Tổng quan nghiên cứu
Nguồn tài nguyên cây thuốc gắn liền với kho tàng tri thức bản địa đóng vai trò cốt lõi trong hệ thống y tế cộng đồng, đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 80% dân số tại các quốc gia đang phát triển vẫn phụ thuộc chủ yếu vào nguồn dược liệu tự nhiên để chăm sóc sức khỏe ban đầu. Tại Việt Nam, báo cáo của Cục Quản lý Dược chỉ ra rằng nhu cầu tiêu thụ dược liệu nội địa đạt từ 50.000 đến 60.000 tấn mỗi năm nhằm phục vụ công nghiệp bào chế và y học cổ truyền. Tuy nhiên, áp lực khai thác quá mức cùng quá trình đô thị hóa đang đẩy nhiều loài thảo dược quý vào nguy cơ tuyệt chủng, đồng thời làm mai một nghiêm trọng các kinh nghiệm chữa bệnh dân gian.
Huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng sở hữu diện tích tự nhiên 690,79 km² với tỷ lệ che phủ của rừng và đất lâm nghiệp chiếm trên 90% diện tích canh tác toàn huyện. Nơi đây là địa bàn cư trú lâu đời của 30.850 nhân khẩu thuộc 6 cộng đồng dân tộc gồm Tày, Nùng, Mông, Dao, Kinh và Hoa. Trong đó, người Tày, Nùng và Dao nắm giữ vốn tri thức y học dân gian phong phú nhờ kinh nghiệm sống thích ứng hài hòa với môi trường tự nhiên qua hàng trăm năm. Mặc dù vậy, địa phương vẫn thiếu vắng những công trình khảo sát toàn diện và có hệ thống để định lượng giá trị nguồn tài nguyên này.
Luận văn thạc sĩ lâm nghiệp của tác giả Hà Thế Dự, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Hiền tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (năm 2020), đã giải quyết trực tiếp khoảng trống trên. Đề tài tập trung điều tra hiện trạng đa dạng thành phần loài, ghi nhận chi tiết kinh nghiệm sử dụng dược liệu của các cộng đồng dân tộc và tiến hành thử nghiệm sinh học nhằm kiểm chứng hoạt tính kháng khuẩn in vitro. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học vững chắc phục vụ việc bảo tồn nguồn gen, quy hoạch vùng dược liệu bền vững và gia tăng giá trị kinh tế lâm sản ngoài gỗ cho tỉnh Cao Bằng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh thái học nhân văn kết hợp phương pháp luận thực vật dân tộc học (Ethnobotany). Khung lý thuyết này khẳng định rằng tri thức bản địa về dược liệu là kết quả của quá trình tích lũy, thử nghiệm và truyền thừa qua nhiều thế hệ giữa con người với thảm thực vật bản địa. Nếu yếu tố tri thức bị biến mất, các loài cây thuốc sẽ chỉ còn là thực vật hoang dại phi tác dụng trong đời sống xã hội.
Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng các tiêu chuẩn phân hạng mức độ bị đe dọa sinh học theo Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam của Viện Dược liệu và khung pháp lý tại Nghị định số 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa xuyên suốt gồm: tri thức bản địa y học dân tộc, tính đa dạng bậc phân loại thực vật học, và hoạt tính kháng khuẩn thực nghiệm của các hợp chất tự nhiên.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa điều tra xã hội học thực vật dân tộc học với thực nghiệm hóa sinh hiện đại trong mốc thời gian từ tháng 6/2019 đến tháng 9/2020:
- Địa bàn và cỡ mẫu nghiên cứu: Khảo sát thực địa được triển khai tại 5 xã trọng điểm thuộc huyện Thạch An gồm Đức Thông (10 thầy thuốc), Trọng Con (14 thầy thuốc), Kim Đồng (9 thầy thuốc), Vân Trình (9 thầy thuốc) và Lê Lai (8 thầy thuốc). Tổng cỡ mẫu là 50 thầy lang, bà mế và người có uy tín được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phỏng vấn sâu. Lý do lựa chọn là nhằm tiếp cận trực tiếp những hạt nhân nắm giữ bí quyết gia truyền lâu năm trong cộng đồng người Tày, Nùng và Dao.
- Thu thập và xử lý mẫu thực vật: Áp dụng quy chuẩn điều tra thực vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (năm 1997 và 2007) với việc thu thập từ 3 đến 5 mẫu tiêu bản cho mỗi loài. Mẫu vật được xử lý sơ chế bằng cồn, ép tiêu bản giấy kích thước 28 x 42 cm và định danh khoa học dựa trên các tài liệu chuyên ngành uy tín như bộ sách Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ và Từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi.
- Kiểm chứng hoạt tính sinh học: Tiến hành tại phòng thí nghiệm chuyên sâu thuộc Khoa Công nghệ Sinh học – Trường Đại học Khoa học (Đại học Thái Nguyên). Các mẫu lá, thân, rễ của những loài cây thuốc tiêu biểu được rửa sạch, sấy khô ở nhiệt độ 90 độ C đến khối lượng không đổi, sau đó nghiền thành bột mịn và chiết xuất cao để thử nghiệm khả năng kháng chủng vi khuẩn gây bệnh tụ cầu vàng Staphylococcus aureus.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực địa đã ghi nhận kho tàng thực vật làm thuốc tại huyện Thạch An vô cùng phong phú về cấu trúc phân loại học, môi trường sống và công năng điều trị:
- Đa dạng thành phần loài và dạng sống: Nguồn cây thuốc tập trung chủ yếu ở ngành Ngọc lan với ưu thế tuyệt đối thuộc các dạng sống thân thảo (chiếm khoảng 42% tổng số loài thu thập) và dây leo (khoảng 25%), theo sau là cây gỗ nhỏ và cây bụi sinh trưởng dưới tán rừng tự nhiên hoặc ven suối ẩm.
- Nguồn gen quý hiếm cần ưu tiên bảo tồn: Nghiên cứu đã xác lập danh mục nhiều loài thảo dược nằm trong diện bị đe dọa nghiêm trọng theo Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Nghị định số 06/2019/NĐ-CP thuộc các nhóm thực vật hạn chế khai thác thương mại (nhóm IIA) và cấp độ nguy cấp (EN), sắp nguy cấp (VU).
- Bộ phận sử dụng và kinh nghiệm chế biến: Đồng bào có thói quen sử dụng đa dạng các bộ phận gồm lá (chiếm trên 35%), thân vỏ (khoảng 28%), rễ củ (khoảng 22%) và toàn cây. Đáng chú ý, tỷ lệ sử dụng ở dạng cây tươi giã nát hoặc sắc uống chiếm hơn 60%, trong khi phương thức sơ chế phơi khô dự trữ chiếm gần 40%.
- Cơ cấu nhóm bệnh điều trị: Nguồn cây thuốc bản địa được dùng chữa trị 10 nhóm bệnh lý phổ biến, trong đó nhóm bệnh về xương khớp và thoái hóa cột sống chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 24%), tiếp theo là các bệnh lý đường tiêu hóa (khoảng 19%), bệnh ngoài da mẩn ngứa (khoảng 16%) và các chứng viêm nhiễm gan mật.
- Bằng chứng thực nghiệm kháng khuẩn: Thử nghiệm cao chiết in vitro đối với các loài cây tiêu biểu như Huyết đằng, Bòng bong, Sói rừng và Khoan cân đằng đã xác nhận khả năng ức chế mạnh mẽ sự phát triển của vi khuẩn Staphylococcus aureus với đường kính vòng kháng khuẩn đạt từ 12 mm đến 18 mm.
Thảo luận kết quả
Hệ thống số liệu trong luận văn được mô hình hóa qua 12 bảng thống kê chi tiết và các biểu đồ phân bố tần suất, minh chứng mối tương quan chặt chẽ giữa tri thức chữa bệnh với đặc điểm nhân khẩu học. Cụ thể, hơn 70% số thầy lang có tuổi đời từ 50 tuổi trở lên, cho thấy tri thức bản địa đang tồn tại chủ yếu ở thế hệ cao niên. Sự giao thoa văn hóa giữa 3 dân tộc Tày, Nùng, Dao đã tạo nên sự tương đồng lên tới 45% trong việc sử dụng chung các vị thuốc bồi bổ khí huyết và xương khớp, nhưng mỗi dân tộc vẫn duy trì phương thức phối chế độc bản riêng biệt.
Nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm tài nguyên cây thuốc tại Thạch An xuất phát từ tình trạng khai thác rễ, củ theo lối tận diệt để bán thô qua đường tiểu ngạch sang các vùng lân cận, kết hợp với tập quán canh tác nương rẫy làm thu hẹp sinh cảnh rừng tự nhiên. So sánh với các nghiên cứu tương tự tại vùng núi Tây Bắc (như Sa Pa) hay Đông Bắc (như Ba Bể), nguồn cây thuốc Thạch An có tính nguyên bản cao đối với các loài dây leo dược liệu nhưng đang chịu áp lực khai thác thương mại lớn hơn 1,5 lần do vị trí giáp ranh biên giới và hệ thống giao thông Quốc lộ 4A thuận tiện.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên các bằng chứng thực địa và kết quả kháng khuẩn trong phòng thí nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm gắn kết bảo tồn sinh học với phát triển kinh tế cộng đồng:
- Thiết lập vùng bảo tồn chuyển vị và nhân giống dược liệu quý: Ủy ban nhân dân huyện Thạch An phối hợp cùng Hạt Kiểm lâm quy hoạch 2 khu vườn bảo tồn cây thuốc mẫu với quy mô tối thiểu 5 ha tại xã Trọng Con và Đức Thông giai đoạn 2021-2024, nhằm lưu giữ 100% nguồn gen các loài nằm trong Sách Đỏ như Sói rừng, Huyết đằng.
- Số hóa hồ sơ và bảo hộ quyền sở hữu trí thức dân gian: Phòng Văn hóa - Thông tin huyện chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa cho hơn 100 bài thuốc gia truyền thu thập từ 50 nghệ nhân trước năm 2025, thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng cho các ông lang, bà mế khi chuyển giao công thức thương mại.
- Phát triển chuỗi giá trị cây thuốc đạt chuẩn GACP-WHO: Các hợp tác xã nông lâm nghiệp liên kết với doanh nghiệp dược phẩm mở rộng vùng trồng chuyên canh các loài có hoạt tính kháng khuẩn cao (như Khoan cân đằng, Bòng bong), đặt mục tiêu nâng giá trị thu nhập bình quân trên đất đồi rừng từ 33 triệu đồng/ha lên trên 60 triệu đồng/ha vào năm 2026.
- Tổ chức tập huấn và truyền nghề cho thế hệ trẻ: Hội Đông y và Trung tâm Y tế huyện tổ chức định kỳ 5 khóa đào tạo mỗi năm về kỹ thuật thu hái bền vững (không khai thác tận diệt rễ củ non) cho thanh niên các dân tộc Tày, Nùng, Dao, kết hợp cấp chứng nhận hành nghề bài thuốc dân gian theo đúng quy định y tế.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang lại giá trị lý luận và ứng dụng thực tiễn đa chiều cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:
- Cán bộ quản lý lâm nghiệp và kiểm lâm: Vận dụng bản đồ phân bố và danh mục các loài nguy cấp để thiết lập phương án tuần tra bảo vệ nghiêm ngặt các tiểu khu rừng có mật độ cây thuốc cao, ngăn chặn nạn khai thác lậu qua biên giới.
- Các nhà nghiên cứu dược học và công nghệ sinh học: Khai thác kết quả định danh và số liệu hoạt tính kháng khuẩn của các loài Huyết đằng, Sói rừng để làm tiền đề phân lập các hợp chất có hoạt tính sinh học mới, hướng tới phát triển tân dược hoặc kháng sinh thảo mộc.
- Doanh nghiệp sản xuất dược liệu và sản phẩm OCOP: Tiếp cận cơ sở dữ liệu về vùng nguyên liệu và kinh nghiệm chế biến của đồng bào để đầu tư dây chuyền chiết xuất cao dược liệu đạt chuẩn chất lượng, tạo thương hiệu thảo dược đặc sản Cao Bằng.
- Giảng viên và học viên chuyên ngành Lâm học, Sinh học, Y học cổ truyền: Sử dụng tài liệu như một mẫu hình nghiên cứu chuẩn mực về phương pháp kết hợp giữa điều tra xã hội học thực vật (Ethnobotany) với thực nghiệm sinh học chuyên sâu.
Câu hỏi thường gặp
Nguồn tài nguyên cây thuốc tại huyện Thạch An có những đặc trưng sinh thái nổi bật nào?
Huyện Thạch An sở hữu địa hình núi đá vôi đan xen núi đất với hơn 90% diện tích là đất rừng và hệ thống sông suối dày đặc. Điều kiện tiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa mát mẻ tạo môi trường lý tưởng cho các loài thảo dược thân thảo và dây leo phát triển, hình thành nên thảm thực vật dược liệu có độ che phủ cao và tính đa dạng sinh học vượt trội so với nhiều vùng trung du.
Hoạt tính kháng khuẩn của các cây thuốc trong nghiên cứu được kiểm chứng như thế nào?
Cao chiết từ thân và lá của các loài như Huyết đằng, Bòng bong, Sói rừng và Khoan cân đằng được thử nghiệm trực tiếp trên môi trường thạch đĩa với chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus tại phòng thí nghiệm sinh học. Kết quả ghi nhận đường kính vòng vô khuẩn rõ rệt, chứng minh tính khoa học chính xác trong kinh nghiệm trị mụn nhọt, viêm loét ngoài da của đồng bào bản địa.
Luận văn ghi nhận bao nhiêu nghệ nhân dân gian tham gia cung cấp thông tin bài thuốc?
Tổng cộng có 50 thầy lang và bà mế thuộc 3 dân tộc Tày, Nùng, Dao tại 5 xã Đức Thông, Trọng Con, Kim Đồng, Vân Trình và Lê Lai đã tham gia phỏng vấn chuyên sâu. Những người này đại diện cho kho tàng tri thức y thuật gia truyền với độ tuổi trung bình trên 50 tuổi, cung cấp các mô tả chuẩn xác về bộ phận dùng, sinh cảnh và công năng trị bệnh.
Tại sao tri thức y học bản địa tại khu vực này lại đối mặt với nguy cơ mai một nhanh chóng?
Sự suy giảm xuất phát từ khoảng cách thế hệ khi hơn 70% người nắm giữ bí quyết là người cao tuổi, trong khi giới trẻ có xu hướng tiếp cận y học hiện đại và ít quan tâm học nghề truyền thống. Đồng thời, áp lực kinh tế thương mại hóa dẫn đến việc khai thác ồ ạt, thiếu bền vững làm suy giảm nghiêm trọng các quần thể cây thuốc trong tự nhiên.
Giải pháp kinh tế nào giúp người dân vừa bảo tồn cây thuốc vừa tăng thu nhập bền vững?
Mô hình liên kết chuỗi giá trị giữa hộ gia đình đồng bào thiểu số với hợp tác xã và doanh nghiệp dược phẩm là hướng đi tối ưu. Việc phát triển vùng trồng dược liệu dưới tán rừng tự nhiên đạt chuẩn chất lượng cho phép người dân khai thác có kiểm soát, nâng cao giá trị thu nhập trên mỗi hecta canh tác lâm nghiệp gấp gần 2 lần so với phương thức truyền thống.
Kết luận
- Luận văn đã kiểm kê và hệ thống hóa toàn diện thành phần loài cây thuốc cùng kho tàng tri thức y học dân gian của 3 dân tộc Tày, Nùng, Dao tại huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
- Xác định tỷ lệ ưu thế của các loài thân thảo, thân leo phân bố tại rừng tự nhiên và nhận diện chính xác các loài thảo dược nguy cấp nằm trong Sách Đỏ Việt Nam cần bảo tồn khẩn cấp.
- Chứng minh thành công cơ sở khoa học về hoạt tính kháng khuẩn của các cây thuốc bản địa tiêu biểu thông qua các chỉ số ức chế vi sinh vật cụ thể trong phòng thí nghiệm.
- Đóng góp bộ dữ liệu thực địa chuẩn xác phục vụ trực tiếp cho công tác hoạch định chính sách lâm nghiệp, bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển kinh tế xã hội vùng cao.
- Đề xuất lộ trình bảo tồn in-situ gắn với vùng trồng thương mại đạt chuẩn giai đoạn 2021-2026, kêu gọi các cơ quan quản lý và doanh nghiệp chung tay bảo tồn bền vững nguồn vốn dược liệu quý của quốc gia.