa khu vực phía Bắc của tỉnh với quy mô 300 giường bệnh. Cơ sở hạ tầng bao gồm 4 dãy nhà (khoa khám, khoa ngoại, phòng mổ và khoa nhi bấy giờ) ngoài ra còn có các dãy nhà tạm để làm khoa dược, khoa nội, nhà bếp, nhà đại thể…) Tháng 7 năm 1989, Bộ Chính trị đã có Quyết định số 83/QĐ-TW, chia tách tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh: Phú Yên và Khánh Hoà. Cũng từ đó, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trên địa bàn tỉnh, đồng thời nâng cao hơn nữa vị trí, trách nhiệm của Bệnh viện, Bệnh viện khu vực Bắc Phú Khánh được đổi tên là Bệnh viện Đa khoa trung tâm Tỉnh (theo “Trích yếu số 06/YT ngày 15/7/1989 của Giám đốc Sở Y tế Phú Yên”). Tại thời điểm này Bệnh viện được cải tạo và nâng quy mô từ 300 giường lên 350 giường.
Tuy nhiên cơ sở vật chất cũng còn rất cũ kỹ, lạc hậu, trang thiết bị thiếu thốn không đáp ứng được cho nhu cầu khám chữa bệnh. Chính vì vậy những năm tiếp theo, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã cho phép Sở Y tế đầu tư xây dựng nâng cấp Bệnh viện Đa khoa trung tâm Phú Yên theo từng giai đoạn cụ thể như sau: - Từ năm 1989-1995: 350 giường bệnh; - Từ năm 1996-1998: 400 giường bệnh; 7 - Từ năm 1998-2006: 450 giường bệnh; - Từ năm 2007 đến nay 500 giường bệnh; Bệnh viện Đa khoa Phú Yên được công nhận là Bệnh viện hạng II theo Quyết định số 1021/QĐ-UBND, ngày 05/07/2006 của UBND Tỉnh Phú Yên “V/v xếp hạng của các đơn vị sự nghiệp Y tế trực thuộc Sở Y tế Phú Yên” (hiện nay là Quyết định số 1947/QĐ-UBND, ngày 21/11/2012). Bệnh viện có đội ngũ cán bộ chuyện môn kĩ thuật khá đông hỗ trợ cho các bệnh viện tuyến dưới. Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa Phú Yên là Bệnh viện tuyến chuyên môn kỹ thuật cao nhất tỉnh Phú Yên.
Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy. Trải qua gần 30 năm qua hình thành và phát triển, với những chức năng cơ bản BVĐK Phú Yên đã có những đóng góp to lớn vào các công tác khám chữa bệnh cho nhân dân trong tỉnh và một số địa phương của các tỉnh lân cận (phía Bắc tỉnh Khánh Hòa, phía Đông tỉnh Gia Lai), đồng thời thực hiện tốt các nhiệm vụ khác của Bệnh viện như là: Cấp cứu; khám, chữa bệnh; đào tạo nguồn nhân lực Y tế; nghiên cứu khoa học; chỉ đạo chuyên môn, kỹ thuật cho tuyến dưới; hợp tác quốc tế; quản lý kinh tế y tế. Đứng đầu Bệnh viện là Giám đốc, tiếp đến là các Phó giám đốc. Bệnh viện có 06 phòng chức năng, 07 khoa cận lâm sàng và 16 khoa lâm sàng.
Mỗi một khoa, phòng đều có chức năng và nhiệm vụ cụ thể theo sự phân công của Giám đốc với mục tiêu đáp ứng một cách tốt nhất cho công tác khám chữa bệnh cho nhân dân. Bệnh viện có hơn 600 cán bộ viên chức, trong đó: 01 Tiến sĩ Y khoa, 11 Thạc sỹ Y - dược, 15 Bác sĩ chuyên khoa II, 44 Bác sĩ, Dược sĩ chuyên khoa I, 96 cán bộ viên chức có trình độ Đại học, 39 Cao đẳng và 251 Trung học…. Cơ cấu, tổ chức BVĐK Phú Yên như sau: 8 Sơ đồ 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của BVĐK Phú Yên BAN GIÁM ĐỐC KHOA LÂM PHÒNG CHỨC KHOA CẬN SÀNG NĂNG LÂM SÀNG 1. Phòng Tổ chức Cán bộ 1.
Khoa Hồi sức tích cực 2. Phòng Hành chính Quản 1. Khoa Chẩn đoán Chống độc trị hình ảnh 2. Khoa Khám bệnh 3.
Phòng Kế hoạch - Tổng 2. Khoa Huyết học – 3. Khoa Nội Tổng hợp hợp Truyền máu 4. Khoa Nội Tim mạch- 4.
Phòng Tài chính - Kế 3. Khoa Hóa sinh – Vi Lão học toán Sinh 5. Khoa Truyền nhiễm 5. Phòng Vật tư - Thiết bị 4.
Khoa Lao y tế 5. Khoa Kiểm soát 7. Khoa Y học cổ truyền 6. Phòng Điều dưỡng nhiễm khuẩn 8.
Khoa Vật lý trị liệu – 6. Khoa Giải phẫu Phục hồi chức năng bệnh 9. Khoa Phẫu thuật – Gây 7. Khoa dinh dưỡng mê hồi sức 10.
Khoa Ngoại Chấn thương 11. Khoa Ngoại Tổng quát 12. Khoa Tai Mũi Họng 13. Khoa Điều trị theo yêu cầu 14.
Khoa Ung bướu 15. Khoa Răng Hàm Mặt 16. Khoa Mắt Bên cạnh đó còn có các Ban, Hội đồng tham mưu trực tiếp cho Giám đốc như là: - Ban Thanh tra nhân dân - Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ - Ban điều hành Khoa điều trị theo yêu cầu - Ban chỉ đạo phòng chống dịch 9 - Ban chỉ đạo tuyến - Hội đồng thi đua khen thưởng - Hội đồng Khoa học - Kỹ thuật - Hội đồng Thuốc và điều trị - Hội đồng Kiểm soát nhiễm khuẩn - Hội đồng Điều dưỡng - Hội đồng mua sắm và kiểm nhập vật tư - Hội đồng mua sắm và kiểm nhập thuốc, hóa chất - Hội đồng quản lý chất lượng Bệnh viện 1. Khái quát chung về cơ chế tự chủ.
Khái niệm và nội dung của cơ chế tự chủ. Tự chủ là một khái niệm trừu tượng để đánh giá khả năng một đơn vị công lập có thể hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao phó mà không phải lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan, tổ chức nào và vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Trước đây các đơn vị công lập đều chịu sự quản lý và kiểm soát của các cơ quan quản lý Nhà nước mà không có quyền hạn gì trong việc sử dụng nguồn tài chính, nhân lực, tài sản,… các đơn vị công lập chỉ có chức năng thực hiện nhiệm vụ được Nhà nước giao thông qua kế hoạch, chỉ tiêu được đề ra sẵn. Thực hiện Tự chủ về bản chất đó là quá trình chuyển giao các thẩm quyền, quyền hạn sử dụng nguồn tài chính, nhân lực, tài sản,… từ Nhà nước qua cho các đơn vị công lập thông qua các văn bản pháp luật quy định.
Các đơn vị công lập có quyền tự quyết định mọi hoạt động của mình bao gồm cả tài chính. Thực hiện Tự chủ theo Nghị định 43, bao gồm 3 nội dung chuyển giao thẩm quyền chính: - “Tự chủ, tự chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ được giao”; - “Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế”; 10 - “Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính”. “Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính” hay còn gọi là Tự chủ tài chính là một thẩm quyền và là nội dung quan trọng nhất trong ba nội dung và là tiền đề để làm cơ sở thực hiện tự chủ. Theo luận án Tiến sĩ Vũ Thị Thanh Thủy (2012) đã đưa ra cơ sở lý luận “Tự chủ tài chính đối với các trường đại học công lập nhằm mục tiêu cuối cùng là đảm bảo thu đủ bù đắp chi phí tương ứng với chất lượng đào tạo, hướng tới bền vững tài chính”.
Tương tự đối với ngành Y tế mục tiêu chính của tự chủ tài chính là trao quyền sử dụng các nguồn lực tài chính để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ được giao thông qua cung cấp dịch vụ y tế một cách hiệu quả và công bằng theo lộ trình của Bộ Y tế và quy định của Nhà nước”. Có thể thấy tự chủ tài chính như là một cầu nối liên kết giữa đơn vị công lập với đơn vị chủ quản của nó và với các cơ quan quản lý Nhà nước, là thước đo khả năng độc lập, tự chủ của đơn vị công lập đối với Nhà nước. Theo hướng dẫn của Thông tư 71 về cách thức tính mức độ tự chủ tài chính và Nghị định 85 về phân nhóm các đơn vị công lập Y tế thì mức độ tự chủ tài chính càng lớn quyền tự chủ, quyền hạn của đơn vị công lập càng cao và ngược lại. Trên thế giới thuật ngữ “ Tự chủ tài chính” từ lâu đã xuất hiện từ những năm thập kỷ 60 của thế kỷ 19.
Và cho đến nay mô hình tự chủ tài chính vẫn đang là xu hướng phát triển chung của nhiều quốc gia trên thế giới như: Pháp, Ý, Romania, Nigeria…. Ban đầu tự chủ tài chính được sử dụng cho các mô hình công lập địa phương, vì mức độ phân cấp tài chính ở mỗi vùng đều khác nhau cho nên mức độ tự do phát triển của chính quyền địa phương đều khác nhau, ở những vùng có mức độ phân cấp tài chính cao thì chính quyền địa phương ở đó có nhiều nguồn lực tài chính để hoàn thiện các chức năng của nó và tự đảm bảo được chi phí đầu tư, phát triển mà không phải phụ thuộc vào Nhà nước. Điều này giúp cho chính quyền địa phương đó có nhiều quyền tự chủ, sử dụng nguồn tài chính sau khi hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước hơn. Từ đó có thể tự do phát triển vừa đáp ứng được đời sống cho người dân vừa hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước tốt hơn.
Xa hơn nữa là mô hình tự chủ tài chính có tác dụng làm tiền đề, khuyến khích các chính quyền địa 11 phương ở các vùng có mức độ phân cấp tài chính thấp hơn từng bước thay đổi để đạt đến mức độ tự chủ tài chính cao hơn và đảm bảo đạt được nhiều quyền hạn tự chủ hơn và sử dụng nguồn lực tài chính sau khi hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước nhiều hơn để phát triển. Qua đó, chủ động đi lên tiệm cận được với các vùng phát triển. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia điều kiện kinh tế, văn hóa, con người đều khác nhau cho nên ở mỗi quốc gia cách thức tự chủ tài chính cũng khác nhau. Ở Việt Nam tự chủ tài chính được định hướng xã hội chủ nghĩa và chỉ mới được áp dụng từ năm 2002 thông qua Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, ngày 16/1/2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu.
Sau đó, từ năm 2006 đến năm 2015 áp dụng theo Nghị định 43 và từ năm 2015 đến nay triển khai theo Nghị định 16.