mở đầu cho đợt biến động theo hướng giảm giá của thị trường chúng khoán toàn cẩu. Đến 27-10, líìn đáu tiên kể từ 1987, thị trường chứng khoán Mỹ phải đóng cửa nửa giờ sau khi giá cổ phiếu giảm tới 350 điểm. Hôm sau, thị trường 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chứng khoán Toronto '[Canada) cũng phải ngừng giao dịch trong 30 phút vì chỉ số chứng khoán sụt tới 5%. Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ tại một sô nền kinh tế IỚI1 của CliAu Ả: NliẠt Bản, Ilàn Quốc, IIoiigKong và Đài Loan Đến thời điểm cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á diễn ra, đất nước mặt trời mọc vẫn còn lưu giữ được những dư âm huy hoàng của giai đoạn thíìn kỳ kinh tố.
NliẠl Bản vAn lìl quốc gia có nồn kinh lố lớn thứ 2 lliố giới, chí sau Mỹ và đứng đầu Châu Á. Nhưng vì có nhiều khoản đầu tư, cho vay ở Đông Nam Á nên khi cuộc khủng hoảng ập đến, Nhật Bản cũng nhanh chóng có tên trong danh sách các nước bị ảnh hưởng nặng 11Ổ. VÌI đúng như tôn gọi của cuộc khủng hoảng, lĩnh vực tài chính, tiền tệ và hoạt động của ngành ngân hàng ở Nhật bị tác động mạnh nhất. Nếu như trước khủng hoảng, trong số 10 ngân hàng hùng mạnh nhất thế giới, Nhật chiếm đến 7 thì sau khủng hoảng, các ngân hàng Nhật bị đánh giá tụt hậu 10 năm so với Mỹ, thứ hạng xuống thấp.
Theo nhận xét chung thì nguycn nhân cơ bản là do các ngân hàng của Nhật Bản đã được bảo vệ quá mức, lớn mạnh dưới sự điều hành, bảo Irợ chặt chẽ của Chính phủ, dẫn đến chậm đổi mới trong khi những biến chuyển của thị trường thay đổi liên tục. Nguồn vốn lại thường luân chuyển theo quyết định của các nhà chính trị nên khó nắm chắc khả nãng sinh lợi và khả năng thu hồi. Ngày 17-11-1997, ngân hàng Hokaido Takushuku Bank Ltd, một trong 10 ngân hàng thương mại hàng đầu Nhật Bản phải tuyên bố phá sản do có nhiều khoản nợ không đòi được ở Đông Nam Á. Nền kinh tế gặp khó khăn, lợi nhuận của các công ty Nhật giảm do các thị trường nhập khẩu ở Châu Á tiến hành chính sách giảm mua sắm.
Thị trường trong nước cũng trầm xuống do xu hướng giảm chi tiêu của người dân. Giá cổ phiếu vì thế bị hạ thấp. Ngày 24-11- 1997, Yamaichi một trong 4 công ty môi giới chứng khoán lớn nhất Nhật Bản sụp đổ để lại khoản nợ trên 3000 tỷ Yên. Với Hàn Quốc, nước này cũng có một số điểm tương đồng với Nhật Bản.
Các tập đoàn lớn (Chaebol) được chính phủ ưu đãi quá nhiều, nhất là trong lĩnh vực huy động vốn nên hầu hết đều có những khoản nợ khổng lồ. Khi cuộc khủng hoảng ập đến, Hàn Quốc có nhiều dự án ở Đông Nam Á khó thu hồi 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vốn, kinh doanh gặp khó khăn. Ngày 23-1-1997, tập đoàn Hando phá sản. Do có nhiều khoản nợ khó đòi tại các nước ASEAN nên trong hai năm 1997- 1998, 11 tập đoàn khác tại Hàn Quốc cũng lần lượt phải tuyên bố vỡ nợ.
Trong cơn lốc biến động tiổn lộ, tỷ giá hối đoái của đổng Won vớn đang được cố định với đồng USD nên cũng bị mất giá nghiêm trọng. Ngày 16-12-1997, NHTW Hàn Quốc phải tuyên bố thả nổi bản tệ. Tỷ giá w on/U SD từ 1000won/lUSD xuống còn 1926 won/lUSD vào ngày 23-12-1997 (mất giá gần 2 lẩn). Phải thay đổi chính phủ, Hàn Quốc đã trải qua những biến động xã hội lớn.
Trong khi đó, HongKong và Đài Loan là hai nền kinh tế đóng vai trò đầu mối quan trọng trong các hoạt động đfìu tư vào Đông Nam Á với lượng vốn lớn. Củ hai vùng lãnh thổ này đổu có cơ cấu nền sản xuất, dịch vụ hướng về xuất khẩu nên cũng gặp nhiều khó khăn do sức tiêu thụ của thị trường ASEAN và Nhật Bản chững lại. Thêm vào đó, do tính chất lan truyền của cuộc khủng hoảng quá mạnh, với nén kinh tế tự do, mở cửa ở mức độ cao ncn cả Đài Loan và HongKong đều phải chịu những biến động tiêu cực. Ngay khi đồng Yên Nhật giảm giá, đầu tháng 11-1997, đồng dollar của Hồng Kông và dollar của Đài Loan cũng bị trượt giá sau một thời gian được Chính phủ cố gắng cầm giữ, tuy mức độ nhẹ hơn.
Đến ngày 13-6-1998, thị trường chứng khoán HongKong lần thứ 2 xuất hiện những biến động tiêu cực với các chỉ số phản ánh mức độ chênh lệch khá cao giữa tình hình nền kinh tế trước và giữa khủng hoảng. HongKong và Đài Loan đều có số nợ khó đòi cao ở các nước ASEAN. Cùng với tổng lượng xuất khẩu giảm, tốc độ tăng trưởng của hai vùng lãnh Ihổ này đã bị chậm lại lại rõ rệt, gây nhiều lo lắng cho các nhà đầu tư thế giới. Mặc dù không bị kéo vào vòng xoáy và chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng nhưng có thể khẳng định rằng trong hai nãm 1997-1998, nền kinh tế của Đài Loan và HongKong đã gặp phải những khó khăn và chịu thiệt hại lớn chưa từng có kể từ sau năm 1973.
TÁC ĐỘNG CỦA c u ộ c KHỦNG HOẢNG ĐEN NỀN KINH TẾ CÁC NƯỚC ASEAN Tác động của cuộc khủng khoảng tài chính tiền tệ Châu Á tới các nước ASEAN là tương đối toàn diện và nặng nề. Những tác động tiêu cực đó vừa có điểm tương đồng, vừa rất đa dạng ở từng nước. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. NHỮNG BIẾN ĐỘNG KHỐC LIỆT TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Nếu như những diễn biến của cuộc khủng hoảng lài chính liền tệ diễn ra nhanh đến đâu thì mức độ nghiêm trọng mà nó đem lại cũng mạnh không kém.
Bắt đầu từ ngày 2-7-1997 khi đồng Baht Thái Lan bị phá giá, thị trường ngoại tộ irong khu vực Đông Nam Ả bắt đíìu chuỗi sụt giảm mang lính khốc liệt. Chỉ trong 6 tháng, đổng Baht Thái Lan ma'l một nửa giá trị. Đáu năm 1998, đổng Ringgit của Malaysia cũng mất giá tới 42%. Mức độ mất giá của đồng tiền còn nghiôm trọng hơn ở Indonesia, lôn lứi 83%.
Cơn lốc phá giá đổng tiền khiến các nền kinh tế khác được coi là vững mạnh trong khối ASEAN cũng như trong khu vực Châu Á không tránh khỏi ảnh hưởng (Bảng 1). Đó là dấu hiệu khởi đáu cho sự suy thoái kinh tế của hàng loạt các quốc gia đã từng tạo nên “sự thần kỳ Đông Á”. líảnt! 1: Sự sụt giíiin lỷ giá hỏi do;ìi của dong tiền một sỏ Iiước Cliíiu Á (so với đô-la Mỹ) Tháng 6- Tỷ giá Tháng Tỷ lệ Đồng tiền 1997 tháp Iiliát thấp nhất mất giá Rupiah Indonesia 2.995,9 7-1998 -83% Baht Thái Lan 24,318 52,551 1-1998 -53% Won Hàn Quốc 887,03 [ .693,65 1-1998 -47% Ringgit Malaysia 2,5157 4,1941 1-1998 -42% Peso Philippine 26,355 43,657 9-1998 -40% Yen Nhật 114,32 144,59 8-1998 -21% Đô-la Đài Loan (mới) 27,882 34,699 8-1998 -20% Đô-la Singapore 1,4264 1,7566 8-1998 -19% Nguồn: [72; 386] Đồng tiền mất giá nghicm trọng tại các nước Đông Nam Á ngay lập tức ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán các nước này. Các nhà đầu tư do tâm lý 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lo ngại tình hình sẽ xấu thêm đã ào ạt rút vốn về, bán tháo cổ phiếu.
Rất nhiều nhà đầu tư bị phá sản do cố giữ cổ phiếu. Tháng 9-1998 là thời điểm tồi tệ nhất của thị trường chứng khoán ở các nước Đông Nam Á. Tại các trung tâm giao dịch lớn như BangKok, Jakarta, Manila, Kuala Lumpur, tỷ lệ mất giá chứng khoán lôn đến mức kỷ lục: lại thị trường Jakarta là -65%, Bangkok là -76% và nghiêm trọng nhất là sự sụp đổ ở Kuala Lumpur. Các cổ phiếu so với thời điổm giá cao nhất trước khủng hoảng ở thị trường này chỉ còn 21% giá trị (mất giá tới 79%) [72; 388], Cùng với sự sụp đổ của các thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản của các nước Đông Nam Á cũng lâm vào tình trạng đổ vỡ hàng loạt do nhu cáu mua nhà của người dAn giảm và nhu cầu ihuc văn phòng tiến về con sổ không (nhiều doanh nghiệp trong nước đã cắt giảm chi phí bằng việc đóng cửa các văn phòng tại các cao ốc đắt tiền).
Tình hình kinh tế khó khăn tạo ra một môi trường sản xuất kinh doanh khắc nghiệt. Tại Thái Lan, chỉ trong tháng 9- 1998 đã có 1345 doanh nghiệp phải tuyên bố phá sản, hoá giá công ty. Tính chung trong cả chín tháng đáu năm 1998 thì con số này là 9.543, lăng hơn 100% (134,1%) so với 1997. Tại Singapore, lúc đầu nước này chịu ảnh hưởng không lớn của cuộc khủng hoảng.
Song sau hơn một năm, do thâm hụt ngân sách tăng, xu hướng suy thoái kinh tế mạnh cộng với điều kiện kinh doanh khó hơn nên trong 6 tháng đầu năm 1998, đã có 124 công ty phá sản. Số doanh nghiệp trong dạng nguy cơ (hay đang ở gần bờ vực) phá sản thống kê được cũng lên tới 1000, tăng 20% so với 1997. Cũng theo thống kê của Chính phủ Singapore trong thời điểm này, cứ 3 công ly cỡ nhỏ (vốn lừ 100.000USD) thì một công ty có thể đã ở trong tình trạng phá sản [64; 58], [64; 75], Các công ty liên doanh hay 100% vốn nước ngoài tưởng hùng mạnh nhưng do cuộc khủng hoảng tác động quá sâu rộng khiến mức ticu dùng của các thị trường liên tục giảm ncn họ cũng bị nguy cơ làm ăn thua lõ, phá sản ám ảnh nặng nề. Nhu cầu mở rộng kinh doanh rất ít, nhiều chi nhánh nước ngoài đóng cửa khiến giá mua hoặc thuc nhà, văn phòng càng tiếp tục giảm mạnh.
Vừa bỏ một lượng lớn tiền vào đầu tư, nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhu cầu Đ Ạ I H O C Q U Ố C G IA HẢ N Ộ I TRUNG TÀM TH Ò N G ( IN THƯ VIỆN V - L.i / ì ỡ e LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phục vụ các nhà đầu tư cùng lúc giảm khiến gần như ngay lập tức, nhiều nhà kinh doanh bất động sản lilm vào khó khăn hoặc vỡ nợ. Trong khi đó, lĩnh vực bất động sản lại là đối tượng cho vay quan trọng của các ngân hàng Đông Nam Á. Vì vậy rất nhanh chóng, theo phản ứng day chuyền, ngành ngítn hàng cũng lao đao. Nợ khó đòi tăng, các khoản cho vay không lliực hiện được, kinh doanh thua lỗ, trong khi đó lại xuất hiện làn sóng rút tiền bản tệ mua USD.
Ban đầu làn sóng này chỉ mang tính đẩu cơ nhưng do thông tin về sự yếu kém của các ngân hàng lộ diện, dân chúng lo sợ tiền tiết kiệm sẽ mất theo những tuycn bố phá sản đang ngày càng nhiều nên dồn dập đến xếp hàng đòi lại tiền đã gửi.