Luận án tiến sĩ về triết lý Lakei Kamei trong cộng đồng người Chăm ở Nam Trung Bộ

Luận án tiến sĩ khám phá triết lý lakei kamei trong cộng đồng người Chăm ở Nam Trung Bộ, phân tích văn hóa và giá trị truyền thống.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

204
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án

1.7. Cái mới của luận án

1.8. Kết cấu của luận án

2. KHÁI NIỆM VỀ TRIẾT LÝ “LAKEI - KAMEI” VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TRIẾT LÝ “LAKEI - KAMEI” TRONG CỘNG ĐỒNG NGƢỜI CHĂM Ở NAM TRUNG BỘ

2.1. KHÁI NIỆM VỀ “LAKEI – KAMEI” VÀ TRIẾT LÝ “LAKEI – KAMEI”

2.1.1. Khái niệm “Lakei – Kamei”

2.1.2. Triết lý “Lakei - Kamei”

2.2. NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRIẾT LÝ “LAKEI - KAMEI” TRONG CỘNG ĐỒNG NGƢỜI CHĂM Ở NAM TRUNG BỘ

2.2.1. Những điều kiện cho sự hình thành và phát triển triết lý “Lakei - Kamei” trong cộng đồng người Chăm ở Nam Trung bộ

2.2.2. Những tiền đề cho sự hình thành và phát triển triết lý “Lakei - Kamei” trong cộng đồng người Chăm ở Nam Trung bộ

2.3. CÁC THỜI KỲ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT LÝ “LAKEI - KAMEI” TRONG CỘNG ĐỒNG NGƢỜI CHĂM Ở NAM TRUNG BỘ

2.3.1. Thời kỳ Bàlamôn giáo du nhập vào Champa

2.3.2. Thời kỳ Bàlamôn giáo bị bản địa hóa và sự xung đột giữa người Chăm Bàlamôn và người Chăm Islam trong lịch sử

2.4. Kết luận chương 1

3. MỘT SỐ NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA TRIẾT LÝ “LAKEI - KAMEI” TRONG CỘNG ĐỒNG NGƢỜI CHĂM Ở NAM TRUNG BỘ

3.1. MỘT SỐ NỘT DUNG CHỦ YẾU CỦA TRIẾT LÝ “LAKEI - KAMEI” TRONG CỘNG ĐỒNG NGƢỜI CHĂM Ở NAM TRUNG BỘ

3.1.1. Triết lý “Lakei - Kamei” trong cộng đồng người Chăm ở Nam Trung bộ về phương diện vũ trụ quan

3.1.2. Triết lý “lakei - kamei” trong cộng đồng người Chăm ở Nam Trung bộ về phương diện nhân sinh quan

3.1.3. Triết lý “lakei - kamei” trong cộng đồng người Chăm ở Nam Trung bộ về phương diện đời sống văn hóa

3.2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA TRIẾT LÝ “LAKEI - KAMEI” TRONG CỘNG ĐỒNG NGƢỜI CHĂM Ở NAM TRUNG BỘ

3.2.1. Vũ trụ quan của cộng đồng người Chăm ở Nam Trung bộ có sự tương đồng và khác biệt so với vũ trụ quan trong triết học Trung Hoa cổ đại

3.2.2. Thể hiện vai trò chủ đạo của Kamei (nữ) so với Lakei (nam)

3.2.3. Thể hiện tính thần quyền

3.2.4. Thể hiện tính quy kết trong nhận thức

3.3. Kết luận chương 2

4. GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA CỦA TRIẾT LÝ “LAKEI - KAMEI” TRONG CỘNG ĐỒNG NGƢỜI CHĂM Ở NAM TRUNG Ộ

4.1. GIÁ TRỊ CỐT LÕI VÀ HẠN CHẾ CHỦ YẾU CỦA TRIẾT LÝ “LAKEI – KAMEI” TRONG CỘNG ĐỒNG NGƢỜI CHĂM Ở NAM TRUNG BỘ

4.1.1. Là cấu trúc nền tảng trong tư tưởng của cộng đồng người Chăm ở Nam Trung bộ

4.1.2. Tạo tiền đề hình thành văn hóa, phong tục truyền thống trong cộng đồng người Chăm ở Nam Trung bộ

4.1.3. Góp phần định hướng tư duy đến các vấn đề nhân sinh trong cộng đồng người Chăm ở Nam Trung bộ

4.1.4. Một số hạn chế chủ yếu trong triết lý “Lakei – Kamei” của cộng đồng người Chăm ở Nam Trung bộ xét trong điều kiện hiện nay

4.2. Ý NGHĨA CỦA TRIẾT LÝ “LAKEI - KAMEI” TRONG CỘNG ĐỒNG NGƢỜI CHĂM Ở NAM TRUNG Ộ

4.2.1. Duy trì sự đoàn kết, hòa hợp tôn giáo trong cộng đồng người Chăm ở Nam Trung bộ

4.2.2. Góp phần giáo dục đạo lý, phong tục truyền thống cho các thế hệ người Chăm ở Nam Trung bộ

4.3. Kết luận chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC BÀI BÁO KHOA HỌC

Tóm tắt

I. Tổng quan về triết lý Lakei Kamei trong cộng đồng người Chăm

Triết lý Lakei Kamei là một phần quan trọng trong văn hóa và đời sống tinh thần của cộng đồng người Chăm ở Nam Trung Bộ. Triết lý này không chỉ phản ánh quan niệm về vũ trụ mà còn thể hiện những giá trị nhân sinh sâu sắc. Trong bối cảnh văn hóa đa dạng của Việt Nam, triết lý này đóng vai trò như một cầu nối giữa các yếu tố văn hóa khác nhau, từ đó tạo nên một bản sắc riêng cho người Chăm.

1.1. Khái niệm triết lý Lakei Kamei và nguồn gốc

Triết lý Lakei Kamei được hiểu là sự kết hợp giữa hai yếu tố đối lập, thể hiện sự hòa hợp trong vũ trụ. Nguồn gốc của triết lý này có thể được truy nguyên từ các tín ngưỡng cổ xưa của người Chăm, nơi mà sự cân bằng giữa các yếu tố âm dương được coi trọng.

1.2. Vai trò của triết lý trong đời sống người Chăm

Triết lý Lakei Kamei không chỉ là một khái niệm trừu tượng mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng và phong tục tập quán của người Chăm. Nó giúp định hình cách nhìn nhận về thế giới và con người trong cộng đồng này.

II. Những thách thức đối với triết lý Lakei Kamei trong cộng đồng người Chăm

Mặc dù triết lý Lakei Kamei có giá trị lớn trong đời sống văn hóa của người Chăm, nhưng nó cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh hiện đại. Sự giao thoa văn hóa và sự thay đổi trong nhận thức xã hội đã tạo ra những áp lực lên triết lý này.

2.1. Sự ảnh hưởng của văn hóa hiện đại

Văn hóa hiện đại đã mang đến nhiều thay đổi trong lối sống và tư duy của người Chăm. Điều này có thể dẫn đến sự mai một của triết lý Lakei Kamei, khi mà các giá trị truyền thống không còn được coi trọng như trước.

2.2. Khó khăn trong việc bảo tồn triết lý

Việc bảo tồn triết lý Lakei Kamei gặp khó khăn do thiếu tài liệu và nghiên cứu sâu sắc. Nhiều thế hệ trẻ không còn hiểu rõ về triết lý này, dẫn đến nguy cơ mất mát các giá trị văn hóa quý báu.

III. Phương pháp nghiên cứu triết lý Lakei Kamei trong cộng đồng người Chăm

Để hiểu rõ hơn về triết lý Lakei Kamei, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu đa dạng. Việc kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn sẽ giúp làm sáng tỏ hơn về giá trị và ý nghĩa của triết lý này.

3.1. Nghiên cứu tài liệu lịch sử và văn hóa

Việc nghiên cứu các tài liệu lịch sử và văn hóa liên quan đến người Chăm sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về triết lý Lakei Kamei. Các tài liệu này bao gồm các công trình nghiên cứu, văn bản cổ và các tác phẩm nghệ thuật.

3.2. Phỏng vấn và khảo sát cộng đồng

Phỏng vấn và khảo sát cộng đồng người Chăm sẽ giúp thu thập thông tin thực tế về cách mà triết lý Lakei Kamei được áp dụng trong đời sống hàng ngày. Điều này sẽ cung cấp những dữ liệu quý giá cho nghiên cứu.

IV. Ứng dụng triết lý Lakei Kamei trong đời sống thực tiễn

Triết lý Lakei Kamei không chỉ tồn tại trong lý thuyết mà còn được áp dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống thực tiễn. Từ tín ngưỡng, văn hóa đến các hoạt động xã hội, triết lý này thể hiện sự hòa hợp và cân bằng.

4.1. Ứng dụng trong tín ngưỡng và tôn giáo

Triết lý Lakei Kamei được thể hiện rõ trong các nghi lễ tôn giáo của người Chăm. Các nghi lễ này không chỉ mang tính chất tâm linh mà còn phản ánh sự hòa hợp giữa các yếu tố trong vũ trụ.

4.2. Ảnh hưởng đến văn hóa và phong tục tập quán

Triết lý Lakei Kamei cũng ảnh hưởng đến các phong tục tập quán của người Chăm, từ cách tổ chức lễ hội đến các hoạt động sinh hoạt hàng ngày. Điều này giúp duy trì bản sắc văn hóa độc đáo của cộng đồng.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của triết lý Lakei Kamei

Triết lý Lakei Kamei có vai trò quan trọng trong việc định hình văn hóa và đời sống tinh thần của người Chăm. Tuy nhiên, để bảo tồn và phát triển triết lý này, cần có những nỗ lực từ cả cộng đồng và các nhà nghiên cứu.

5.1. Tầm quan trọng của việc bảo tồn triết lý

Bảo tồn triết lý Lakei Kamei không chỉ là việc giữ gìn các giá trị văn hóa mà còn là cách để cộng đồng người Chăm khẳng định bản sắc của mình trong bối cảnh hội nhập.

5.2. Hướng đi cho nghiên cứu và phát triển

Nghiên cứu sâu hơn về triết lý Lakei Kamei sẽ mở ra nhiều cơ hội cho việc phát triển văn hóa Chăm. Các chương trình giáo dục và truyền thông cần được triển khai để nâng cao nhận thức về giá trị của triết lý này.

19/07/2025
Luận án tiến sĩ triết lý lakei kamei trong cộng đồng ngƣời chăm ở nam trung ộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề tác giả viết “Người Chăm Bàlamôn thờ tín ngưỡng đa thần của Ấn Độ giáo, còn người Chăm Bàni thờ nhất thần là thánh Alla (người Chăm gọi là Awluah) và thiên sứ Mohamat” (tr. Chúng ta biết rằng tín ngưỡng đa thần như tục thờ thần đất, thần sông, thần mặt trời, thần gió…và thờ tổ tiên, các vị anh hùng dân tộc là đặc điểm chung vốn có của người Chăm cũng như cư dân nông nghiệp vùng Đông Nam Á, chứ không phải người Chăm theo tín ngưỡng đa thần của Ấn Độ giáo. Bên cạnh đó, tác giả còn cho rằng người Chăm Bàni thờ nhất thần là thánh Alla và thiên sứ Mohamat. Đây là vấn đề sai lầm, thực tại hiện nay chỉ có người Chăm Islam mới thờ nhất thần.

Còn giữa người Chăm Ahier và người Chăm Awal mặt dầu có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, nhưng có cái chung về thần yang. Người Chăm Ahier thì tôn thờ các thần yang ở đền tháp, còn người Chăm Awal thì tôn thờ Po Awluah ở trong thánh đường. Dù đối tượng thờ phượng là thần yang trong thánh đường hay thần yang trong đền tháp đều là những thần yang chung của người Chăm theo tín ngưỡng đa thần cho 2 tôn giáo. Do đó, khi cần cúng kính, khấn nguyện thì người Chăm của 2 tôn giáo có thể đến các thánh đường hay lên đền tháp cúng kính để cầu xin phù hộ độ trì.

Nghiêm Thẩm trong bài Tôn giáo của người Chăm ở Việt Nam (1962) đã kết luận rằng: “Ấn Độ giáo của người Chăm không còn là nguyên chất mà đã bị pha trộn với tín ngưỡng địa phương. Ta đã thấy những nghi lễ về nông nghiệp đã hoàn toàn là của các dân tộc địa phương không có gì là thuộc Ấn Độ giáo” (tr. 11 Phan Quốc Anh còn có công trình Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận do Nxb Văn hóa dân tộc xuất bản năm 2006, ở đó tác giả chỉ nhắc đến biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực trong nghi lễ tang ma, hôn nhân, sinh đẻ chứ không nghiên cứu sâu về quan niệm lưỡng hợp của dân tộc Chăm. Văn Món (Sakaya) trong công trình Lễ hội của người Chăm do Nxb Văn hóa dân tộc xuất bản năm 2003 là công trình nghiên cứu rất sâu về các lễ hội của người Chăm ở Ninh Thuận, trong đó khi đề cập đến lễ hội Raja Nưgar, tác giả đã mô tả biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực rất rõ.

Bài viết Tín ngưỡng phồn thực được trích trong cuốn Tín ngưỡng dân gian trong lễ hội Chăm của tác giả Văn Món (Sakaya) đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 5/2007. Trong bài viết này tác giả đã làm rõ những biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực Chăm trong các lễ hội truyền thống, trang phục, đền tháp, đồng thời chỉ ra biểu hiện của tín ngưỡng này trong đời sống vật chất và tinh thần của người Chăm. Bên cạnh đó, tác giả Văn Món có bài viết “Văn hóa Chăm: Một cấu trúc lưỡng hợp”, Tạp chí Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, số 05, 2001, tr. 20-26; “Tư duy lưỡng hợp của nền văn hóa Chăm thử nhìn từ lý thuyết cấu trúc của Claude Lévi-Strauss ”, Tiếp cận một số vấn đề văn hóa Champa, Nxb.

Tri thức, 2013, tr. Hướng nghiên cứu mối quan hệ “Lakei – Kamei” qua văn hóa, phong tục tập quán và phong cách tư duy của cộng đồng người Chăm ở Nam Trung bộ Trong cuốn sách Cơ sở văn hóa Việt Nam (1999) của Trần Ngọc Thêm dành cho việc khảo cứu chuyên môn về văn hóa Chăm, ở đó tác giả đề cập đến ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với người Chăm; Phan Lạc Tuyên với công trình Nghiên cứu và điền dã (2007) đã khái quát về phong tục, nghệ thuật và những lễ hội truyền thống của người Chăm ở Ninh Thuận và Bình 12 Thuận; Trần Quốc Vượng chủ biên cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam (2008) đã dành một phần nói về không gian vùng văn hóa Trung Bộ, chủ yếu đề cập đến không gian văn hóa Chăm ở khu vực này. Các tác giả Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp đã công bố công trình khoa học khá hấp dẫn nhan đề: Văn hóa Chăm (1991) có nghiên cứu toàn diện hơn về hoạt động của người Chăm ở Việt Nam. Mặc dù, các tác giả chưa phân tích sâu và làm nổi bật về ý nghĩa các giá trị văn hóa.

Nhưng việc mô tả, giới thiệu các lĩnh vực thuộc đời sống xã hội và văn hóa Chăm là cần thiết. Đặc biệt, là làm rõ nguồn gốc của người Chăm. Về lĩnh vực nghệ thuật, ra đời các công trình như Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm (1995) của Lê Ngọc Canh và Tô Đông Hải; nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Hải Liên đã cho xuất bản công trình Vai trò âm nhạc trong lễ hội dân gian Chăm Ninh Thuận (1999). Ngô Văn Doanh có tác phẩm Văn hóa Champa, (1994), Văn hóa cổ Chămpa (2002).

Bài viết Những nét đặc trưng của bản sắc văn hóa dân tộc Chăm của tác giả Nguyễn Văn Tỷ đăng trong Tagalau 8, trong đó ông đề cập đến tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, nhà cửa, lối sống… (tr. Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị trong văn hóa Chăm cũng được các học giả quan tâm nghiên cứu trong đó có công trình Tục thờ c ng Ấn Độ và những yếu tố bản địa ở Champa (1928) của tác giả P.Mus; bài viết: Tại sao người Chàm Bàni kiêng thịt heo và thịt nhông? của tác giả Bố Thuận và Nguyễn Khắc Ngữ (1960); bài viết Đám ma Chàm của tác giả Thiên Sanh Cảnh, Nội san Panrang, số 2, tháng 11/1972, số 3, tháng 1/1973 và số 4, tháng 4/1973; Hôn nhân người Chàm của tác giả Nại Thành Viết, Nội san Panrang, số 5, tháng 6/1973; Phong tục cưới của dân tộc Chàm của Lê Ngọc Canh (Dân tộc học, số 4/1991)… 13 Văn Món (Sakaya ) đã tìm ra nhiều khái niệm, thuật ngữ mới như “Yang Rayak” chỉ hiện tượng thần nhập, lên đồng nhập bóng của các Shaman Chăm và Mã Lai trong luận án tiến sĩ của tác giả (2012); ông là người đầu tiên thống kê và công bố 40 nhóm hoa văn và phân loại được các nhóm màu Chăm thành hai màu chủ đạo: Yuen (âm) va Klam (dương) trong trang phục; cũng là người khám phá ra kỹ thuật và mực viết chữ trên văn bản lá buông Chăm; đặc biệt là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ Chăm Ahier và Chăm Awal trong sách lễ hội Chăm, 2003. Luận án của Văn Món về Mối quan hệ giữa văn hóa Chăm và văn hóa Mã lai thông qua lễ Lễ Raja Praong Champa và Mak Yong của Mã Lai (ĐH KHXH&NV TP. Hồ Chí Minh - 2012) cho thấy, mối quan hệ giữa văn hóa Chăm và văn hóa Mã Lai diễn ra trong một quá trình lịch sử lâu dài, được biểu hiện trên tất cả lĩnh vực như nguồn gốc tộc người, lịch sử và văn hóa, v.

Trong những sản phẩm của mối quan hệ kể trên, nổi bật là hai nghi lễ Raja Praong và Mak Yong. Lễ Raja Praong là sản phẩm của nền văn minh tiểu vương quốc Panduranga - Champa, có nguồn gốc từ lễ Mak Yong ở vùng Kelantan, ra đời trong quá trình Mã Lai hóa Champa sau thế kỷ XV khi nền văn minh Ấn Độ suy tàn, cụ thể là vào thời kỳ Po Rome thế kỷ XVII. Đầu thế kỷ XIX (1832), khi vương quốc Champa mất hẳn thì lễ Raja Praong trong cung đình Champa cũng biến mất theo. Từ đó đến nay lễ này chỉ còn tồn tại ở các làng (palei) Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận.

Trong lịch sử phát triển, lễ Mak Yong đã để lại nhiều dấu ấn trong nền văn hóa Mã Lai cũng như văn hóa của một số quốc gia khác ở khu vực Đông Nam Á. Kết quả thu được qua nghiên cứu hai nghi lễ Raja Praong và Mak Yong cho thấy, bên cạnh văn hóa bản địa, văn hóa Chăm chỉ chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ từ thế kỷ II đến thế kỷ XV, còn từ sau thế kỷ XV đến thế đầu thế kỷ XIX văn hóa Chăm tiếp tục chịu ảnh hưởng của văn hóa Mã Lai. 14 Công trình Văn hóa Chăm – Nghiên cứu và phê bình của tác giả Văn Món (Sakaya -2010), là công trình chứa đựng nhiều nội dung có giá trị từ việc chỉ ra những hạn chế của một số học giả viết không đúng về người Chăm và văn hóa Chăm với những nhận định chủ quan, không chính xác trong công trình của họ, dẫn tới chỗ làm cho người đọc hiểu lầm. Công trình: Tiếp cận một số vấn đề văn hóa Champa của Văn Món (Sakaya - 2013) đã đưa ra cách nhận diện văn hóa Chăm từ bên trong ra bên ngoài, đồng thời đặt không gian văn hóa Chăm trong mối liên hệ với khu vực, các quốc gia chịu ảnh hưởng nền văn minh Ấn Độ và rộng hơn là chịu ảnh hưởng của Châu Á.

Đây là hướng nghiên cứu mới mà trước đây ít được quan tâm khi nghiên cứu về văn hóa người Chăm. Trong những công trình trên tác giả đã trích dẫn rất nhiều tư liệu có liên quan để làm cơ sở, trong đó có một số tài liệu là văn bản chép tay của người Chăm. Tuy nhiên, qua tìm hiểu, riêng về truyền thuyết Po Nưgar người Chăm có khoảng 03 dị bản và đều từ các văn bản chép tay. Việc tam sao thất bản là điều dễ xảy ra, vì thế theo ông Quảng Văn Đại - Thôn Chất Thường, xã Phước Hậu, huyện Ninh Phước thì tài liệu viết tay trên giấy Tàu mỏng sẽ là giá trị và đáng tin cậy hơn vì niên đại của chúng có trên 100 năm.

Bài viết Hình tượng Kut trong đời sống tín ngưỡng của người Chăm của tác giả Thông Thanh Khánh (1999), được đăng trong tài liệu Dấu ấn Phật Giáo ChămPa có đề cập đến Linga – Yoni: Yếu tố âm dương. Tác giả viết: “Nếu phiến đá là một biểu tượng của linh hồn bất tử “một” tuyệt đối thì cũng ngay hình thức Kút ta lại bắt gặp một hiện thân của cặp bệ Linga (Nam) – Yoni (Nữ) được đặt thành bệ dính liền nhau” (tr.143), ở đây muốn nói đến sự biểu tượng con người là ông bà tổ tiên trong Kut là một dòng tộc trong đó có nam lakei và nữ kamei. Với những tượng đá Kut, trong đó có tượng đá Kut Po Di là thần yang Po Ina Nưgar (thần mẹ Xứ sở) ở giữa. Trong tượng đá Kut của tộc họ, Po Ina Nưgar là thần mẹ là Po Di được lộ diện, còn Yang 15 Po Yang Amâ là thần cha ẩn sâu ở dưới lòng đất bằng cây nõ nường (kuyau siam lakei).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ