phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu gồm 3 chương: Chƣơng 1. Một số vấn đề lý thuyết, lý luận chung Chƣơng 2. Nội dung và hình thức chuyển tải thông tin về Hiệp định CPTPP trên các tờ báo thuộc diện khảo sát Chƣơng 3. Khuyến nghị, giải pháp 10 Chƣơng 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT, LÝ LUẬN CHUNG 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm thông tin Có rất nhiều cách hiểu về thông tin, và các từ điển cũng không thể đưa ra một định nghĩa thống nhất. Ví dụ: Từ điển Oxford EnglishDictionary cho rằng, thông tin là “điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến”, là “tri thức, tin tức”.
Một vài từ điển khác đồng nhất thông tin với kiến thức, “thông tin là điều mà người ta biết” hoặc “thông tin là sự chuyển giao tri thức làm tăng thêm sự hiểu biết của con người”. Nguyên nhân của sự khác nhau trong việc sử dụng thuật ngữ này chính là do thông tin chỉ được bắt gặp và tiếp cận trong quá trình hoạt động, thông qua tác động trừu tượng của nó. Từ Latin Informatio, gốc của từ hiện đại information (thông tin) có hai nghĩa. Một là chỉ hành động rất cụ thể tạo ra một hình dạng.
Hai là sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng tuỳ vào tình huống. Cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm thông tin cũng phát triển theo. Với nghĩa thông thường, thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: Một nguời có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu hoặc từ các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh [41].
Trên quan điểm triết học, thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh, nói rộng hơn là bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người [41]. Nhu cầu thông tin là một nhu cầu rất cơ bản và không ngừng tăng lên cùng với sự gia tăng các mối quan hệ trong xã hội. Mỗi người sử dụng thông tin lại tạo ra thông tin mới. Các thông tin đó lại được truyền cho người khác trong quá trình thảo luận, truyền đạt mệnh lệnh, trong thư từ và tài liệu hoặc qua các 11 phương tiện truyền thông khác.
Thông tin được tổ chức tuân theo một số quan hệ logic nhất định, trở thành một bộ phận của tri thức, đòi hỏi phải được khai thác và nghiên cứu một cách hệ thống. Trong hoạt động của con người, thông tin được thể hiện qua nhiều hình thức đa dạng và phong phú như con số, chữ viết, âm thanh, hình ảnh. Thuật ngữ ―thông tin‖ dùng ở đây không loại trừ các thông tin được truyền bằng ngôn ngữ tự nhiên. Thông tin cũng có thể được ghi và truyền thông qua nghệ thuật, bằng nét mặt và động tác, cử chỉ.
Hơn nữa con người còn được cung cấp thông tin dưới dạng mã di truyền. Những hiện tượng này của thông tin thấm vào thế giới vật chất và tinh thần của con người, tạo ra sự đa dạng phong phú về thông tin, dẫn tới những mức độ chất lượng khác nhau của thông tin. Chẳng hạn như các số liệu, dữ kiện ban đầu thu thập được qua điều tra, khảo sát là các thông tin nguyên liệu, còn gọi là dữ liệu. Từ các dữ liệu đó qua xử lý, phân tích, tổng hợp sẽ thu được những thông tin có giá trị cao hơn, gọi là thông tin có giá trị gia tăng.
Ở mức độ cao hơn nữa là các thông tin quyết định trong quản lý và lãnh đạo - kết quả xử lý của những nhà quản lý có năng lực và kinh nghiệm, các thông tin chứa đựng trong các quy luật khoa học - kết quả của những công trình nghiên cứu, thử nghiệm của các nhà khoa học và chuyên môn. Đối chiếu theo Từ điển tiếng Việt, thông tin được hiểu với nghĩa động từ là truyền tin cho nhau để biết, và với nghĩa danh từ là điều được truyền đi cho biết, tin truyền đi. Như vậy, khái niệm thông tin được hiểu theo hai nghĩa là nội dung thông tin và phương tiện thông báo, báo tin. Trong cuốn Global Information and World Communication, Hamid Mowlana cho rằng thông tin và một hiện tượng luôn có nhiều tranh cãi về nó.
Chính từ việc sử dụng hằng ngày, thông tin đã liên quan đến con người, đến phương tiện truyền thông, với những gì có thể thêm vào, bổ sung cho những điều thực tế, giá trị, hữu dụng, vô dụng hoặc kiến thức. Bởi vậy mà người ta 12 cho rằng thông tin là tốt, và càng có nhiều thông tin càng tốt; và rằng thông tin là quyền lực, phức tạp, khó hiểu; rằng mỗi quyển sách, từ báo, lá thư hay hội nghị đều chứa thông tin [2]. Mowlana cũng cho rằng khái niệm thông tin sử dụng trong nghiên cứu về truyền thông nên được đặt trong bối cảnh ngữ nghĩa và thực tế của nó. Thông tin ở đây được hiểu là một sự đóng góp mẫu hoặc một mối quan hệ mẫu giữa các sự vật, hiện tượng [2].
Thông điệp là bất cứ thứ gì nguồn cố gắng chia sẻ với người khác. Thông điệp bắt nguồn từ ý tưởng được mã hòa vào trong những biểu tượng sẽ được sử dụng để diễn đạt ý tưởng đó. Những biểu tượng có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự vật mà nguồn sử dụng để khơi gợi ý nghĩa trong suy nghĩ của người nhận thông điệp. Việc lựa chọn biểu tượng để diễn đạt một ý tưởng hay một sự vật là một bước rất quan trọng trong quy trình truyền thông vì chọn lựa không tốt sẽ dẫn tới sự mơ hồ hoặc hiểu sai thông điệp cần truyền tải.
Khái niệm báo điện tử 1. Báo điện tử là gì Báo điện tử hay báo mạng là loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức một trang web và phát hành dựa trên nền tảng Internet. Báo điện tử được xuất bản bởi Tòa soạn báo điện tử. Người đọc báo điện tử dựa trên máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng.
có kết nối Internet để thu thập thông tin. Khái niệm báo điện tử bắt đầu xuất hiện vào năm 1992 cùng với sự ra đời của tờ báo Online Journal. Trên thế giới và ở Việt Nam đang tồn tại nhiều cách gọi và cách hiểu khác nhau đối với loại hình báo chí này như: báo điện tử (Electronic Journal), báo trực tuyến (Online Newspaper), báo mạng (Cyber Newspaper), báo chí Internet (Internet Newspaper). Trong đó, báo điện tử là khái niệm thông dụng nhất ở Việt Nam.
Ngoài ra, trong các công trình nghiên cứu báo chí học, nhất là trong lĩnh vực truyền thông mới cũng xuất hiện các khái niệm với cùng đặc tính như: xuất bản trực tuyến (Online publishing), 13 phương tiện truyền thông trực tuyến (Online media), nhà báo trực tuyến (Online journalist), phát thanh trực tuyến (Online radio), truyền hình trực tuyến (Online television). Theo Điều 3, Luật Báo chí năm 1989 được sửa đổi, bổ sung tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa X quy định: “Báo điện tử là loại hình báo chí được thực hiện trên mạng thông tin máy tính”. Cách hiểu này đã dẫn đến sự xuất hiện các ―báo điện tử‖ đối với các tờ báo in đưa thông tin lên mạng Internet như Nhân dân, Lao động, Tuổi trẻ… Luật báo chí sửa đổi, bổ sung số 103/2016/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào ngày 5/4/2016 (gọi tắt là Luật báo chí 2016, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2017) định nghĩa: “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử”; Tạp chí điện tử là “sản phẩm báo chí xuất bản định kỳ, đăng tin, bài có tính chất chuyên ngành, được truyền dẫn trên môi trường mạng”. Năm 1993, Việt Nam bắt đầu nghiên cứu việc sử dụng Internet.
Ngày 5/3/1997, Chính phủ ban hành Nghị định 21/CP về Quy chế tạm thời quản lý, thiết lập và sử dụng mạng Internet ở Việt Nam. Internet quốc gia Việt Nam chính thức hòa mạng Internet toàn cầu ngày 19/11/1997. Từ đây, báo chí điện tử nước ta và việc khai thác mạng Internet chính thức được đưa vào hoạt động. Trong bối cảnh nhiều quốc gia trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức trên cơ sở sử dụng những thành tựu của cuộc cách mạng công nghệ thông tin, việc phát triển nhanh Internet để khắc phục sự tụt hậu xa hơn các nước trên thế giới về công nghệ thông tin là yêu cầu rất bức thiết đối với sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Ngày 2/2/1997, Tạp chí Quê hương điện tử thuộc Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Bộ Ngoại giao ra đời, đánh dấu bước phát triển đầu tiên của báo điện tử Việt Nam. Quá trình phát triển, báo điện tử Việt Nam đã đóng một vai trò 14 quan trọng trong các hoạt động tuyên truyền nói chung và hoạt động tuyên truyền đối ngoại nói riêng. Cùng với sự phát triển chóng mặt của các công nghệ truyền dẫn, giúp đẩy nhanh tốc độ truy tải, số lượng các tờ báo điện tử cũng nở rộ khắp nơi trên thế giới. Báo điện tử có tác dụng và tiện ích hơn hẳn các loại hình báo chí truyền thống, dung lượng thông tin rất lớn, tương tác thông tin nhanh, phát hành không bị trở ngại về không gian, thời gian, biên giới quốc gia.
Báo điện tử có sự tích hợp của công nghệ đa phương tiện, nghĩa là không chỉ văn bản, hình ảnh mà còn cả âm thanh, video và các chương trình tương tác khác. Có thể coi báo điện tử ngày nay là sự hội tụ của cả báo giấy (text), báo tiếng (audio) và báo hình (video). Không bị giới hạn bởi khuôn khổ, số trang, không bị phụ thuộc vào khoảng cách địa lý nên báo điện tử có khả năng truyền tải thông tin đi khắp toàn cầu với số lượng người đọc không giới hạn. Thông tin từ khi thu thập đến khi phát hành đều được diễn ra rất nhanh chóng, với những thao tác hết sức đơn giản nên báo điện tử có thể tức thời và phi định kỳ, luôn sống 24/24h.
Báo điện tử chiếm ưu thế tuyệt đối trong việc thiết lập các diễn đàn, các cuộc giao lưu, bàn tròn, phỏng vấn trực tuyến. nhằm tăng mối quan hệ giữa tòa soạn với độc giả, giữa độc giả với nhau, tạo cơ hội cho độc giả có thể giao lưu, trao đổi với nhân vật mình quan tâm, yêu thích.