TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

Luận văn nghiên cứu triết lý nhân sinh sâu sắc trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Phân tích giá trị nhân văn, hạn chế và ý nghĩa của triết lý này.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

126
22
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan Nghiên cứu triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều

Trong dòng chảy văn hóa dân tộc Việt Nam, tư tưởng nhân ái, yêu thương, và khát vọng vươn tới những giá trị tốt đẹp luôn là sợi chỉ đỏ kết nối cộng đồng. Truyện Kiều của Nguyễn Du, một kiệt tác văn học, không chỉ là câu chuyện về cuộc đời Thúy Kiều mà còn là sự thể hiện sâu sắc triết lý nhân sinh. Tác phẩm này chứa đựng những suy tư về số phận con người, về đạo đức, về tình yêu và sự hy sinh, đồng thời phản ánh xã hội phong kiến đầy bất công. Nghiên cứu triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tâm hồn, cách sống của người Việt, đồng thời khơi gợi những giá trị nhân văn cao đẹp. Như nhà nghiên cứu Phạm Quỳnh từng nhận định, Truyện Kiều là "quốc hoa" của văn học Việt Nam, là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa dân tộc.

1.1. Truyện Kiều Gương phản chiếu tâm hồn dân tộc Việt

Truyện Kiều không chỉ là một tác phẩm văn học đơn thuần mà còn là một tấm gương phản chiếu tâm hồn, cách sống và khát vọng của người Việt. Từ tầng lớp vua quan đến người nông dân, ai ai cũng thuộc Kiều, ngâm Kiều như một món ăn tinh thần không thể thiếu. "Mớt nước &ióng không quốc hoa, Truyện Kiều quắc hoa của" (Phạm Quỳnh). Sở dĩ Truyện Kiều đi sâu vào lòng quốc dân như vậy là bởi đằng sau những câu thơ là tấm lòng nhân ái của Nguyễn Du, là sự yêu thương con người, trọng đức hạnh và căm ghét bất công.

1.2. Giá trị nhân văn và triết lý nhân sinh sâu sắc trong Truyện Kiều

Truyện Kiều không chỉ phản ánh cuộc đời bi kịch của Thúy Kiều mà còn chứa đựng những giá trị nhân văn và triết lý nhân sinh sâu sắc. Nguyễn Du đã đặt ra những câu hỏi lớn về số phận con người, về đạo đức, về công lý và về ý nghĩa của cuộc sống. Tác phẩm khuyến khích con người yêu thương nhau, xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn và hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ.

II. Phân tích Bối cảnh hình thành tư tưởng nhân sinh Nguyễn Du

Để hiểu sâu sắc triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều, cần xem xét bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, thời đại mà Nguyễn Du sống và sáng tác. Đây là giai đoạn đầy biến động với sự suy thoái của chế độ phong kiến, sự nổi lên của các cuộc khởi nghĩa nông dân, và những thay đổi lớn trong tư tưởng văn hóa. Những biến động này đã tác động mạnh mẽ đến tâm hồn và tư tưởng của Nguyễn Du, hình thành nên những quan điểm nhân sinh sâu sắc và đầy trăn trở. Chính những điều này đã tác động đến quan điểm nhân sinh Nguyễn Du.

2.1. Bối cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu XIX

Cuối thế kỷ XVIII, đầu XIX, xã hội Việt Nam chìm trong khủng hoảng. Nền kinh tế suy thoái, chính trị rối ren, đời sống nhân dân vô cùng khổ cực. Các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra liên tiếp, thể hiện sự phản kháng mạnh mẽ của quần chúng đối với chế độ phong kiến mục nát. "Nền sản xuất nông nghiệp đình" . "Năm 1713 mùa xuân hạn cao dân gian phải cây chết đây đường, làng xóm tiêu điều"

2.2. Ảnh hưởng của Nho giáo Phật giáo và Đạo giáo đến Nguyễn Du

Nguyễn Du sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống Nho học, tuy nhiên ông cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo và Đạo giáo. Nho giáo với những tư tưởng về đạo đức, về trách nhiệm xã hội đã định hình nên nhân cách của Nguyễn Du. Phật giáo với lòng từ bi, với quan niệm về nhân quả đã giúp ông thấu hiểu nỗi khổ của con người. Đạo giáo với sự hòa mình vào thiên nhiên, với khát vọng về sự tự do đã mang đến cho ông một cái nhìn phóng khoáng về cuộc đời.

2.3. Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Du Yếu tố chủ quan hình thành

Cuộc đời Nguyễn Du cũng là một yếu tố quan trọng hình thành nên tư tưởng nhân sinh của ông. Ông sinh ra trong một gia đình quý tộc, nhưng lại trải qua nhiều thăng trầm trong cuộc sống. Ông từng làm quan, nhưng cũng từng phải sống cuộc đời phiêu bạt, lang thang. Những trải nghiệm này đã giúp ông hiểu rõ hơn về cuộc sống của người dân thường, đồng thời hun đúc nên lòng yêu thương và sự đồng cảm sâu sắc với những kiếp người đau khổ.

III. Cách tiếp cận Nội dung triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều

Truyện Kiều không chỉ là một câu chuyện tình yêu đầy bi kịch mà còn là một tác phẩm chứa đựng nội dung triết lý nhân sinh sâu sắc. Nguyễn Du đã gửi gắm vào tác phẩm những suy tư về số phận, về đạo đức, về tình yêu và về ý nghĩa của cuộc sống. Những quan điểm này được thể hiện qua nhân vật Thúy Kiều, qua những triết lý về tài mệnh tương đố, về luật nhân quả và về lòng nhân ái. Chính vì vậy, khi nghiên cứu về Triết lý nhân sinh Truyện Kiều cần tiếp cận một cách đa chiều để hiểu rõ những tầng nghĩa sâu xa của tác phẩm.

3.1. Quan niệm về số phận và sự vô thường của cuộc đời

Trong Truyện Kiều, số phận con người được miêu tả như một vòng luẩn quẩn, khó thoát khỏi. Nguyễn Du tin rằng cuộc đời là vô thường, mọi thứ đều có thể thay đổi bất ngờ. Điều này được thể hiện qua cuộc đời đầy sóng gió của Thúy Kiều, người đã phải trải qua bao nhiêu khổ đau, tủi nhục. Số phận con người thường gắn liền với câu "hồng nhan bạc mệnh"

3.2. Triết lý về tài mệnh tương đố và sự bất công của xã hội

Một trong những triết lý nổi bật trong Truyện Kiều là triết lý về tài mệnh tương đố. Nguyễn Du cho rằng những người tài giỏi thường gặp nhiều trắc trở trong cuộc sống. Ông cũng phê phán sự bất công của xã hội phong kiến, nơi mà những kẻ có quyền lực có thể chà đạp lên những người yếu thế.

3.3. Chủ nghĩa nhân đạo và lòng thương người của Nguyễn Du

Chủ nghĩa nhân đạo là một trong những giá trị cốt lõi của Truyện Kiều. Nguyễn Du luôn dành tình cảm yêu thương và sự đồng cảm sâu sắc cho những người đau khổ, bất hạnh. Ông lên án những hành vi tàn ác, bất nhân, đồng thời ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người như lòng trung hiếu, tình yêu thương và sự hy sinh.

IV. Hướng dẫn Giá trị và ý nghĩa của nghiên cứu triết lý Truyện Kiều

Nghiên cứu triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều không chỉ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về tác phẩm văn học này mà còn mang lại những giá trị và ý nghĩa thiết thực cho cuộc sống hiện tại. Những bài học về đạo đức, về tình yêu thương, về sự công bằng và về ý nghĩa của cuộc sống vẫn còn nguyên giá trị trong xã hội ngày nay. Bên cạnh đó, thông qua việc nghiên cứu giá trị nhân sinh trong Truyện Kiều, chúng ta có thể vận dụng những tư tưởng nhân văn cao đẹp để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

4.1. Giá trị nhân đạo và nét đặc sắc của tư tưởng nhân sinh Truyện Kiều

Truyện Kiều là một tác phẩm mang đậm giá trị nhân đạo. Nguyễn Du đã thể hiện lòng thương cảm sâu sắc đối với những kiếp người đau khổ, đặc biệt là phụ nữ. Ông ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người, đồng thời lên án những hành vi tàn ác, bất nhân. Giá trị nhân đạo này đã làm nên sức sống lâu bền của Truyện Kiều trong lòng độc giả.

4.2. Ý nghĩa thời đại và khuyến khích những giá trị tốt đẹp

Truyện Kiều không chỉ có ý nghĩa trong thời đại của Nguyễn Du mà còn mang những thông điệp ý nghĩa cho cuộc sống hiện tại. Tác phẩm khuyến khích con người sống lương thiện, yêu thương nhau, đấu tranh cho công lý và hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ. Những giá trị này vẫn còn nguyên giá trị trong xã hội ngày nay.

4.3. Vận dụng triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều vào cuộc sống

Chúng ta có thể vận dụng những bài học từ triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều vào cuộc sống hàng ngày. Hãy sống lương thiện, yêu thương những người xung quanh, đấu tranh cho công lý và luôn hướng tới những giá trị tốt đẹp. Hãy học cách tha thứ, bao dung và đồng cảm với những người đau khổ. Những hành động nhỏ bé này sẽ góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

V. Giải pháp Hạn chế của triết lý và con đường vượt lên đau khổ

Mặc dù Truyện Kiều chứa đựng nhiều giá trị nhân văn sâu sắc, tuy nhiên cũng không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Một trong những hạn chế đó là quan niệm về số phận, đôi khi mang tính bi quan và thụ động. Tuy nhiên, cần nhìn nhận những hạn chế này trong bối cảnh lịch sử và xã hội của thời đại Nguyễn Du. Đồng thời, cần tìm ra những giải pháp để vượt lên những đau khổ, hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn.

5.1. Ảnh hưởng của chủ nghĩa duy tâm và sự bi quan trong Truyện Kiều

Triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa duy tâm và quan niệm về số phận. Điều này đôi khi dẫn đến sự bi quan và thụ động trong cách nhìn nhận cuộc sống. Tuy nhiên, cần hiểu rằng những quan niệm này phản ánh tư tưởng của thời đại Nguyễn Du.

5.2. Phân tích Con đường giải thoát khỏi đau khổ trong Truyện Kiều

Mặc dù có những hạn chế, Truyện Kiều vẫn gợi mở những con đường giải thoát khỏi đau khổ. Đó là con đường của lòng nhân ái, của sự tha thứ, của sự đấu tranh cho công lý và của sự vươn lên để khẳng định giá trị bản thân. Chính sự kết hợp giữa bi kịch và hy vọng đã làm nên sức hấp dẫn của Truyện Kiều.

5.3. Kết hợp triết lý nhân sinh Truyện Kiều với tư tưởng hiện đại

Để triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều trở nên phù hợp hơn với cuộc sống hiện đại, cần kết hợp những giá trị nhân văn của tác phẩm với tư tưởng tiến bộ. Hãy phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo và đấu tranh cho một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Hãy học cách yêu thương, chia sẻ và đồng cảm với những người xung quanh.

VI. Tổng kết Triết lý nhân sinh Truyện Kiều và bài học cho tương lai

Truyện Kiều của Nguyễn Du là một kiệt tác văn học, đồng thời là một kho tàng triết lý nhân sinh quý giá. Nghiên cứu và phân tích triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về tâm hồn, cách sống của người Việt, đồng thời khơi gợi những giá trị nhân văn cao đẹp. Những bài học từ Truyện Kiều vẫn còn nguyên giá trị trong xã hội ngày nay và sẽ tiếp tục là nguồn cảm hứng cho các thế hệ mai sau. Triết lý về cuộc đời trong Truyện Kiều là một di sản vô giá.

6.1. Giá trị văn hóa và nhân văn của Truyện Kiều trong xã hội hiện đại

Truyện Kiều không chỉ là một tác phẩm văn học mà còn là một phần của văn hóa Việt Nam. Tác phẩm đã góp phần hình thành nên những giá trị đạo đức, những chuẩn mực thẩm mỹ và những cách ứng xử trong xã hội. Giá trị văn hóa và nhân văn của Truyện Kiều vẫn còn được trân trọng và phát huy trong xã hội hiện đại.

6.2. Bài học về đạo đức tình yêu thương và trách nhiệm xã hội

Truyện Kiều mang đến cho chúng ta nhiều bài học quý giá về đạo đức, về tình yêu thương và về trách nhiệm xã hội. Hãy sống lương thiện, yêu thương những người xung quanh và đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng. Hãy đấu tranh cho công lý và bảo vệ những giá trị tốt đẹp.

6.3. Phát huy giá trị triết lý nhân sinh để xây dựng xã hội tốt đẹp

Để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, cần phát huy những giá trị của triết lý nhân sinh trong Truyện Kiều. Hãy tạo ra một môi trường sống công bằng, dân chủ và văn minh. Hãy khuyến khích những hành vi đạo đức và lên án những hành vi xấu xa. Hãy xây dựng một xã hội mà mọi người đều được sống hạnh phúc và được phát huy tối đa tiềm năng của mình.

25/04/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA NGUYÊN DU 1. BOL CANH LICH XÃ HỘI VIỆT NAM CUÔI THẺ KỸ XVIHI DAU THE KY XIX 1. Tinh hinh kin tế Trong những năm cuối thể kỹ XVIII, dau thé ky XIX, nễn kinh tế nước ta rơi vào tình trạng sa sút nghiễm trọng. Các thể lực phong kiến thực hiện tư hữu lớn vé ruộng đất.

Chiến tranh và sự bất lực của nhà nước đã dẫn đến sự thu hẹp của ruộng đất công làng xã. Bên cạnh đó, chế độ tư hữu tư nhân về ruộng đất ngày cảng phát triển. Ngoài tằng lớp phong kiến, quý tộc, hình thành hàng loạt những. "địa chủ” có trên 100 mẫu ruộng, nhiễu người trong số: đó có trên 1000 mẫu.

Làng xã, chủa chiễn cũng trở thành chú một số ruộng. lớn gọï dùng làm "ruộng thẩy”, "ruộng học", "ruộng thưởng”. Số ruộng này do nhiễu người đã cúng ruông tư của mình cho lảng hay cho chùa với mong muốn được thờ cúng sau khi chết. Đứng trước tình hình gia tăng va chiếm ưu thể của ruộng đất tư, năm 1722 chúa Trịnh thực hiện cải cách chế độ tô thuế, bắt đầu đánh thuê ruộng tư nhưng lại miễn thuế ruộng tư cho quan lại theo thứ bậc.

Bởi vậy, ruộng đắt tư của quan lại địa chú tiếp tục tăng lên còn nông dân không có ruông để cảy cấy, Điều đó dẫn tởi đời sống nõng dân ngày càng khó Cực. Bên cạnh đó, thiên tai thường xuyên đè dọa, quan lại sách nhiễu nhân dân, đề điểu vỡ lở dẫn đến mất mủa đói kém lớn xảy ra liên tục ở nhiều nơi. Thêm vảo đó, chế độ thuế khóa, lao dịch lả một phẩn gánh nặng trong đời sống nông dân. Dãn đối kém triển miễn trong khi nhu cẩu chỉ tiêu của giới quỷ tộc tăng lên.

Sự suy yếu của nhà nước trung ương, chiến tranh phong kiến 11 đã tạo điều kiên cho tham quan, õ lại lộng quyên. bọn địa chủ, cướng hào địa phương thả sức hoảnh hảnh, tự tiện đặt trạm thu thuế riêng, tố chức xét kiện, thu tiền thốc của dân ăn chơi thỏa thích. Nhà nước đặt ra lệ mua quan bán chức đẻ thu thỏc, tiên, đặt ra cả lệ "tiền thông kinh". Chính những điều này đẻ ra hàng loạt quan lại tham những, đốt nát nhưng lại được chúa ưu đãi nên họ.

tha hỗ hạch sách, chiếm đoạt ruộng đất của dân, đục khoét nhân dân. Nông dan bi day tới bước đường củng, đói kém, phải bỏ nhà bỏ xứ đi lưu tán khắp nơi. Nền sản xuất nông nghiệp bị đình trệ. Sử sách ghi lại ring: Năm 1713 mùa xuân trởi hạn lâu giá lúa cao vọt, dân gian phải ãn vỏ cây rễ có, chết đói đây đường, làng xóm tiêu điều.

Mùa thu lụt lội, vỡ đê Sơn Tây Son Nam, Thanh Hoa, trôi hảng vạn nóc nha, nhan dan cơ cực. Khoảng đời Cảnh Hưng (1742-1786) Chiêu Thống (1787-1789) luôn mất mùa, đói kém, dân gian trôi dạt, lưu ly, cha con không thẻ nuôi nhau, anh em không thể nương nhau. Mùa thú năm 1776, đại han, đồng tuộng chảy khô không sao lâm được công việc đồng áng, Những người nghèo khó hết qua cửa quyền nọ lại đến nhà sang kia cũng không sao. kiểm được một chỗ làm thuê làm mướn [46, tr 104] Còn theo cuỗn Sử ý Đại Nam Liệt (do Giáo hội Công giáo xuất bản), Khoảng năm 1787, “lang no danh lang kia, chẳng biết cây ai cứu giúp.

Đâu đâu cũng có kẻ cướp, người ta giết lần nhau. Vá lại cả năm ấy phải đại hạn, đoạn phải bão cùng lụt cả thể. về xứ Nam Định vữa hết, hai huyện Quỳnh Lưu vả Đông Thánh thì cảng khốn nạn hơn nữa. Bão lớn lắm, cửa nhã ập hết: cây côi cùng sanh hoa đẳng vật hao hại tận tuyệt chẳng cỏn giống gi.

kẻ đã chết đói thi võ ngân vô số kế chẳng xiết. người ta chỉ ăn có như bò hay là ăn những rễ cây gốc chuối thỉ lại sinh bệnh dịch mà cảng thêm chết hơn nữa. trong xứ Nghệ An cỏ xã chẳng còn sót người nào, hoặc chết đói hoặc chết lệnh hết" 46, tr 105] Với tình hình sản xuất như vậy đã dẫn đến đời sống kinh tế của nhân dân hết sức khô cực vả khốn đốn. Đó chỉnh lả căn nguyễn của nhiều vấn đề vẻ chính trị, đạo đức của xã hội thời kỳ đó.

Tình hình chính trị - xã hội Về chính trị, với một nền kinh tế trì trệ và bất ôn đã dẫn đến sự hỗn loạn về chính trị. Đắt nước phân chia thành Đăng Trong và Đảng Ngoài. ' Đảng Ngoài, vua Lê vẫn đứng đầu trên danh nghĩa. Trên thực tế, chúa Trịnh nắm mọi quyên hảnh trong tay.

Những mâu thuẫn chứa chất lâu ngây. trong lòng chế độ phong kiến Viết Nam đến đây đã có dịp bùng nỗ dữ dội. ‘Ting lop thống trị lục đục, tin sát lẫn nhau: 1 é Phuong, giết đại thần Nguyễn Công Kháng, vua Lê Ý Tông nhường ngôi cho Lê Hiển Tông; Trịnh Sâm giết thải tử Lê Duy Vũ, giết em là Trịnh Đệ. Năm 1782, nhân khi Trịnh Sâm chết, phe Trịnh Khải nổi đây giết phe phái của Đăng Thị Huệ, phế em là Trịnh Cán, các quân Tam phủ dựa vào đó thả sức tung hoành, uy hiếp quan lại, giành mọi quyển binh, sử gọi là "Loạn kiêu binh".

"Loạn kiêu bình" đánh dẫu sự tan rã của thể lực họ Trịnh, gây nên sự đối lập lớn giữa nhân dân và quân sỹ, đồng thời mở đường cho bọn quan lại địa phương vơ vét, đục khoét nhãn dân. Trong khi đó, đồng họ Lẻ tìm cách nâng cao uy thể mong khôi phục địa vị ngày xưa. sụp về chính trị, xã hội của đảng Ngoải ngày càng trằm trọng. Ở đảng Trong, tình trạng ồn định của xã hội điển ra trong một thời gian khả đải nhưng rồi những mâu thuần cỗ hữu của chế độ phong kiến cũng dẫn dần phát huy tác dụng.

Từ giữa thế kỷ XVHI, Đảng Trong lâm vào khủng. hoảng chính trị. Quan lại quý tộc ra sức xây dựng dinh thự, ăn chơi xa xỉ, nuôi các đội ca kỹ, tuông chèo phục vụ yến tiệc. Sau khi chủa Nguyễn Phúc Khoat 13 chết, nội bộ chỉnh quyền phần chia bè cánh, chém giết lẫn nhau.

Phủ, huyện, lắng, xã nằm trong tay bọn quan lại, cường hảo tham nhũng. Nạn "tiền hoang" đo dùng kẽm đẻ đúc tiền thay cho tiền đồng làm giao thương đình trệ. Dân Gia Định nhiều thóc nhưng không bản lấy tiền kẽm ma thương nhân cũng không muốn đổi hàng hóa lấy tiền kẽm. Buôn bản đo đỏ không thông, thóc gạo miền Nam không ra được Thuận Quảng lảm cho giá gạo ở đây tăng vọt lên không cứu văn được.

Đời sống nhân dân bị đây tới bước đường củng nhiễu nạn đói lớn xảy ra, dân chết nhiều, nông dân buộc phải nỗi dậy. Từ giữa thé ky XVIII trở đi, các cuộc khởi nghĩa xảy ra khắp nơi như. cuộc khởi nghĩa Nguyễn Danh Phương (1740 - 1750), khởi nghĩa Nguyễn Hữu Câu (1741 - 1751), khởi nghĩa Hoàng Công Chất (1736 - 1769) va rất nhiều các cuộc khởi nghĩa nông dân khác. Tất cả khí thể, sức mạnh cúa thé ky nông dân khởi nghĩa ay kết tỉnh vào cuộc khởi nghĩa Tây Sơn vĩ đại năm 1771.

Cuộc khởi nghĩa này được coi như “Một phen thay đổi sơn hả”. Tuy nhiên sau đỏ, phong trào Tây Sơn thất bại, chế độ phong kiến triều Nguyễn được thiết lập. Nguyễn Du đã sống qua ba thời dai: Lé - Trịnh, Tây Sơn, Nguyễn, trải qua những cuộc binh biến tàn khốc cúa các tập đoàn phong kiến vả các cuộc khởi nghĩa đỏi quyền sống của tằng lớp nông dân. Ông đã chứng kiến tận mắt cảnh bãi bể hóa nương đâu, cảnh sống xa hoa, đổi trụy cũng như sự thống trị đã man, tần ác của giai cấp phong kiến, cảnh đau khổ vì nghèo đối, cảnh đây.

đọa và những áp bức bắt công củ đại đa số quân chúng nhãn dân. Đông tây nam bắc vô sởy “Thưởng thiên há địa giai bắt khả, Yên, Dĩnh thành trung lai hà vi ? Thành quách do thi, nhân dân phi, ‘Trin ai cồn côn ô nhân y. 14 “Xuất giá khu xa, nhập cứ tọa, “Tọa đảm lập nghị giai Cao, Quỷ. Bất lỗ trảo nha dữ giác độc, Giáo tước nhân nhục cam như di.” (Phản chiêu hỗn - trich trong "Thanh Hiên Thí Tập" - Nguyễn Du) Dịch nghĩa; “Đông tây nam bắc không chốn nương tựa, Lên trời xuống đất đều không được.

Còn trở về thành Yên thành Dĩnh làm gi? ‘Thanh quich còn đây, nhân dân đã khác, Bui bam mii bay Lim do ban quan ao, Ra ngoai thi rudi xe, vào nhà ngôi chŠm chệ Đứng ngồi bản bạc như hai bậc hién thin Cao, Quy Không để lộ ra nanh vuốt nọc độc. Mà căn xẻ thịt người ngọt xớt" Chính những thay đổi kinh thiên đông địa của lịch sử cũng khiến cuộc đời Nguyễn Du cũng chao đảo. Phủ tế tướng huy hoảng năm xưa nay nhà cửa tan hoang, anh em lưu tán khắp nơi, öng đã phải thốt lên: “Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán” (trở về Hồng Lĩnh gia đình không còn anh em lưu lạc khắp nơi). Ông gọi quảng thời gian này là “Mười năm gió bụi” (Thập tải phong.

Cuộc sông phiêu bạt, khôn khó trăm bề đã đem lại cho ông vốn sống. thực tế phong phú, củng với tải năng chưa được phát huy, ông bắt đầu suy ngẫm nhiều về xã hội, về thân phận con người. Giáo sư Nguyễn Lộc đã từng nhận định: “Có thể tìm thấy một sợi chi do xuyên suốt toàn bộ tác phẩm của. Nguyễn Du từ Thơ chữ Hán đến Truyện Kiêu, Văn chiều hồn.

Nguyễn Du trở thành vĩ đại chính vì Nguyễn Du lá một nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa. Mặc dù xuất thân tử giai tằng quý tộc, nhưng Nguyễn Du lăn lộn nhiều trong cuộc 15 sống của quần chúng, đã lắng nghe được tâm hỗn vả nguyện vọng của quản chúng." từ đó ảnh hưởng lớn tới triết lý sảng tác văn chương của ông. Tình hình văn hóa, tư tướng. Vào cuối thể ký XVII, dau thé ky XIX, Nho giáo vẫn được nhà nước phong kiển bảo vệ, duy trì để làm nền tảng cho các tổ chức chính trị, kinh tế của chính quyển và làm kỳ cương của xã hội.

Tuy vậy, Nho giáo thời kỳ nay đã bước vào thời kỳ suy đốn dần, không còn được độc tôn như trước. Mặc dù chính quyền phong kiễn vẫn tổ chức thì cử để tuyển chọn quan lại nhưng việc thi cử đã không còn nghiễm túc nữa. Tình trạng mua quan, bán chức diễn ra công khai vả phố biến ở cả Đảng Trong và Đàng Ngoài. Những người không có học nhưng có tiền thi dùng tiển mua chức tước.

Trong thi cử, nhiều vụ hỗi lộ và ăn hỗi lộ đã diễn ra trắng trợn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ