Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Trung Đông là một không gian địa chính trị - văn hóa đặc biệt quan trọng với diện tích hơn 13 triệu km², trải dài qua 22 quốc gia và là nơi sinh sống của hơn 1,6 tỷ tín đồ Hồi giáo, chiếm khoảng 23% dân số thế giới. Mặc dù mối quan hệ ngoại giao và hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và các quốc gia Trung Đông đã đạt nhiều bước phát triển vượt bậc, sự hiểu biết học thuật về diện mạo văn hóa và văn học dân gian khu vực này tại Việt Nam vẫn còn nhiều khoảng trống. Trong nhiều thập kỷ qua, ước tính có hơn 90% các công trình nghiên cứu và tài liệu dịch thuật văn học Ả Rập tại Việt Nam chỉ tập trung khai thác tác phẩm kinh điển "Nghìn lẻ một đêm", khiến bức tranh toàn cảnh về kho tàng folklore Ả Rập chưa được phản ánh đầy đủ.

Đề tài "Truyện Juha trong văn học các nước Trung Đông" của học viên Phan Thị Thu Phương, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Ngô Văn Doanh tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, giải quyết trực tiếp vấn đề thiếu hụt nguồn tư liệu nghiên cứu bản ngữ. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn bao gồm: xác định nguồn gốc lịch sử và địa - văn hóa của nhân vật Juha; giải mã hệ thống thi pháp thể loại thông qua kết cấu chuỗi truyện, motif tự sự và nghệ thuật gây cười; đồng thời phân tích quá trình lan tỏa, tiếp biến văn học của hình tượng Juha sang các nền văn học Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư.

Phạm vi nghiên cứu bao quát tiến trình lịch sử từ thế kỷ thứ VII (thời kỳ sơ kỳ Hồi giáo) cho đến văn học hiện đại thế kỷ XX và XXI, tập trung khảo sát văn bản tiếng Ả Rập nguyên bản. Công trình mang ý nghĩa học thuật tiên phong khi tiến hành dịch thuật trực tiếp 18 tiểu truyện tiêu biểu và xử lý thống kê loại hình trên 182 câu chuyện dân gian, tạo lập hệ thống dữ liệu tham chiếu khoa học đầu tiên về truyện cười Trung Đông trong môi trường học thuật Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống nền tảng dựa trên ba lý thuyết học thuật cốt lõi:

Thứ nhất là lý thuyết Folklore học hiện đại khởi xướng từ thế kỷ XIX bởi William J. Thoms, kết hợp quan điểm nghiên cứu văn học dân gian của giới học thuật Việt Nam, xem tác phẩm folklore là một chỉnh thể nghệ thuật ngôn từ gắn bó hữu cơ với môi trường diễn xướng và đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng cư dân.

Thứ hai là lý thuyết Motif và Type truyện dân gian theo trường phái Địa lý - Lịch sử của phương Tây (hệ thống phân loại Aarne-Thompson-Uther) và quan điểm ngữ văn học của Alexander Veselovsky. Trong đó, motif được xác định là đơn vị trần thuật nhỏ nhất có tính bền vững, mang ý nghĩa biểu đạt nội dung và có khả năng liên kết linh hoạt để hình thành các chuỗi cốt truyện độc lập.

Thứ ba là lý thuyết tiếp biến và so sánh văn học nhằm làm sáng tỏ các mối quan hệ ảnh hưởng, vay mượn và biến đổi hình tượng xuyên quốc gia giữa các nền văn hóa Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư. Bên cạnh đó, luận văn làm rõ 4 khái niệm chuyên ngành then chốt: Thể loại Giai thoại (Anekdotos - truyện kể trần thuật ngắn gọn mang tính hài hước và triết lý), Khái niệm Adab (chuẩn mực đạo đức, ứng xử và văn học trong thế giới Hồi giáo), Khái niệm Type truyện và Cấu trúc liên hoàn trong văn học dân gian.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, tác giả xây dựng nguồn ngữ liệu nghiên cứu bao gồm 182 tiểu truyện giai thoại từ tập tư liệu nguyên bản tiếng Ả Rập của tác giả Khalil Hana Tadris xuất bản năm 2005, kết hợp các công trình khảo cứu lịch sử của Ibn Shakir Alkutba, Mohammed Rajab Alnajar (1978) và Abas Mahmud Al Aqad (2013). Cỡ mẫu khảo sát chuyên sâu bao gồm 18 tiểu truyện hoàn chỉnh đại diện cho đầy đủ các nhóm đề tài, được dịch trực tiếp sang tiếng Việt.

Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling), ưu tiên lựa chọn các văn bản xuất hiện với tần suất cao trong lịch sử lưu truyền dân gian và chứa đựng rõ nét các đặc trưng thi pháp của từng motif truyện. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích nội dung kết hợp phân loại thống kê hình thức là vì phương pháp này cho phép định lượng hóa đặc điểm cấu trúc văn bản, đo lường tỷ lệ các dạng nhan đề và phân loại chính xác các tầng nghĩa biểu trưng.

Ngoài ra, luận văn vận dụng phương pháp so sánh văn học đối chiếu xuyên văn hóa, phương pháp lịch sử tái hiện tiến trình biến đổi từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XVI, và phương pháp liên ngành văn hóa học - tôn giáo học. Toàn bộ quy trình nghiên cứu được triển khai liên tục và hoàn thiện trong mốc thời gian 24 tháng của khóa đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Châu Á học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát văn bản và phân tích đối sánh đã mang lại 4 phát hiện học thuật mang tính đột phá:

Thứ nhất, về nguồn gốc nhân vật, nghiên cứu khẳng định hình tượng Juha khởi nguồn từ một nhân vật lịch sử có thật tại bán đảo Ả Rập tên là Abou Al Ghason Dagaim Bin Thabit Al Yarboey Al Basry Al Fazaary, sinh sống trong khoảng từ năm 60 đến năm 160 theo lịch Hồi giáo (tương đương năm 680 đến 777 sau Công nguyên). Sau thế kỷ thứ X, hệ thống giai thoại này lan truyền bằng hình thức truyền miệng và đến thế kỷ XVI, dưới thời kỳ Đế quốc Ottoman kiểm soát vùng đất Ả Rập, câu chuyện đã du nhập sang Thổ Nhĩ Kỳ phát triển thành nhân vật Nasruddin Hoja (1209-1285) và lan sang Ba Tư thành Mullah Nasruddin.

Thứ hai, nghiên cứu xác lập 4 motif tự sự đặc trưng cấu thành diện mạo truyện Juha bao gồm: Motif người tài trí mưu mẹo (chiếm tỷ lệ nổi bật trong các câu chuyện đấu trí xã hội), Motif kẻ ngốc nghếch ngờ nghệch (chiếm khoảng 35% trong các khảo sát tiếng cười giải trí), Motif bài học ngụ ngôn triết lý (như truyện Juha cõng lừa qua miệng lưỡi thế gian) và Motif quan tòa xử án công minh bảo vệ người yếu thế.

Thứ ba, phân tích thống kê trên tập hợp 182 truyện giai thoại của Khalil Hana Tadris cho thấy tính cô đọng đặc thù của nhan đề: có tới 140 truyện (chiếm 76,9%) sở hữu nhan đề ngắn gọn từ 1 đến 3 từ; 42 truyện (chiếm 23,1%) có độ dài trên 3 từ. Đồng thời, có 57 truyện (chiếm 31,3%) xuất hiện trực tiếp định danh Juha ngay ở tiêu đề và 15 truyện (chiếm 8,2%) được cấu trúc dưới dạng câu hỏi gợi mở nút thắt tình huống.

Thứ tư, tính lưỡng diện trong chức năng xã hội của tác phẩm được làm sáng tỏ: Juha không đơn thuần là nhân vật gây cười mà là vũ khí phê phán chính trị sắc bén chống lại ách cai trị bạo quyền (như phê phán hoàng đế Tamerlane thế kỷ XIV), công cụ phản kháng thực dân (như tác phẩm Bột thông minh năm 1959 tại Algérie hay Cái móng của Juha năm 1951 tại Ai Cập) và tiếng nói châm biếm sâu cay những thói hư tật xấu trong đời sống xã hội thường nhật.

Thảo luận kết quả

Sự tồn tại song song của hai trạng thái tính cách đối lập - cực kỳ thông minh sắc sảo và vô cùng ngốc nghếch khờ khạo - trong cùng một nhân vật Juha phản ánh cơ chế tự vệ tâm lý và phản kháng văn hóa của tầng lớp bình dân Ả Rập trước thể chế độc đoán và tôn ti trật tự phong kiến. Đúng như nhận định của học giả Brookshaw, trong không gian văn hóa Hồi giáo, sự hài hước đóng vai trò như một hệ thống kiểm soát và cân bằng thiết yếu đối với các chuẩn mực cộng đồng.

Khi so sánh với các nghiên cứu quốc tế của Dwight F. Reynolds (2007) hay Maman Lesmana (2014), kết quả của luận văn đã bổ sung một góc nhìn phân tích thi pháp học cấu trúc rõ ràng và hệ thống hóa bằng tiếng Việt. Các phát hiện về cấu trúc cốt truyện và tương quan nhân vật có thể được mô hình hóa trực quan qua bảng ma trận so sánh 3 biến thể Juha - Hoja - Mullah (về niên đại, không gian văn hóa, trang phục, vật nuôi đồng hành và tính chất tiếng cười) cùng biểu đồ phân bố tần suất 4 nhóm motif tự sự.

Việc phân tích các chi tiết thực phẩm (thịt cừu, quả sung, quả lựu, bánh mì) còn chứng minh mối liên kết chặt chẽ giữa nghi thức ăn uống và chuẩn mực đạo đức Hồi giáo, phản ánh trực tiếp nguyên tắc Zakah (bố thí) và lòng hiếu khách đặc trưng của cư dân sa mạc.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu toàn diện của luận văn, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính ứng dụng học thuật và thực tiễn cao:

  1. Xuất bản ấn phẩm Tuyển tập 100 truyện cười Juha dịch nguyên bản tiếng Ả Rập: Đẩy mạnh biên dịch có chú giải học thuật và xuất bản 01 ấn bản chuyên khảo khoảng 250 trang trong giai đoạn 2024-2025, do Khoa Đông phương học phối hợp với Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì thực hiện.
  2. Tích hợp chuyên đề Văn học dân gian Trung Đông vào chương trình đào tạo đại học và sau đại học: Thiết kế học phần chuyên khảo từ 30 đến 45 tiết chuẩn trong khung chương trình Cử nhân và Thạc sĩ ngành Châu Á học, Đông phương học từ năm học 2024-2026, do Bộ môn Ả Rập học phụ trách giảng dạy.
  3. Xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa liên văn hóa so sánh Folklore Việt Nam - Trung Đông: Thực hiện số hóa và đối chiếu 500 motif tự sự tương đồng giữa nhân vật dân gian Việt Nam (như Trạng Quỳnh, Ba Phi) và Trung Đông (Juha, Nasruddin) trong thời hạn 18 tháng, do nhóm nghiên cứu liên ngành văn học dân gian đảm trách.
  4. Mở rộng quỹ tài trợ học thuật và hợp tác nghiên cứu quốc tế về văn hóa Ả Rập: Thiết lập quan hệ đối tác với ít nhất 3 viện nghiên cứu tại Ai Cập, Jordan và UAE nhằm trao đổi học giả, cấp 5 suất học bổng nghiên cứu dịch thuật tư liệu Hồi giáo mỗi năm, dưới sự hỗ trợ điều phối của Bộ Ngoại giao và Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu này cung cấp giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn vượt trội cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Giảng viên và nghiên cứu viên ngành Đông phương học, Châu Á học, Văn học so sánh: Tài liệu cung cấp khung lý thuyết thể loại, phương pháp tiếp cận văn bản Ả Rập học và hệ thống luận điểm vững chắc phục vụ công tác nghiên cứu chuyên sâu về folklore thế giới Hồi giáo.
  2. Học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn: Nguồn tham khảo chuẩn mực về cấu trúc một luận văn thạc sĩ khu vực học, kỹ năng xử lý tư liệu ngoại văn hiếm và phương pháp phân loại motif tự sự dân gian.
  3. Dịch giả, biên tập viên và các nhà xuất bản sách quốc tế: Cẩm nang thuật ngữ văn hóa Hồi giáo (như Adab, Zakah, Ramadan, Halal) cùng bản dịch 18 câu chuyện mẫu làm tư liệu nền tảng để phát triển các dự án xuất bản văn học Trung Đông tại thị trường Việt Nam.
  4. Cán bộ ngoại giao, chuyên viên quan hệ quốc tế và doanh nhân hợp tác với khu vực Ả Rập: Khóa luận cung cấp tri thức nền tảng giúp thấu hiểu tâm lý cộng đồng, khiếu hài hước, triết lý sống và văn hóa ứng xử của cư dân bản địa, từ đó nâng cao hiệu quả đàm phán và giao tiếp đa văn hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Nhân vật Juha trong văn học dân gian Ả Rập có phải là một nhân vật có thật trong lịch sử hay không?

Các tài liệu lịch sử tiếng Ả Rập từ thế kỷ thứ X của Ibn Shakir Alkutba và Mohammed Rajab Alnajar đã xác nhận Juha là nhân vật lịch sử có thật tên là Abou Al Ghason Dagaim Bin Thabit, sinh sống vào thế kỷ thứ I và II Hồi lịch (thế kỷ thứ VIII sau Công nguyên) tại bộ lạc Fazarah thuộc Ả Rập, trước khi trở thành hình tượng văn học dân gian hư cấu.

2. Mối quan hệ giữa nhân vật Juha của thế giới Ả Rập và Nasruddin Hoja của Thổ Nhĩ Kỳ là gì?

Juha là hình tượng gốc ra đời sớm hơn khoảng 5 thế kỷ. Đến thế kỷ XVI, khi Đế quốc Ottoman chiếm lĩnh không gian Ả Rập, các giai thoại truyền miệng về Juha đã được tích hợp và dung hợp vào nhân vật lịch sử Nasruddin Hoja (1209-1285) tại Thổ Nhĩ Kỳ, tạo nên một dị bản mang đậm dấu ấn văn hóa Anatolia.

3. Tại sao Juha lúc thì xuất hiện như một kẻ ngốc nghếch, lúc lại là một bậc hiền triết tài trí?

Sự lưỡng diện tính cách này là thủ pháp nghệ thuật điển hình của truyện tiếu lâm dân gian. Vai diễn ngốc nghếch nhằm mục đích giải trí và chế giễu những thói hư tật xấu, trong khi vai diễn tài trí là công cụ đấu tranh chính trị, phê phán bất công xã hội và đại diện cho ước vọng công lý của tầng lớp bình dân.

4. Yếu tố tôn giáo và ẩm thực thể hiện như thế nào trong chuỗi truyện Juha?

Khoảng 40% truyện Juha lồng ghép các yếu tố đạo đức Islam giáo thông qua các hình ảnh ẩm thực như chia bánh mì, biếu tặng thịt cừu hay quả sung. Những chi tiết này phản ánh trực tiếp tinh thần sẻ chia lương thực, nghĩa vụ bố thí Zakah và lòng hiếu khách được quy định nghiêm ngặt trong Kinh Qur'an.

5. Luận văn này mang lại đóng góp mới nào cho giới nghiên cứu văn học tại Việt Nam?

Luận văn là công trình học thuật đầu tiên tại Việt Nam giải mã toàn diện thi pháp truyện cười Trung Đông từ nguồn ngữ liệu tiếng Ả Rập nguyên bản, cung cấp bản dịch học thuật cho 18 truyện kinh điển và phân tích định lượng trên 182 tác phẩm, phá vỡ thế độc tôn của mảng nghiên cứu "Nghìn lẻ một đêm".

Kết luận

  • Luận văn đã phục dựng thành công cội nguồn lịch sử của nhân vật Juha từ thế kỷ thứ VIII tại Ả Rập và lộ trình tiếp biến văn hóa xuyên quốc gia sang Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư.
  • Công trình giải mã xuất sắc 4 motif tự sự cốt lõi và làm sáng tỏ kết cấu chuỗi truyện liên hoàn độc đáo của thể loại giai thoại văn học dân gian Trung Đông.
  • Nghiên cứu đã thực hiện phân tích định lượng chuẩn xác trên 182 câu chuyện nguyên bản, chỉ ra các đặc trưng nổi bật về độ dài nhan đề và kỹ thuật xây dựng tiếng cười châm biếm.
  • Hệ thống hóa các giá trị tư tưởng của truyện Juha trong vai trò phản kháng chính trị, điều chỉnh đạo đức xã hội và phản ánh nhân sinh quan Hồi giáo sâu sắc.
  • Mở ra hướng nghiên cứu so sánh liên văn hóa giàu tiềm năng giữa truyện cười dân gian phương Đông, đặc biệt là sự tương đồng giữa tiếu lâm Việt Nam và văn học Ả Rập.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đặt viên gạch học thuật chính quy đầu tiên cho việc nghiên cứu và giảng dạy truyện dân gian Ả Rập tại Việt Nam. Lộ trình phát triển tiếp theo cần tập trung số hóa dữ liệu so sánh trong vòng 12 đến 24 tháng tới. Quý độc giả, nhà nghiên cứu và học viên quan tâm có thể khai thác trực tiếp toàn văn công trình tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội để mở rộng các hướng tiếp cận học thuật chuyên sâu.