Chương 1 VĂN XUÔI THỜI KÌ ĐỔI MỚI VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA Y BAN 1. Vài nét về văn xuôi thời kì đổi mới Như chúng ta đều biết sau 1975 hiện thực đất nước ta bước sang một trang mới, từ chiến tranh sang hòa bình, từ đời sống bất bình thường của “ngày có giặc” (theo cách nói của Hữu Thỉnh) chuyển sang đời sống bình thường. Có những chuyện hôm qua văn xuôi chưa kịp nói đến, chưa được đề cập tới, còn phải nhìn một cách phiến diện thì nay có điều kiện đề cập và nhìn lại… Đặc biệt sau Đại hội VI của Đảng (1986) với tuyên bố của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh là “cởi trói” , “đổi mới tư duy” với rất nhiều “việc cần làm ngay” đã đòi hỏi văn xuôi phải chuyển kịp với thời đại, phù hợp với hiện thực mới. Và vì hàng chục năm trước đó người ta đã thấy xuất hiện nhiều truyện ngắn,tiểu thuyết, bút kí…thể hiện sự đổi mới sâu sắc trong đời sống văn học nghệ thuật.
Truyện ngắn Bức tranh của nhà văn Nguyễn Minh Châu viết năm 1975 là một ví dụ tiêu biểu. Cho nên có thể chọn năm 1975 là cột mốc phân kì lịch sử, đánh dấu bước ngoặt đổi mới của văn xuôi Việt Nam. Nhiều người vẫn gọi chung văn xuôi sau 1975 là “văn xuôi thời kì đổi mới” hoặc “văn xuôi của thời kì đổi mới”. Nhưng khi có đủ độ lùi về thời gian để nhìn lại ta nhận ra “văn xuôi đổi mới” là một cao trào sang tác có quá trình hình thành, phát triển và kết thúc.
Có thể tạm chia cuộc vận động đổi mới của văn xuôi Việt Nam thành 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: từ 1975 đến 1985 Giai đoạn 2: từ 1986 đến 1991 Giai đoạn 3: từ 1992 đến nay Tuy nhiên những năm 1975, 1986, 1992…chỉ là những cái mốc hết sức tương đối. 11 download by : skknchat@gmail.com Giai đoạn 1975- 1985 là giai đoạn khởi động của văn xuôi thời kì đổi mới. Gọi đó là giai đoạn “khởi động” bởi vì, nếu nhìn ở bề ngoài thì sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước thống nhất, non sông thu về một mối, lịch sử Việt Nam chuyển qua một thời đại mới, nhưng văn xuôi dường như vẫn hoạt động theo quán tính của văn xuôi thời chiến. Đề tài về chiến tranh và người lính vẫn là đề tài cơ bản của nhiều sáng tác văn học.
Các sáng tác ấy vẫn thể hiện nhãn quan chính trị và nguyên tắc tư duy nghệ thuật của nền văn học sử thi. Nhưng dường như giới sáng tác đã cảm thấy không thể viết văn như trước. Khoảng thời gian mười năm sau chiến tranh từ 1975 đến 1986 chưa thấy xuất hiện những cây bút trẻ có khuynh hướng đổi mới mà những nhà văn đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn xuôi Việt Nam giai đoạn này đều là những nhà văn có sáng tác từ trước năm 1975. Đó là Nguyễn Minh Châu với tập truyện ngắn Bến quê, tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Cù Lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, và muộn hơn một chút là tiểu thuyết Thời xa vắng (1987) của Lê Lựu từng gây được tiếng vang rất lớn.
Giai đoạn 1986-1991 là giai đoạn sôi nổi nhất của văn xuôi thời kì đổi mới. Thành tựu nổi bật của văn xuôi thời kì đổi mới được kết tinh ở truyện ngắn và tiểu thuyết. Tiếp theo lớp nhà văn đã thành danh như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng,… người ta thấy nổi lên các cây bút mới rất sung sức, đầu tiên không thể không nhắc tới là Nguyễn Huy Thiệp với các truyện ngắn trong Tướng về hưu. Sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp thực sự tạo ra bước ngoặt của văn xuôi sau 1975.
Nhưng nói tới văn xuôi thời kì đổi mới, người đọc còn nhớ tới một loạt tên tuổi như Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh, Nguyễn Quang Lập với Một giờ trước lúc rạng sáng, Những mảnh đời đen trắng, Nhật Tuấn với Đi về cõi hoang dã, Dương Hướng với Bến không chồng, Nguyễn Khắc Trường, Tạ Duy Anh,… Sáng tác của họ đã tạo nên diện mạo vừa độc đáo, vừa đa dạng của nền văn xuôi thời kì đổi mới. 12 download by : skknchat@gmail.com Giai đoạn từ 1992 đến nay. Trong vòng mười năm trở lại đây vẫn tiếp tục có những tên tuổi mới xuất hiện. Thỉnh thoảng các nhà văn vẫn cho ra đời những tác phẩm văn xuôi ít nhiều gây được tiếng vang như Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Cơ hội của chúa của Nguyễn Việt Hà, Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, Bức thư gửi mẹ Âu Cơ của Y Ban.v Bên cạnh sự làm mới mình của các nhà văn lão thành là sự xuất hiện của nhiều cây bút mới làm thay đổi hẳn diện mạo của văn xuôi đương đại.
Văn xuôi Y Ban được bạn đọc mến mộ.Trên đà đổi mới đó sang đầu những năm 2000, văn xuôi đương đại lại có những chuyển động mới ngoạn mục với những gương mặt đa dạng và độc đáo làm chấn động văn đàn: Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Danh Lam… Dù chưa thật hoàn mĩ nhưng những chuyển động của văn xuôi ở đầu thế kỉ 21 đã thực sự trưởng thành và hứa hẹn những thành tựu lớn. Sau khi đã nhìn khái quát tình hình văn xuôi sau 1975 đến nay, có thể nêu lên một số đặc điểm để thấy rõ hơn bước phát triển của văn xuôi thời kì đổi mới. Cần khẳng định văn xuôi thời kì đổi mới đã có những bước phát triển mạnh mẽ và sự phát triển này không chỉ ở đội ngũ sáng tác ngày càng đông đảo, ngày càng nhiều tác phẩm mới ra đời mà cái quan trọng hơn, sự phát triển của văn xuôi được ghi nhận ở việc đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, đổi mới tư duy nghệ thuật, đổi mới hệ đề tài và phương thức thể hiện. Trước hết có thể thấy rõ sự phát triển của văn xuôi trên bình diện tư duy nghệ thuật.
Văn xuôi sau 1975 đã chuyển dần từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết. Sự phân biệt giữa tư duy tiểu thuyết và tư duy sử thi về đặc trưng thể loại không nhằm phân biệt thang bậc giá trị. Có những vấn đề đề tài khi tiếp cận bằng tư duy sử thi lại thành công hơn tư duy tiểu thuyết và ngược lại. Vấn đề là sự phù hợp giữa mối tương quan đề tài với nội dung thể loại.
Văn xuôi giai đoạn trước 1975 chủ yếu là văn xuôi sử thi. Với hiện thực giai đoạn này thì sự tiếp cận này là hoàn toàn phù hợp với đối tượng mà nó phản ánh, 13 download by : skknchat@gmail.com cảm hứng mà nó bộc lộ. Sự tiếp cận bằng cảm hứng sử thi giai đoạn này cũng đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị, chứ không phải “ca ngợi một chiều”, đơn điệu, tẻ nhạt như xu hướng muốn phủ sạch trơn của văn xuôi sử thi. Sau 1975 hiện thực đời sống đã thay đổi rất lớn, cần có cách tiếp cận phù hợp.
Điều đó đòi hỏi đổi mới tư duy nghệ thuật. Qúa trình đổi mới đã diễn ra đầy khó khăn và thử thách. Tư duy nghệ thuật chuyển dần từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết là phù hợp với đối tượng phản ánh và cũng là một quá trình tất yếu trong sự chuyển đổi của văn học. Có thể thấy quá trình chuyển biến này trong cả lớp nhà văn lão thành, cũng như lớp nhà văn mới, xuất hiện trong thời kì này.
Những tác phẩm như Tâm tưởng của Bùi Hiển, Gió từ miền cát của Xuân Thiều, Sống với thời gian hai chiều của Vũ Tú Nam… đã thấy cách tiếp cận đời sống khác trước. Ở đây không chỉ ca ngợi chiêm bái mà còn là sự phân tích tâm lí, lí giải các hiện tượng của hiện thực đời sống. Nếu trước đây chủ yếu là cách nhìn đơn điệu, đơn tuyến … thì bây giờ là cách nhìn nhiều chiều, đa diện và sâu sắc hơn. Đến Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu và nhất là lớp nhà văn trẻ trưởng thành sau 1975, cách nhìn tiểu thuyết mới thật sự đổi mới trong việc nắm bắt và lí giải hiện thực, nhà văn không chỉ là một người thư kí phản ánh, tái hiện hiện thực một cách trung thành mà nhà văn bây giờ trở thành nhà tư tưởng, nhà tiên tri… Trong tiến trình đổi mới văn xuôi Nguyễn Minh Châu là người lính tiên phong.
Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu xuất hiện sau 1987 đã tạo tranh luận học thuật lớn, nhất là sau khi ông công bố bài tiểu luận “ Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn học minh họa”. Nhiều ý kiến cho rằng ông đã “xa đề tài trung tâm”, “chủ đề không rõ ràng”, rằng nhân vật của ông là “dị thường”, “không có trong hiện thực”,… Đó là vì Nguyễn Minh Châu đã tiếp cận hiện thực từ một điểm nhìn khác, cách nhìn tiểu thuyết nghiêng vào khía cạnh đời tư, khía cạnh đời sống cá nhân phức tạp, từ đó khái quát lên những vấn đề có ý nghĩa nhân sinh rộng lớn. Tính nhiều chiều trong cách nhìn hiện 14 download by : skknchat@gmail.com thực ở truyện ngắn Nguyễn Minh Châu đã làm cho truyện ngắn của ông có chiều sâu và giàu chất triết lí. Ví như một chiếc thuyền ngoài xa là đề tài quen thuộc về ngư phủ trong sương, nhưng đằng sau cái vẻ đẹp thơ mộng,lấp lánh ấy lại ẩn chứa nỗi đau về số phận con người, biết bao cay đắng nhọc nhằn, chịu đựng, quên mình mà vẫn phải chấp nhận ( Chiếc thuyền ngoài xa).
Hay bức tranh chân dung người chiến sĩ có thể làm cho họa sĩ đoạt giải quốc tế, nhưng cũng có thể vì nó mà bao bà mẹ đã trở thành mù lòa vì khóc con.Và đó cũng là nỗi ân hận, day dứt suốt đời của người họa sĩ đã từng đoạt giải quốc tế. Thì ra đằng sau chân dung người chiến thắng là cả nỗi đau vô cùng lớn của bà mẹ chiến sĩ (Bức tranh). Tính nhiều chiều trong cách nhìn hiện thực của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu đã làm cho truyện ngắn của ông có chiều sâu và đậm chất triết lí. Sự ra đi của Nguyễn Minh Châu đúng vào lúc ông đang đổi mới quyết liệt là một tổn thất lớn của nền văn xuôi Việt Nam.
Thời xa vắng của Lê Lựu trở thành một hiện tượng văn học, bởi trước tiên là vấn đề tác phẩm nêu ra: nhận thức lại một thời mới đây thôi mà tưởng như xa vắng từ thuở nào. Đó là cái thời con người chỉ có lạc quan, chỉ là anh hùng mà không được nhắc đến bi kịch, nỗi đau riêng tư. Nhưng Lê Lựu đã chỉ ra khía cạnh ấy.