Tổng quan nghiên cứu

Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang tái định hình cấu trúc kinh tế toàn cầu và đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác truyền thông chính sách tại Việt Nam. Tính đến tháng 12/2017, hệ thống truyền thông nước ta ghi nhận 849 cơ quan báo in, 195 báo điện tử được cấp phép cùng lực lượng hơn 18.000 nhà báo được cấp thẻ. Đây là mạng lưới nòng cốt nhằm phổ biến chủ trương phát triển công nghệ cao theo tinh thần Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/05/2017 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết số 05/NQ-TW của Hội nghị Trung ương Khóa XII.

Tuy nhiên, hoạt động truyền thông trên báo chí thời điểm này chủ yếu phản ánh phần vỏ của vấn đề, tập trung vào thuật ngữ trừu tượng mà chưa làm rõ bản chất công nghệ và tác động thực tiễn đến từng ngành nghề. Luận văn hướng đến mục tiêu khảo sát toàn diện 170 tác phẩm báo chí trên 3 báo điện tử tiêu biểu gồm VnExpress, VietnamPlus và Khoa học Phát triển trong năm 2017, đồng thời điều tra mức độ tiếp nhận thông tin của 200 độc giả thuộc nhiều nhóm xã hội. Nghiên cứu xác lập cơ sở thực tiễn giúp nâng cao chỉ số tiếp cận tri thức số, gia tăng tỷ lệ tương tác của độc giả trên không gian mạng và hỗ trợ các cơ quan báo chí tối ưu hóa chiến lược truyền thông công nghệ trong giai đoạn hội nhập.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết Sử dụng và Hài lòng (Uses and Gratifications Theory) được khởi xướng bởi Herta Herzog (1944), hoàn thiện qua các công trình của Wilbur Schramm (1954), Denis McQuail (1972) và kết hợp với Tháp nhu cầu của Abraham Maslow (1970). Lý thuyết này giải thích động cơ chủ động tìm kiếm thông tin khoa học công nghệ của công chúng nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức, khẳng định bản thân và nâng cao năng lực chuyên môn.

Bên cạnh đó, nghiên cứu hệ thống hóa các khái niệm công cụ cốt lõi:

  • Truyền thông đại chúng: Hoạt động truyền tải thông điệp quy mô lớn trên nền tảng kỹ thuật số hiện đại.
  • Báo điện tử: Loại hình báo chí sử dụng văn bản, âm thanh, hình ảnh truyền dẫn trên môi trường mạng theo Luật Báo chí năm 2016 và Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ.
  • Bản chất CMCN 4.0: Sự hội tụ giữa không gian vật lý, số hóa và sinh học thông qua 4 trụ cột công nghệ chính gồm Internet kết nối vạn vật (IoT), Dữ liệu lớn (Big Data), Trí tuệ nhân tạo (AI) và Thực tế ảo (VR).
  • Mô hình truyền thông hai chiều kết hợp hệ thống quản trị nội dung (CMS), phát huy 6 đặc trưng vượt trội của báo điện tử: tính tức thời, tính tương tác, tính đa phương tiện, khả năng siêu liên kết, lưu trữ dữ liệu lớn và tính cá thể hóa cao độ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp định tính và định lượng để đảm bảo độ tin cậy khoa học:

  • Khảo sát nội dung báo chí: Thu thập tổng số 170 tác phẩm xuất bản từ ngày 01/01/2017 đến ngày 31/12/2017 trên 3 tờ báo điện tử đại diện cho các mô hình tòa soạn khác nhau. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích dựa trên bộ từ khóa chuẩn hóa gồm "cách mạng công nghiệp 4.0", "công nghiệp 4.0", "IoT", "Big Data", "trí tuệ nhân tạo".
  • Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Triển khai 200 phiếu anket trực tuyến qua Google Form đến 3 nhóm đối tượng mục tiêu: 80 công chức, viên chức thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ (chiếm 40%), 60 sinh viên từ 4 trường đại học lớn (chiếm 30%) và 60 lãnh đạo doanh nghiệp do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) hỗ trợ kết nối (chiếm 30%).
  • Phỏng vấn sâu chuyên gia: Phỏng vấn trực tiếp các nhà báo, lãnh đạo ban biên tập phụ trách mảng công nghệ tại VnExpress, VietnamPlus và Khoa học Phát triển nhằm giải mã quy trình xuất bản và những điểm nghẽn nghiệp vụ. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm đối chiếu đa chiều giữa lưu lượng thông tin phát đi từ tòa soạn với mức độ hài lòng và thay đổi hành vi thực tế của công chúng tiếp nhận.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng hợp dữ liệu khảo sát 170 tác phẩm báo chí trong năm 2017 cho thấy bức tranh phân bố nội dung và thể loại như sau:

  • Phân bố theo chủ đề công nghệ: Chủ đề Tự động hóa chiếm tỷ trọng cao nhất với 72 bài (đạt 42,35%), tiếp đến là Internet kết nối vạn vật (IoT) với 39 bài (đạt 22,94%), Dữ liệu lớn (Big Data) có 33 bài (đạt 19,41%), trong khi Thực tế ảo (VR) xuất hiện ít nhất với 26 bài (chiếm 15,29%).
  • Cơ cấu thể loại báo chí: Thể loại bài phản ánh và phân tích chiếm ưu thế tuyệt đối với 110 bài (chiếm 64,71%), tin thời sự ngắn có 46 bài (chiếm 27,06%), trong khi thể loại phỏng vấn sâu chỉ đạt 14 bài (chiếm 8,23%).
  • Tần suất đăng tải giữa các tòa soạn: Báo Khoa học Phát triển dẫn đầu với 66 bài (trung bình 5,5 bài/tháng), VietnamPlus xuất bản 65 bài (trung bình 5,4 bài/tháng), còn VnExpress chỉ đạt 39 bài (trung bình 3,2 bài/tháng) dù sở hữu tới 37,5 triệu độc giả thường xuyên.
  • Mức độ tương tác của công chúng: Dữ liệu điều tra từ 200 phiếu anket chỉ ra có 82% độc giả quan tâm ở mức độ nắm bắt tin tức thời sự thông thường, nhưng chỉ có khoảng 14,5% độc giả thực hiện các thao tác tương tác sâu như bình luận, chia sẻ bài viết hoặc đặt câu hỏi chuyên môn tới chuyên gia.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bố thông tin phản ánh rõ sự thiên lệch trong cách tiếp cận đề tài của các tòa soạn. Chủ đề tự động hóa chiếm hơn 42% do tính chất dễ gắn liền với nỗi lo mất việc làm trong các ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày. Ngược lại, các công nghệ nền tảng như VR và Big Data bị hạn chế do thiếu tư liệu thực chứng và rào cản thuật ngữ chuyên sâu.

Dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu 4 nhóm chủ đề công nghệ và bảng tổng hợp ma trận chéo giữa thể loại tin bài với từng cơ quan báo chí. So với nhận định của Giáo sư Klaus Schwab trong cuốn sách về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư xuất bản năm 2018, báo chí điện tử Việt Nam năm 2017 mới dừng lại ở việc chuyển ngữ tài liệu quốc tế và tuyên truyền sự kiện, chưa xây dựng được các bài viết đa phương tiện chuyên sâu có tính phản biện chính sách. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ việc thiếu vắng các phóng viên chuyên trách công nghệ cao, áp lực lượt xem (pageviews) chi phối định mức nhuận bút và các tòa soạn chưa thiết lập chuyên mục độc lập cho CMCN 4.0.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả truyền thông về CMCN 4.0 trên báo điện tử, các cơ quan chức năng và tòa soạn cần triển khai đồng bộ 4 nhóm giải pháp chiến lược sau:

  • Tái cấu trúc nội dung và đa dạng hóa hình thức trình bày: Thiết lập chuyên mục riêng về chuyển đổi số và công nghệ 4.0 trên trang chủ; gia tăng tỷ lệ sản phẩm đa phương tiện chất lượng cao như Infographic, Mega-story, Emagazine và Video đồ họa giải thích khái niệm, phấn đấu nâng tỷ lệ này đạt tối thiểu 30% tổng số tin bài công nghệ trong lộ trình 2019 - 2020 do Ban Biên tập các cơ quan báo điện tử chủ trì.
  • Nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ phóng viên: Tổ chức định kỳ 2 khóa tập huấn chuyên sâu mỗi năm về báo chí dữ liệu và kỹ năng diễn giải công nghệ cho 100% phóng viên mảng khoa học, hoàn thành trước quý 4/2019 dưới sự phối hợp giữa Hội Nhà báo Việt Nam và Bộ Khoa học và Công nghệ.
  • Nâng cấp tính năng tương tác đa chiều trên hệ thống CMS: Tích hợp công cụ bình chọn trực tuyến, diễn đàn trao đổi chuyên gia và cổng giải đáp thắc mắc của doanh nghiệp ngay dưới bài viết, đặt mục tiêu tăng 45% lượng phản hồi hữu ích của độc giả giai đoạn 2019 - 2021 do khối kỹ thuật công nghệ thông tin tòa soạn triển khai.
  • Hoàn thiện cơ chế chính sách và quỹ hỗ trợ truyền thông KH&CN: Ban hành khung định mức nhuận bút đặc thù cho các bài viết điều tra, nghiên cứu chuyên sâu về công nghệ 4.0; trích lập 10% đến 15% nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học hàng năm để đặt hàng các tuyến bài trọng điểm do Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện từ năm 2019.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Ban lãnh đạo và ban biên tập các cơ quan báo chí: Nắm bắt bức tranh toàn cảnh về xu hướng tiếp nhận tin tức công nghệ của độc giả số, từ đó hoạch định đề án chuyển đổi số tòa soạn và phân bổ nguồn lực nội dung hợp lý.
  • Phóng viên, biên tập viên theo dõi mảng khoa học công nghệ: Tiếp cận phương pháp đơn giản hóa các khái niệm kỹ thuật phức tạp thành tác phẩm báo chí hấp dẫn, biết cách khai thác dữ liệu và ứng dụng đồ họa tương tác trong tác nghiệp thực tế.
  • Giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Báo chí - Truyền thông: Sử dụng số liệu 170 tác phẩm và 200 mẫu điều tra làm học liệu nghiên cứu, làm tài liệu tham khảo cho các môn học Quản trị tòa soạn điện tử, Xã hội học báo chí và Báo chí đa phương tiện.
  • Cán bộ quản lý nhà nước tại các bộ ngành liên quan: Tham khảo luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế đặt hàng báo chí, đẩy mạnh thông tin tuyên truyền các chương trình hành động quốc gia về CMCN 4.0 theo đúng chủ trương của Chính phủ.

Câu hỏi thường gặp

Báo điện tử có ưu thế vượt trội nào khi truyền thông về CMCN 4.0? Báo điện tử sở hữu 6 đặc trưng nổi bật gồm tính tức thời, khả năng siêu liên kết, tích hợp đa phương tiện và độ tương tác cao. Nhờ hệ thống CMS linh hoạt, báo điện tử có thể trực quan hóa các số liệu phức tạp về AI, IoT thành infographic và video sinh động, giúp công chúng tiếp cận nhanh chóng mọi lúc mọi nơi.

Tại sao số lượng bài viết về CMCN 4.0 trên VnExpress năm 2017 lại thấp hơn VietnamPlus và Khoa học Phát triển? VnExpress là báo điện tử tổng hợp đại chúng chịu áp lực lớn về lượt xem thương mại, tập trung mạnh vào các tin tức giải trí, xã hội và kinh doanh. Do thiếu chuyên mục chuyên biệt và bài viết công nghệ chưa thu hút lượng truy cập cao nên phóng viên chưa mặn mà sản xuất tin bài mảng này.

Thể loại báo chí nào cần được ưu tiên phát triển trong thời gian tới? Báo chí cần giảm bớt các tin tức hội nghị phản ánh chung chung và tăng cường thể loại phỏng vấn sâu, bài bình luận chuyên gia cùng các định dạng báo chí dữ liệu. Trong khảo sát năm 2017, thể loại phỏng vấn chỉ chiếm 8,23%, cho thấy khoảng trống lớn trong việc giải đáp thắc mắc chuyên sâu cho doanh nghiệp và người lao động.

Độc giả gặp những rào cản lớn nhất nào khi đọc thông tin về CMCN 4.0? Hai rào cản lớn nhất được xác định là mật độ thuật ngữ kỹ thuật nước ngoài quá dày đặc nhưng thiếu giải thích dễ hiểu, cùng với tình trạng thông tin bị loãng trên mạng xã hội. Hơn 65% độc giả trong mẫu khảo sát 200 người mong muốn có nhiều bài viết gắn liền với lợi ích đời sống hàng ngày.

Lý thuyết Sử dụng và Hài lòng được chứng minh như thế nào qua nghiên cứu này? Lý thuyết làm rõ việc công chúng không tiếp nhận thông tin thụ động mà chủ động tìm kiếm kiến thức để phục vụ công việc và học tập. Kết quả 200 phiếu anket cho thấy khi báo chí đáp ứng đúng nhu cầu giải thích tác động của tự động hóa tới việc làm, mức độ hài lòng và thời gian lưu lại trang của độc giả tăng lên rõ rệt.

Kết luận

  • Luận văn hoàn thành việc khảo sát thực chứng 170 bài báo và 200 phiếu điều tra xã hội học, phản ánh trung thực diện mạo truyền thông về CMCN 4.0 trên báo điện tử Việt Nam năm 2017.
  • Công trình chỉ rõ sự mất cân đối về nội dung khi tự động hóa chiếm tới 42,35% dung lượng, trong khi các thể loại chuyên sâu như phỏng vấn chỉ chiếm 8,23%.
  • Nghiên cứu chứng minh tính đúng đắn của Lý thuyết Sử dụng và Hài lòng trong việc phân tích hành vi và nhu cầu thông tin khoa học công nghệ của công chúng số.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện về nội dung, nhân lực, công nghệ CMS và cơ chế tài chính tạo cơ sở vững chắc để đổi mới hoạt động báo chí.
  • Đóng góp chính của đề tài là xây dựng khung đánh giá hiệu quả truyền thông khoa học công nghệ, hỗ trợ thực thi hiệu quả Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2019 trở đi, các cơ quan báo chí cần khẩn trương số hóa quy trình sản xuất tin bài, đẩy mạnh đào tạo báo chí dữ liệu và tăng cường đối thoại chính sách. Các nhà quản lý, phóng viên và nhà nghiên cứu hãy chung tay ứng dụng công nghệ truyền thông hiện đại, đưa tri thức 4.0 trở thành động lực phát triển bền vững cho nền kinh tế Việt Nam.