Tài liệu Y tế: Trương minh quang phân tích kết quả đấu thầu thuốc tại sở y

Luận văn phân tích kết quả đấu thầu thuốc tại Sở Y tế TP.HCM năm 2016, nghiên cứu chuyên sâu về quản lý dược, đánh giá quy trình đấu thầu.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2019

74
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Trương Minh Quang phân tích kết quả đấu thầu

Trương Minh Quang phân tích kết quả đấu thầu thuốc là một luận văn chuyên khoa cấp I được thực hiện tại Trường Đại học Dược Hà Nội năm 2019. Đề tài nghiên cứu tập trung vào phân tích chi tiết kết quả đấu thầu thuốc tại Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016. Luận văn này được hướng dẫn bởi GS. Nguyễn Thanh Bình, chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực tổ chức quản lý dược. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả của quy trình đấu thầu thuốc, từ đó đưa ra những kiến nghị cải thiện hệ thống lựa chọn nhà thầu và quản lý cung ứng thuốc cho các bệnh viện. Thời gian thực hiện từ tháng 6/2018 đến tháng 10/2018, tạo nên một công trình nghiên cứu toàn diện về thực trạng đấu thầu thuốc ở khu vực phía Nam.

1.1. Khái niệm và phương thức đấu thầu

Đấu thầu thuốc là quá trình lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc thông qua các hình thức và phương thức khác nhau. Các hình thức lựa chọn nhà thầu bao gồm: đấu thầu cạnh tranh, đấu thầu hạn chế, đàm phán, mua trực tiếp. Phương thức tổ chức có thể là đấu thầu tập trung (ĐTTT) hoặc đấu thầu phân tán tại các cơ sở y tế. Quy trình đấu thầu được thực hiện nghiêm ngặt theo quy định pháp luật để đảm bảo tính công bằng, minh bạch và hiệu quả chi tiêu.

1.2. Chuyên ngành và mục tiêu nghiên cứu

Luận văn của Trương Minh Quang thuộc chuyên ngành Tổ chức quản lý dược với mã số CK 60 72 04 12. Mục tiêu chính là phân tích kết quả đấu thầu thuốc tại Sở Y tế TP HCM, đánh giá cơ cấu trúng thầu theo gói thuốc, nguồn gốc xuất xứ và nhà thầu. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng phân tích thực hiện hợp đồng tại các bệnh viện, tỷ lệ sử dụng thuốc trúng thầu theo hạng bệnh viện và các vấn đề thực tế trong quản lý cung ứng.

II. Cơ cấu trúng thầu và phân loại thuốc

Kết quả phân tích kết quả đấu thầu của Trương Minh Quang cho thấy cơ cấu trúng thầu được chia thành hai gói chính: gói Biệt dược và gói Generic. Cơ cấu thuốc trúng thầu phản ánh đa dạng nguồn gốc xuất xứ, bao gồm thuốc nhập khẩu từ các nước phát triển và thuốc sản xuất trong nước. Phân tích theo nhà thầu cho thấy sự tập trung và cạnh tranh trong thị trường cung ứng thuốc. Xếp hạng giá trị trúng thầu của các nhà thầu hàng đầu phản ánh vị thế và năng lực cung ứng của họ trên thị trường đấu thầu thuốc. Đây là những thông tin quan trọng để đánh giá hiệu quả của quy trình đấu thầu và tính cạnh tranh của thị trường cung ứng.

2.1. Cơ cấu trúng thầu theo gói thầu

Cơ cấu trúng thầu được chia làm hai gói chính: gói Biệt dược (Original Branded) và gói Generic (thuốc thuần chất). Gói Biệt dược gồm các thuốc có bằng sáng chế, được sản xuất bởi các nhà sản xuất gốc hoặc nhà sản xuất có giấy phép. Gói Generic bao gồm các thuốc hết bằng sáng chế, được sản xuất bởi nhiều nhà sản xuất khác nhau. Phân tích kết quả đấu thầu cho thấy sự phân bổ giữa hai gói này phụ thuộc vào nhu cầu của các bệnh viện và chính sách của cơ quan quản lý.

2.2. Phân loại thuốc theo nguồn gốc xuất xứ

Thuốc trúng thầu được phân loại thành thuốc nhập khẩu và thuốc sản xuất trong nước. Thuốc nhập khẩu bao gồm các sản phẩm từ các nước phát triển, các quốc gia ASEAN và các nước khác. Thuốc sản xuất trong nước do các nhà sản xuất Việt Nam cung cấp, thường có giá cạnh tranh. Phân tích cơ cấu theo nguồn gốc giúp đánh giá sự phụ thuộc vào nhập khẩu và khả năng sản xuất trong nước của ngành dược phẩm Việt Nam.

III. Phân tích thực hiện hợp đồng tại các bệnh viện

Phân tích kết quả thực hiện hợp đồng tại các bệnh viện thuộc Sở Y tế TP HCM là phần quan trọng của luận văn. Trương Minh Quang đã phân tích tỷ lệ sử dụng thuốc trúng thầu theo từng hạng bệnh viện, từ bệnh viện hạng I đến hạng III. Kết quả cho thấy tỷ lệ sử dụng thuốc trúng thầu có sự chênh lệch đáng kể giữa các loại bệnh viện và từng cơ sở. Một số thuốc có tỷ lệ sử dụng cao hơn số lượng dự trù, trong khi một số thuốc khác lại có tỷ lệ sử dụng thấp hơn. Điều này phản ánh nhu cầu thực tế khác với dự trù ban đầu, yêu cầu cải thiện hệ thống dự báo nhu cầu và quản lý tồn kho thuốc.

3.1. Tỷ lệ sử dụng thuốc theo hạng bệnh viện

Tỷ lệ sử dụng thuốc trúng thầu khác nhau tùy theo hạng bệnh viện. Bệnh viện hạng I (tuyến cuối) có tỷ lệ sử dụng cao hơn vì thường điều trị bệnh nhân nặng, phức tạp. Bệnh viện hạng II (tuyến giữa) có tỷ lệ trung bình. Bệnh viện hạng III (tuyến cơ sở) có tỷ lệ thấp hơn do quy mô bệnh nhân nhỏ. Phân tích theo hạng bệnh viện giúp hiểu rõ nhu cầu sử dụng thuốc và tính hiệu quả của quy trình phân bổ thuốc.

3.2. Thuốc sử dụng vượt và thiếu dự trù

Một số thuốc có tỷ lệ sử dụng cao hơn số lượng dự trù, cho thấy nhu cầu thực tế cao hơn dự kiến. Các thuốc này thường là thuốc thiết yếu, được sử dụng rộng rãi. Ngược lại, một số thuốc có tỷ lệ sử dụng thấp hơn dự trù, có thể do không phù hợp với điều kiện bệnh địa phương hoặc các lý do khác. Phân tích chi tiết này giúp cải thiện kế hoạch dự trù nhu cầu trong các đợt đấu thầu tiếp theo.

IV. Kết luận và kiến nghị cải thiện

Luận văn của Trương Minh Quang rút ra nhiều kết luận quan trọng về hiệu quả của đấu thầu thuốc tại Sở Y tế TP HCM năm 2016. Phân tích danh mục thuốc trúng thầu cho thấy cơ cấu hợp lý giữa các gói thầu và nguồn gốc xuất xứ. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số hạn chế trong thực hiện hợp đồng tại các bệnh viện. Trương Minh Quang đã đề xuất các kiến nghị nhằm cải thiện hệ thống, bao gồm: hoàn thiện quy trình dự báo nhu cầu, tăng cường giám sát sử dụng thuốc, nâng cao năng lực quản lý cung ứng thuốc. Các kiến nghị này có ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao hiệu quả của quản lý đấu thầu thuốc ở các cơ sở y tế.

4.1. Kết luận về cơ cấu danh mục thuốc

Phân tích danh mục thuốc trúng thầu cho thấy cơ cấu tương đối hợp lý giữa gói Biệt dược và Generic. Sự phân bổ theo nguồn gốc xuất xứ phản ánh sự cân bằng giữa thuốc nhập khẩu chất lượng cao và thuốc sản xuất trong nước có giá hợp lý. Xếp hạng nhà thầu theo giá trị trúng thầu cho thấy sự tập trung ở một số nhà thầu lớn. Nhìn chung, cơ cấu đấu thầu năm 2016 đã đáp ứng được nhu cầu của các bệnh viện.

4.2. Kiến nghị hoàn thiện hệ thống

Luận văn đề xuất các kiến nghị cải thiện hệ thống đấu thầu thuốc, bao gồm: cải tiến phương pháp dự báo nhu cầu thuốc dựa trên dữ liệu sử dụng thực tế; tăng cường giám sát và đánh giá hiệu quả hợp đồng; nâng cao năng lực quản lý cung ứng; phát triển hệ thống thông tin để theo dõi tỷ lệ sử dụng thuốc. Các kiến nghị này nhằm tối ưu hóa quản lý đấu thầu và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẤU THẦU THUỐC 1. Khái niệm về đấu thầu Luật đấu thầu số 43 định nghĩa: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở đảm bảo cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”[18]. Thuốc là một hàng hóa đặc biệt có liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người nên cần một hệ thống các văn bản quy định chặt chẽ để đảm bảo hiệu quả sử dụng thuốc an toàn trong khám và điều trị cho người bệnh.

Đấu thầu thuốc hiện nay được các cơ sở y tế thực hiện dựa trên các văn bản luật, thông tư và nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn đầy đủ về đấu thầu thuốc do Bộ Y tế ban hành và liên tục sửa đổi. Đấu thầu nói chung và đấu thầu thuốc nói riêng là một lĩnh vực mới, nên trên cơ sở tham khảo các quy định theo thông lệ chung của Quốc tế và thực tiễn quản lý của Việt Nam chúng ta vừa thực hiện vừa phải nghiên cứu ban hành và chỉnh sửa các qui định về đấu thầu để ngày càng hoàn thiện và sát thực hơn. Về thực chất, đấu thầu thuốc là một trường hợp đặc biết của đấu thầu mua bán hàng hóa, trong đó bên mua là các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và bên bán là các cơ sở cung ứng thuốc (cung ứng dược phẩm). Sau khi Luật đấu thầu số 43 và Nghị định 63 ra đời, nhiều địa phương trên cả nước đã dễ dàng hơn trong việc lựa chọn nhà thầu, tiếp đó Bộ Y tế ban hành các Thông tư hướng dẫn việc đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế với những quy định cụ thể về quy trình đấu thầu mua thuốc, xây dựng kế hoạch đấu thầu và xét duyệt trúng thầu thuốc tại các cơ sở y tế như Thông tư hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế thông qua Thông tư số 01 3 và Thông tư số 36 với những quy định cụ thể về quy trình đấu thầu thuốc, xây dựng kế hoạch đấu thầu và xét duyệt trúng thầu thuốc tại các cơ sở y tế [2][3].

Các qui định trong Thông tư số 01 về hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế và Thông tư liên tịch số 36 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 01 cũng mang đến những đổi mới trong công tác đấu thầu mua sắm thuốc tại các đơn vị y tế. Đặc biệt, các qui định về phân nhóm thuốc đấu thầu, cụ thể là: tại điều 7 về phân chia gói thầu của Thông tư số 36, thuốc đấu thầu được chia làm 3 gói: gói thầu thuốc theo tên biệt dược, gói thầu thuốc theo tên generic và gói thuốc đông y, thuốc từ dược liệu. Thuốc biệt dược gốc: là thuốc được cấp phép lưu hành lần đầu tiên, trên cơ sở đã có đầy đủ các số liệu về chất lượng, an toàn và hiệu quả. Thuốc generic: là thuốc thành phẩm nhằm thay thế một thuốc phát minh được sản xuất không có giấy phép nhượng quyền của công ty phát minh và được đưa ra thị trường sau khi bằng phát minh và các độc quyền đã hết hạn [2][17].

Trong đó, gói thầu thuốc theo tên generic được chia thành 5 nhóm, tương ứng với 5 nhóm tiêu chuẩn của nhà sản xuất như sau: a) Nhóm 1: - Thuốc sản xuất tại cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn EU-GMP hoặc PIC/sGMP thuộc nước tham gia ICH; - Thuốc sản xuất tại cơ sở sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn WHO-GMP do Bộ Y tế Việt Nam (Cục Quản lý dược) cấp giấy chứng nhận và được cơ quan quản lý có thẩm quyền của nước tham gia ICH cấp phép lưu hành. Cơ sở sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn EU-GMP hoặc PIC/s-GMP là cơ sở sản xuất thuốc được cơ quan quản lý có thẩm quyền của nước tham gia Cơ quan quản lí dược Châu Âu (EMA) hoặc nước tham gia Hội nghị quốc tế về hài hòa hóa các thủ tục đăng kí dược phẩm sử dụng cho con người (ICH) hoặc nước tham gia hệ thống hợp tác về thanh tra dược phẩm (PIC/s) cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn EU-GMP hoặc PIC/s-GMP hoặc tương đương. 4 b) Nhóm 2: - Thuốc sản xuất tại cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn EU-GMP hoặc PIC/sGMP nhưng không thuộc nước tham gia ICH; - Thuốc nhượng quyền từ cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn EU-GMP hoặc PIC/s-GMP thuộc các nước tham gia ICH và được sản xuất tại cơ sở sản xuất thuốc Bộ Y tế Việt Nam (Cục Quản lý dược) cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn WHO-GMP. c) Nhóm 3: thuốc sản xuất tại cơ sở sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn WHO-GMP được Bộ Y tế Việt Nam (Cục Quản lý dược) cấp giấy chứng nhận.

d) Nhóm 4: thuốc có chứng minh tương đương sinh học do Bộ Y tế công bố. Tương đương sinh học: Hai thuốc được coi là tương đương sinh học nếu chúng là những thuốc tương đương bào chế hay là thế phẩm bào chế và sinh khả dụng của chúng sau khi dùng cùng một mức liều trong cùng điều kiện thử nghiệm là tương tự nhau dẫn đến hiệu quả điều trị của chúng về cơ bản được coi là sẽ tương đương nhau. e) Nhóm 5: thuốc không đáp ứng tiêu chí phân nhóm quy định tại Điểm a, b, c và d. Các thuốc được đưa vào gói thầu thuốc theo tên biệt dược gồm: - Thuốc biệt dược gốc hoặc thuốc có tương đương điều trị với thuốc biệt dược gốc do Bộ Y tế công bố.

- Thuốc thuộc danh mục thuốc hiếm do Bộ Y tế ban hành. Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu được phân chia thành 2 nhóm theo tiêu chí kỹ thuật và công nghệ được cấp phép như sau: - Nhóm 1: thuốc đông y, thuốc từ dược liệu được sản xuất tại cơ sở đạt tiêu chuẩn WHO-GMP do Bộ Y tế Việt Nam (Cục Quản lý dược) cấp giấy chứng nhận. 5 - Nhóm 2: thuốc đông y, thuốc từ dược liệu được sản xuất tại cơ sở chưa được Bộ Y tế Việt Nam (Cục Quản lý dược) cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn WHO-GMP [2]. Các hình thức lựa chọn nhà thầu Có 6 hình thức lựa chọn nhà thầu bao gồm: đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh, mua sắm trực tiếp và đàm phán giá[2][3][7].

Chi tiết các hình thức được trình bày như bảng 1.Các hình thức lựa chọn nhà thầu Hình thức STT lựa chọn Phạm vi áp dụng nhà thầu - Tất cả các cơ sở y tế đấu thầu thuốc sử dụng vốn nhà nước, nguồn quỹ bảo hiểm y tế, nguồn thu từ dịch vụ Đấu thầu khám bệnh, chữa bệnh và nguồn thu hợp pháp khác 1 của cơ sở y tế công lập. rộng rãi - Không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự - Đấu thầu hạn chế được áp dụng trong trường hợp gói thầu mua thuốc có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc thuốc Đấu thầu có tính đặc thù mà chỉ có một số nhà thầu đáp ứng 2 hạn chế được yêu cầu của gói thầu. - Áp dụng trong trường hợp đặc biệt: Mua thuốc triển khai phòng chống dịch bệnh trong trường hợp cấp Chỉ định bách, thiên tai … 3 thầu - Gói thầu có giá trị không quá 01 tỷ đồng. - Giá trị của gói thầu không quá 05 tỷ đồng; - Thuốc thuộc danh mục thuốc thiết yếu do Bộ Y tế ban Chào hàng 4 hành hoặc những thuốc thông dụng, sẵn có trên thị cạnh tranh trường với đặc tính kỹ thuật, chất lượng thuốc đã được tiêu chuẩn hóa và tương đương về chất lượng.

- Nhà thầu đã trúng thầu cung cấp thuốc thông qua đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế và đã ký hợp đồng thực hiện gói thầu trước đó; 5 Mua sắm - Gói thầu có các thuốc tương tự và quy mô nhỏ hơn 6 Hình thức STT lựa chọn Phạm vi áp dụng nhà thầu trực tiếp 130% so với gói thầu đã ký hợp đồng trước đó; - Đơn giá của các thuốc thuộc gói thầu áp dụng hình thức mua sắm trực tiếp không được vượt đơn giá của các thuốc tương ứng thuộc gói thầu đã ký hợp đồng trước đó, đồng thời phải phù hợp với giá thuốc trúng thầu được công bố tại thời điểm thương thảo hợp đồng. Áp dụng cho gói thầu mua thuốc chỉ từ một đến hai nhà sản xuất, thuốc biệt dược gốc, thuốc hiếm, thuốc 6 Đàm phán trong thời gian còn bản quyền và các trường hợp đặc giá thù. Phương thức lựa chọn nhà thầu Các phương thức lựa chọn nhà thầu bao gồm: Một giai đoạn một túi hồ sơ và một giai đoạn hai túi hồ sơ, hai giai đoạn một túi hồ sơ và hai giai đoạn hai túi hồ sơ [18][8]. Chi tiết trình bày như bảng 1.

Các phương thức lựa chọn nhà thầu Phương thức STT lựa chọn nhà Phạm vi áp dụng thầu - Gói thầu mua thuốc theo hình thức đấu thầu rộng rãi,đấu thầu hạn chế nhưng có quy mô nhỏ (giá gói thầu không quá 10 tỷ đồng). - Gói thầu mua thuốc theo hình thức chào hàng cạnh Một giai đoạn tranh. 1 một túi hồ sơ - Gói thầu mua thuốc theo hình thức mua sắm trực tiếp. - Gói thầu mua thuốc theo hình thức chỉ định thầu thôngthường.

- Gói thầu mua thuốc theo hình thức đấu thầu rộng rãi,đấu thầu hạn chế có giá trị gói thầu trên 10 tỷ Một giai đoạn đồng. 2 hai túi hồ sơ - Gói thầu mua thuốc theo hình thức đấu thầu rộng 7 rãi,đấu thầu hạn chế có giá gói thầu không quá 10 tỷ đồngnhưng thuốc đó cần được lựa chọn trên cơ sở kết hợpgiữa chất lượng và giá. Đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế cho gói thầu Hai giai đoạn 3 mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC có quy mô một túi hồ sơ lớn, phức tạp. Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế với gói thầu mua Hai giai đoạn 4 sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có kỹ thuật, công hai túi hồ sơ nghệ mới, phức tạp có tính đặc thù.

Trong giai đoạn hiện nay, đấu thầu mua thuốc được thực hiện chủ yếu theo phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ. Nhà thầu trong cùng thời điểm trước khi đóng thầu phải nộp hai túi hồ sơ: Túi HSĐXKT và Túi HSĐXTC. Chủ đầu tư/bên mời thầu đánh giá Túi HSĐXKT trước, nhà thầu nào đạt yêu cầu mới được tiếp tục đánh giá Túi HSĐXTC.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ