Chương 1: các quy định chung và giải thích từ ngữ - Từ Chương 2 đến Chương 8 là các quy định về thương mại hàng hóa, bao gồm cả các nội dung về rào cản kỹ thuật và biện pháp vệ sinh dịch tễ Các quy định về thương mại hàng hóa của CPTPP được xây dựng nhằm giảm đến mức tối đa các rào cản thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hóa luân chuyển giữa các quốc gia thành viên. CPTPP yêu cầu việc loại bỏ hoàn toàn thuế quan đối với hầu hết các mặt hàng và giảm thuế lớn đối với các mặt hàng còn lại. Các biện pháp phi thuế quan cũng sẽ bị kiểm soát chặt chẽ để tránh bị lạm dụng nhằm mục đích bảo hộ thương mại. Nguyên tắc xuất xứ trong CPTPP đối với nhiều loại hàng hóa sẽ làm dịch chuyển về mặt địa lý các dự án đầu tư sản xuất.
- Từ Chương 9 đến Chương 14 là các quy định về đầu tư và thương mại dịch vụ Các quy định về đầu tư và thương mại dịch vụ trong CPTPP yêu cầu cao hơn rất nhiều so với WTO. Thứ nhất, nguyên tắc chỉ tiến không lùi yêu cầu các quốc gia không được ban hành các quy định liên quan đến đầu tư kém thuận lợi hơn so với quy định trước đó. Thứ hai, nguyên tắc chọn bỏ thay vì chọn cho được hiểu rằng tất cả những lĩnh vực không được liệt kê trong văn kiện là mở cửa toàn diện. Thứ ba, cơ chế giải quyết tranh chấp nhà đầu tư và nhà nước sẽ giúp các nhà đầu tư được quyền khởi kiện cả những văn bản pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư.
- Từ Chương 15 đến Chương 26 là các quy định về thể chế kinh tế gồm các vấn đề đấu thầu, cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác, phát triển, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hài hòa hóa, chống tham nhũng… 15 Mỗi chương đề cập đến một vấn đề khác nhau, nhưng đều dựa theo nguyên tắc chung là các quốc gia bảo đảm việc xây dựng các thể chế kinh tế sao cho tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh giữa các doanh nghiệp nội khối. Đây được coi là các vấn đề "có liên quan đến thương mại" và nhiều chương trong số đó lần đầu tiên xuất hiện trong các hiệp định thương mại tự do như môi trường, lao động, chống tham nhũng… - Từ Chương 27 đến Chương 30 là các quy định về thực thi CPTPP bao gồm tổ chức và hoạt động của các cơ quan CPTPP, giải quyết tranh chấp, ngoại lệ và điều khoản cuối cùng. Các vấn đề về môi trường trong thương mại quốc tế Tác động của việc tự do hóa thương mại quốc tế lên môi trường luôn là yếu tố không thể bỏ qua trong các hiệp định thương mại. Có thể kể đến một số tác động chủ yếu sau: - Sự gia tăng hoạt động kinh tế tác động lên nhu cầu sử dụng tài nguyên và sức chịu tải của môi trường Đối với các hiệp định thương mại truyền thống, việc gỡ bỏ rào cản đối với hàng hóa giúp mở rộng thị trường từ đó làm gia tăng các hoạt động sản xuất kinh tế của con người, như tăng quy mô các nhà máy sản xuất, gia tăng hoạt động vận tải, tăng khối lượng chất thải… Các hoạt động kinh tế đó cũng sẽ kéo theo các tác động môi trường về nhu cầu sử dụng tài nguyên và khả năng tiếp nhận chất thải của môi trường.
Đây là tác động trực tiếp, dễ nhận thấy nhất của các hiệp định thương mại tự do lên môi trường và tài nguyên của tất cả các quốc gia tham gia. - Sự dịch chuyển đầu tư về các quốc gia có chi phí bảo vệ môi trường thấp hơn Pháp luật về bảo vệ môi trường tại các quốc gia không tương đồng nhau nên các doanh nghiệp sẽ có xu hướng lựa chọn đầu tư sản xuất tại những nơi có pháp luật lỏng lẻo hơn nhằm tiết kiệm chi phí. Điều này sẽ khiến cho các tác động môi trường tổng thể gia tăng, bao gồm cả việc sự dụng quá mức tài nguyên thiên nhiên và phát sinh chất thải, biến đổi đối với môi trường tự nhiên. Sự dịch chuyển đầu tư 16 này có thể giúp các quốc gia đang phát triển có thêm nguồn lực để phát triển kinh tế, nhưng cũng đặt ra quan ngại về tình trạng ô nhiễm môi trường gia tăng.
Theo một nghiên cứu của Đinh Đức Trường được công bố gần đây, một trong những lý do để các doanh nghiệp FDI chọn đầu tư vào Việt Nam là do chi phí môi trường thấp, với mức tiết kiệm chủ yếu nằm trong khoảng từ 10% đến 50% so với đầu tư vào nước mẹ. - Không bình đẳng về chi phí bảo vệ môi trường trong sản xuất Trong trường hợp giữa các quốc gia khác nhau có sự chênh lệch quá lớn về mức độ bảo vệ môi trường có thể dẫn đến tình trạng các chi phí bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất của các doanh nghiệp tại các quốc gia này khác nhau. Quốc gia nào có quy định bảo vệ môi trường chặt chẽ hơn có thể sẽ khiến sản phẩm được sản xuất tại nước đó có chi phí cao hơn từ đó kém cạnh tranh hơn so với sản phẩm cùng loại đến từ quốc gia có tiêu chuẩn môi trường thấp hơn. Điều đó dẫn đến nhu cầu cần có sự điều chỉnh trong pháp luật về thương mại quốc tế nhằm hạn chế bớt sự chênh lệch này.
- Hạn chế quyền đặt hàng rào kỹ thuật nhằm bảo vệ môi trường Mặc dù các hiệp định thương mại đều có ngoại lệ cho phép các quốc gia đặt ra rào cản đối với hàng hóa nhằm mục tiêu bảo vệ môi trường, nhưng trong khuôn khổ WTO và GATT đã ghi nhận 9 vụ tranh chấp liên quan đến vấn đề môi trường. Nội dung chủ yếu của các vụ kiện này là xác định ranh giới giữa quyền bảo vệ môi trường một cách chính đáng của các quốc gia và việc lợi dụng nó nhằm mục đích bảo hộ thương mại. Những tác động này khiến các vấn đề môi trường ngày càng được quan tâm trong các hiệp định thương mại tự do. Nguồn gốc về vấn đề môi trường trong Hiệp định CPTPP CPTPP là một hiệp định thương mại, do đó, các vấn đề CPTPP đề cập cũng phải xuất phát từ các lý do thương mại.
Mặc dù không có giải thích một cách công khai và chính thức, song có thể phỏng đoán rằng chương môi trường được đưa vào CPTPP bởi các lý do sau: 17 - Thứ nhất, do sự lo ngại tác động tiêu cực của việc gia tăng các hoạt động sản xuất lên tài nguyên và môi trường nên nhiều tổ chức hoạt động vì môi trường đã vận động để Chính phủ các nước phát triển đưa nội dung về bảo vệ tài nguyên và môi trường trong các hiệp định thương mại như CPTPP. - Thứ hai, chi phí bảo vệ môi trường không bình đẳng giữa các quốc gia. Các doanh nghiệp sản xuất tại các nước phát triển lo ngại về việc mình sẽ bị mất thị phần do hàng hóa đến từ các nước đang phát triển mà quá trình sản xuất ra chúng đã không bảo đảm công tác bảo vệ môi trường. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp mà còn là việc làm của người dân tại các nước phát triển.
Do đó, chính phủ các nước phát triển có lý do để đưa các nội dung về môi trường vào một hiệp định thương mại như CPTPP nhằm hạn chế việc các nước đang phát triển thu hút đầu tư thông qua việc cắt giảm các biện pháp bảo vệ môi trường. Lý do thứ hai này dẫn đến nguy cơ việc thực thi các nội dung về môi trường trong CPTPP sẽ rất khác nhau giữa những mặt hàng khác nhau. Ví dụ, nếu nước phát triển và đang phát triển cùng sản xuất một thứ mặt hàng có sự cạnh tranh với nhau thì các nước phát triển sẽ có động lực để yêu cầu nước đang phát triển bảo đảm yếu tố môi trường trong quá trình sản xuất mặt hàng đó. Nhưng nếu không có sự cạnh tranh này, thậm chí nước phát triển là nơi tiêu thụ sản phẩm thì việc yêu cầu nước đang phát triển tăng cường bảo vệ môi trường lại có tác động làm tăng giá hàng hóa đấy tại nước phát triển.
Đây là vấn đề cần được lưu ý trong quá trình thực thi CPTPP ở Việt Nam. Ngay trong lời nói đầu, các nước CPTPP đã xác định một trong những mục tiêu của Hiệp định CPTPP là: “nhằm thúc đẩy việc bảo vệ môi trường ở cấp độ cao, thông qua việc thực thi có hiệu quả pháp luật về môi trường; và đẩy mạnh các mục tiêu phát triển bền vững, thông qua các chính sách và hành động hộ trợ đồng thời cả thương mại và môi trường”. Như vậy, quan điểm của CPTPP về vấn đề môi trường rất rõ ràng, bao gồm 2 nội dung: (1) tăng cường thực thi pháp luật về môi trường và (2) ban hành và thực thi các chính sách cân bằng giữa thương mại và môi trường theo hướng phát triển bền vững. Các cam kết về môi trường trong Hiệp định CPTPP 1.
Mục tiêu, phạm vi, các cam kết chung của Chương Môi trường 1. Mục tiêu của Chương Môi trường Điều 20.(1) khẳng định Chương Môi trường có 3 mục tiêu: (1) thúc đẩy các chính sách tương hỗ giữa thương mại và môi trường; (2) thúc đẩy việc thực thi pháp luật bảo vệ môi trường; và (3) nâng cao năng lực của các quốc gia trong việc giải quyết các vấn đề môi trường có liên quan đến thương mại. Mặc dù đây là các mục tiêu phù hợp với chính sách chung của Việt Nam về vấn đề môi trường, nhưng cách tiếp cận của CPTPP có điểm khác biệt so với cách tiếp cận truyền thống của pháp luật môi trường Việt Nam, nằm ở hai điểm: - Thứ nhất, CPTPP chú trọng sự cân bằng giữa thương mại và môi trường. Xuất phát từ bản chất là một hiệp định thương mại, CPTPP không điều chỉnh các vấn đề môi trường phi thương mại như các Hiệp định môi trường mà Việt Nam đã ký kết trước đây.
Điều này đòi hỏi các cơ quan xây dựng và thực thi chính sách về môi trường cũng cần có cách tiếp cận riêng khi chính sách có tác động đến các hoạt động thương mại. - Thứ hai, CPTPP tập trung nhiều vào vấn đề thực thi luật môi trường so với việc chỉ dừng lại ở giai đoạn xây dựng pháp luật như nhiều điều ước quốc tế về môi trường trước đây. Nói cách khác, nếu Việt Nam chỉ "tuân thủ trên giấy", tức là có ban hành quy định tương thích với CPTPP, nhưng không thực thi thì coi như không tuân thủ.