Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ triết học của tác giả Trần Nguyên Khoa có nhan đề Triết lý “Lakei – Kamei” trong cộng đồng người Chăm ở Nam Trung Bộ, được bảo vệ năm 2019 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Nguyên Việt. Công trình thuộc chuyên ngành Triết học (mã số: 62220301).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc gồm 54 thành phần dân tộc (theo công bố ngày 02 tháng 3 năm 1979 của Tổng cục Thống kê). Trong đó, người Chăm là cư dân bản địa lâu đời, sử dụng ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian), có nền văn minh phát triển sớm ở khu vực Đông Nam Á với truyền thống canh tác nông nghiệp lúa nước. Địa bàn Nam Trung Bộ, tương ứng với châu Panduranga lịch sử của vương quốc Champa xưa, là nơi tập trung dân cư đông nhất và lưu giữ các di sản văn hóa cốt lõi. Trong đời sống tinh thần của cộng đồng người Chăm nơi đây, mặc dù không chịu sự chi phối trực tiếp của học thuyết âm dương Trung Hoa, nhận thức và hành động của họ lại thể hiện nhất quán quan niệm về hai mặt đối lập trong một chỉnh thể thống nhất mang tên “Lakei – Kamei” (Nam – Nữ / Đực – Cái).

Cũng như nhiều dân tộc khác ở Việt Nam, người Chăm không có truyền thống lập thuyết để xây dựng nên một hệ thống triết học kinh viện hoàn chỉnh; tuy nhiên, họ sở hữu các quan niệm mang tính tiền triết học và cận triết học. Các quan niệm này phản ánh thế giới quan và triết lý nhân sinh mộc mạc, định hướng cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng. Mặc dù đã có nhiều công trình khảo sát đời sống văn hóa - xã hội Chăm, văn bản khẳng định chưa có nghiên cứu nào tiếp cận một cách chuyên biệt dưới góc độ triết học nhằm làm rõ quá trình hình thành, nội dung, đặc điểm cũng như giá trị và ý nghĩa của triết lý “Lakei – Kamei”.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ triết lý “Lakei – Kamei” trong cộng đồng người Chăm ở Nam Trung Bộ, trên cơ sở đó chỉ ra những giá trị, hạn chế và ý nghĩa của nó trong đời sống tinh thần của cộng đồng này.

Luận án thực hiện 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Phân tích, làm rõ quá trình hình thành và phát triển triết lý “Lakei - Kamei” trong cộng đồng người Chăm ở Nam Trung Bộ.
  2. Trình bày những nội dung, đặc điểm cơ bản của triết lý “Lakei - Kamei” trong cộng đồng người Chăm ở Nam Trung Bộ.
  3. Làm rõ những giá trị, hạn chế và ý nghĩa của triết lý “Lakei – Kamei” trong đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng người Chăm ở Nam Trung Bộ.

Đối tượng nghiên cứu của công trình là triết lý “Lakei - Kamei” trong tư duy của cộng đồng người Chăm ở Nam Trung Bộ.

Phạm vi nghiên cứu được xác định:

  • Không gian: Địa bàn vùng Nam Trung Bộ, trọng tâm là hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận (thuộc địa bàn châu Panduranga lịch sử).
  • Thời gian: Khảo sát tiến trình từ thời kỳ cổ đại qua các mốc lịch sử du nhập Bàlamôn giáo (thế kỷ II), tiếp biến Hồi giáo và cải biên thời vua Po Romé (thế kỷ XVII) cho đến thực tiễn đời sống văn hóa tinh thần hiện nay.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Văn bản luận án phân chia tình hình nghiên cứu liên quan thành hai hướng tiếp cận chính:

Hướng nghiên cứu về lịch sử xã hội, tín ngưỡng và tôn giáo của cộng đồng người Chăm ở Nam Trung Bộ:

  • Nhóm học giả người Pháp từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX: E. Maspéro với Le royaume du Champa (1928) nghiên cứu lịch sử Champa qua sử liệu Trung Quốc; M. Ner với Au pays du droit maternel (1930) nghiên cứu về chế độ mẫu hệ; L. Finot với các bài khảo cứu văn bia và kiến trúc đền tháp Chăm trên BEFEO (1903, 1904) chỉ ra ảnh hưởng của Ấn Độ giáo qua việc thờ Linga – Yoni và các thần Shiva, Brahma, Vishnu; P. Mus (1928, 1933) nghiên cứu văn bia Trà Kiệu và sự dung hợp giữa yếu tố Ấn Độ với tín ngưỡng bản địa; E. Huber (1911) nghiên cứu văn bia triều Đồng Dương; P-Y. Manguin (1979) nghiên cứu sự du nhập của Islam vào Champa từ thế kỷ XVI-XVII; J. Leuba (1915) với Les Chams d’autrefois et d’aujourd’hui; E. Aymonier (1891) mô tả di tích, tín ngưỡng và nghi lễ người Hồi giáo Chăm; A. Cabaton (1901) nghiên cứu văn bản cúng tế, nghi lễ của người Chăm Ahier; E. Durand (1903) nghiên cứu người Chăm Bàni ở Ninh Thuận - Bình Thuận; P-B. Lafont (2007) khảo sát địa lý, dân số, lịch sử Champa.
  • Các tác giả Việt Nam trước và sau năm 1975: Nguyễn Khắc Ngữ (1959, 1967) khảo cứu về mẫu hệ và dã sử Chăm; Nguyễn Văn Luận (1968, 1971, 1974) khảo cứu tín ngưỡng Chăm Bàlamôn và Chăm Hồi giáo; Bố Xuân Hổ (1977, 1995, 2004) nghiên cứu tượng Kút và huyền thoại vũ trụ quan; Lý Kim Hoa (1979) nhận định tín ngưỡng dân gian Thuận Hải; Vương Hoàng Trù (1987, 2003) nghiên cứu tín ngưỡng phồn thực và đề cập đến khái niệm Padah Tok (triết lý âm dương); Phan Văn Dốp (1992) nghiên cứu tôn giáo Chăm; Nguyễn Đức Toàn (2003) nghiên cứu ảnh hưởng tôn giáo đến tín ngưỡng; Ngô Đức Thịnh (2001) nghiên cứu tín ngưỡng phồn thực; Trần Ngọc Thêm (1996, 1999) khẳng định triết lý âm dương và tín ngưỡng phồn thực là hai mặt của một vấn đề; Ngô Văn Doanh (1994, 2002) phân tích lễ hội Rija Nưgar; nhóm tác giả Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp (1991) phác thảo bức tranh văn hóa Chăm; Trần Tiến Thành (2003) nhấn mạnh tính chất âm dương thống nhất giữa cộng đồng Chăm Ahier và Chăm Awal; Phan Quốc Anh (2004, 2006) khảo cứu tôn giáo và nghi lễ vòng đời Chăm Ahier; Nghiêm Thẩm (1962) phân tích tính chất bản địa hóa của Ấn Độ giáo; Văn Món / Sakaya (2001, 2003, 2007, 2010, 2012, 2013) nghiên cứu cấu trúc lưỡng hợp, lễ hội truyền thống và mối quan hệ văn hóa Chăm - Mã Lai.

Hướng nghiên cứu mối quan hệ “Lakei – Kamei” qua văn hóa, phong tục tập quán và phong cách tư duy:

  • Các công trình văn hóa học và điền dã của Trần Quốc Vượng (1995, 2008), Phan Lạc Tuyên (2007), Lê Ngọc Canh và Tô Đông Hải (1995), Hải Liên (1999), Nguyễn Văn Tỷ, Bố Thuận, Thiên Sanh Cảnh (1972, 1973), Nại Thành Viết (1973).
  • Các nghiên cứu chuyên sâu về biểu tượng và văn bản: Thông Thanh Khánh (1999) phân tích cặp Linga – Yoni và tính chất nam lakei - nữ kamei gắn liền với tượng Kút dòng họ; Bố Xuân Hổ (2004) khảo cứu thời gian và vũ trụ quan; Thành Phần (2007, 2010) công bố danh mục thư tịch Chăm và cấu trúc xã hội Chăm; Quảng Văn Đại cung cấp hệ thống thư tịch cổ lưu giữ tại gia đình.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây chỉ dừng lại ở góc độ miêu tả lịch sử, tôn giáo học, dân tộc học hoặc văn hóa học dân gian. Mối quan hệ “Lakei – Kamei” chỉ mới được phác họa ở mức độ trực quan, chưa được khái quát và luận giải có hệ thống ở tầm mức lý luận triết học. Luận án đặt mục tiêu tiếp cận cặp phạm trù này như một chỉnh thể tiền triết học và cận triết học, làm sáng tỏ vai trò định hình nhân sinh quan, thế giới quan và tính chất chi phối của nó đối với bản sắc văn hóa Chăm Nam Trung Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án được xây dựng dựa trên phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Luận án tiếp cận khái niệm triết lý như một hình thái ý thức xã hội bắt nguồn từ thực tiễn tồn tại xã hội, phân biệt với các hệ thống triết học kinh viện chặt chẽ.

Các khái niệm và khung phân tích trọng tâm bao gồm:

  • Khái niệm lưỡng hợp "Lakei - Kamei" bắt nguồn từ tư duy "Đực - Cái" (Tanaow - Binai) trong tín ngưỡng phồn thực Đông Nam Á cổ xưa.
  • Khung biểu tượng tôn giáo nhất thể lưỡng hợp Awal - Ahier hình thành từ thế kỷ XVII.
  • Cấu trúc biểu tượng Linga – Yoni của Ấn Độ giáo được bản địa hóa.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp luận lịch sử triết học và các phương pháp nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội:

  • Phương pháp luận triết học: Logic – lịch sử, phân tích – tổng hợp, so sánh – đối chiếu, hệ thống hóa, khái quát hóa, diễn dịch và quy nạp.
  • Phương pháp liên ngành: Văn hóa học, Sử học, Văn học, Tôn giáo học, Văn bản học, Dân tộc học, Nhân học.
  • Kỹ thuật thực tế: Tham vấn chuyên gia, phỏng vấn và phỏng vấn sâu các chức sắc tôn giáo, trí thức Chăm tại địa bàn.

Nghiên cứu được triển khai theo quy trình 5 bước:

  1. Sưu tầm tư liệu gốc (thư tịch cổ, các bộ kinh), tìm hiểu nghi lễ, phỏng vấn chức sắc và trí thức Chăm.
  2. Hệ thống hóa tư liệu và phân tích quá trình hình thành cùng các nội dung cơ bản của “Lakei – Kamei”.
  3. Xác định mối liên hệ giữa yếu tố lịch sử cụ thể và logic thời đại.
  4. Khái quát lý luận bằng diễn dịch và quy nạp từ hiện tượng văn hóa thực tiễn.
  5. Thực hiện phỏng vấn sâu để làm rõ giá trị và ý nghĩa thực tế của triết lý.

Nguồn tư liệu sử dụng bao gồm:

  • Các văn bản chép tay do G. Moussay sưu tầm trước năm 1975: Bộ kinh lớn Agal praong viết trên lá buông của tăng lữ Paséh (ký hiệu VHC-057 và VHC-060); các tập tài liệu chép tay A4 gồm tập G.42 (triết lý, vũ trụ quan), tập 8 (biên niên sử dak rai patao cam), tập 1 (kinh cúng tế danak ngap), tập 169 (nghi lễ múa Rija Praong, Rija Dayep), tập 54 (xem thiên văn, đất đai gleng sakul); tài liệu agal asit thu thập từ người Raglai.
  • Thư tịch cổ trong công trình Danh mục thư tịch Chăm ở Việt Nam (2007) của Thành Phần: Các văn bản truyền thuyết vũ trụ và địa lý như sakarai makan oh ka jíeng tanâh rija bithar mang ka jiéng, Krân ka tanâh rija dom kot tik, Sakarai ka mang kal oh ka jieng tanâh rija ngan a dam o.
  • Thư tịch cổ do ông Quảng Văn Đại (thôn Chất Thường, xã Phước Hậu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận) lưu giữ, tiêu biểu là văn bản ký hiệu MS 70/QVĐ-CT về quan niệm thời gian và lễ tục.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái niệm về triết lý “Lakei - Kamei” và cơ sở hình thành, phát triển triết lý “Lakei - Kamei” trong cộng đồng người Chăm ở Nam Trung Bộ

Chương này tập trung giải định khái niệm, khảo sát các điều kiện tự nhiên - xã hội và phục dựng các giai đoạn lịch sử hình thành triết lý.

  • Khái niệm: “Lakei” nghĩa là nam, nam tính; “Kamei” nghĩa là nữ, nữ tính. Cặp từ này bắt nguồn từ tư duy lưỡng hợp “Đực – Cái” (tiếng Chăm: “Tanaow – Binai”) của cư dân nông nghiệp Đông Nam Á cổ đại. Tác giả lựa chọn cách phiên âm chữ Latinh là /lakei – kamei/ theo công trình Grammaire de la langue Cham của Gérard Moussay. Dù cộng đồng Chăm theo chế độ mẫu hệ (yếu tố nữ thường được tôn vinh), luận án giữ trật tự “Lakei – Kamei” để thống nhất với quy luật ngôn ngữ và văn hóa dân gian “Tanaow – Binai”. Triết lý “Lakei – Kamei” được định vị là nhận thức tiền triết học, khẳng định sự tồn tại và sinh sôi của vũ trụ phụ thuộc vào mối quan hệ tương hỗ, hòa hợp giữa hai mặt đối lập.
  • Điều kiện hình thành:
    • Điều kiện tự nhiên và lịch sử: Vương quốc Champa gồm 5 tiểu quốc liên kết theo mô hình Mandala (Indrapura, Amaravati, Vijaya, Kauthara, Panduranga). Châu Panduranga (Ninh Thuận - Bình Thuận) có vị trí tương đối độc lập, từng tồn tại triều Hoàn Vương (738-859) với 5 đời vua và giữ vai trò phó vương quốc từ năm 859 đến 1471. Địa bàn có cảng thị Hòn Đỏ - Mỹ Tân, gắn liền với di chỉ khảo cổ mộ táng Sa Huỳnh tại Nhơn Hải, Xóm Cồn, Bình Ba. Địa hình bị chia cắt bởi các nhánh Trường Sơn đâm ra biển (mũi Hời, mũi Dinh, mũi Chẹt Cà Ná, mũi Né); thế núi lửa tự nhiên hình thành các cặp đôi như núi Trà Cang (hướng tây - Yang - Nam) đối sánh với mũi Dinh (hướng đông - Yin - Nữ). Khí hậu phân hóa thành mùa mưa (tháng 9-11) và mùa khô (tháng 2-8).
    • Nguồn gốc dòng tộc và mẫu hệ: Người Chăm thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Xã hội cổ đại từng tiếp thu mô hình 4 đẳng cấp Ấn Độ (Brahman, Ksatriya, Vaisya, Sudra, cùng tầng lớp lao dịch phụ thuộc halun), liên kết hai dòng tộc lớn là dòng Dừa (Narikela vam’sa ở đồng bằng phía Bắc) và dòng Cau (Kramuka vam’sa ở vùng núi phía Nam Panduranga). Sau khi Champa suy tàn, cấu trúc xã hội rút lại còn 2 tầng lớp: quý tộc (thar patao bamao mâh) và thường dân (bal li-ua hua hawei). Chế độ mẫu hệ chi phối mạnh mẽ: quyền thừa kế tài sản thuộc về con gái út, người cậu (Cei) giữ quyền lực gia đình, trưởng tộc họ (akauk gep) giải quyết nội bộ, nghĩa địa dòng mẹ (kut, ghul) và vật thờ tổ (ciét ataw, ciét praok) là biểu trưng huyết thống.
    • Cơ cấu tổ chức xã hội và kinh tế: Tồn tại 2 tầng lớp là chức sắc Hahlau Janâng (áo trắng - aw kaok) và thường dân Gahéh (áo đen - aw juk). Kinh tế cổ truyền kết hợp nông nghiệp lúa nước dẫn thủy nhập điền, canh tác nương rẫy ăn nước trời (trồng mè, đậu, chuối, mía, dừa), nghề đi biển và khai thác lâm sản.
  • Các thời kỳ phát triển:
    • Thời kỳ Bàlamôn giáo du nhập (từ thế kỷ II qua bia Võ Cạnh; định hình tại Mỹ Sơn thế kỷ VIII; Phật giáo xuất hiện thế kỷ VII-IX tại Đồng Dương).
    • Thời kỳ bản địa hóa và tiếp biến Hồi giáo: Vào thế kỷ XVI-XVII, Hồi giáo thâm nhập qua thương nhân Mã Lai và Ả Rập. Dưới triều vua Po Romé (thế kỷ XVII), người Chăm đã dung hòa hai tôn giáo để hình thành cấu trúc nhị phân “Awal – Ahier”. Chăm Awal (Bàni) phụng sự Po Awluah tại thánh đường (sang magik), mang tính nữ (kamei), do tăng lữ Acar đảm trách; Chăm Ahier (Bàlamôn) phụng sự thần Yang tại đền tháp (bimong kalan), mang tính nam (lakei), do tăng lữ Paséh đảm trách.
Lĩnh vực Biểu hiện thuộc Lakei (Nam tính / Ahier) Biểu hiện thuộc Kamei (Nữ tính / Awal)
Tôn giáo - Chức sắc Chăm Ahier (Bàlamôn), tăng lữ Paséh, vật tổ baganrac Chăm Awal (Bàni), tăng lữ Acar, vật tổ trượng gai bhong
Thần linh (Yang) Po Débita, Po Yang, Yang Amâ, Mraong lakei harei tagok Po Tanâh Riya, Po Nâbi, Po Inâ Nagar, Bia kamei harei tamâ
Kiến trúc Đền tháp (bimong kalan), nhà tục (sang yơ), bệ linga Thánh đường (sang magik), nhà bếp (sang aging), bệ yoni
Nghi lễ - Tín ngưỡng Lễ Katé, thiêu xác (ndam cuh), lễ múa dòng núi (rija praong atuw cek) Lễ Cambur, táng chôn (ndam der), lễ múa dòng biển (rija praong atuw tathik)
Không gian - Thời gian Phía sau (likuk), trên (ngaok), phải (hnuk), đông (pur), ngày (harei) Phía trước (anak), dưới (ala), trái (iw), tây (pai), đêm (malam)
Lịch pháp - Chu kỳ Can Ahier (dan bak vaw jim), sáng (hadah), giờ nam (tuk lakei) Can Awal (liéh hak jim jây), tối (sup), giờ nữ (tuk kamei)

Hệ thống thứ bậc chức sắc giữa hai nhóm tôn giáo được phân định tương ứng:

Thứ bậc Giới chức sắc Awal (Kamei) Giới chức sắc Ahier (Lakei)
Cao nhất Po Gru Po Adhia
Cao Imâm Bac
Trung Katip Paséh puah
Thấp Mâdin Paséh liah
Thấp nhất Acar jama-ah Paséh ndung akaok

Chương 2: Một số nội dung, đặc điểm chủ yếu của triết lý “Lakei - Kamei” trong cộng đồng người Chăm ở Nam Trung Bộ

Chương này trình bày các nội dung cốt lõi của triết lý trên các phương diện nhận thức và chỉ ra các đặc điểm tư duy đặc thù của người Chăm:

  • Phương diện vũ trụ quan: Người Chăm quan niệm vũ trụ khởi thủy từ sự tương tác giữa hai yếu tố Lakei và Kamei. Sự sinh sôi đòi hỏi sự cân bằng, thống nhất giữa hai mặt đối lập. Thời gian trong ngày được phân chia thành 8 giờ (tuk), mỗi giờ bằng 90 phút thông thường, gồm 4 giờ nam (tuk lakei) và 4 giờ nữ (tuk kamei) luân phiên nhau (dựa trên tài liệu MS 70/QVĐ-CT). Ban ngày thuộc nam, ban đêm thuộc nữ; buổi sáng thuộc nam, buổi chiều thuộc nữ.
  • Phương diện nhân sinh quan: Triết lý thể hiện rõ qua biểu tượng tượng Kút trong nghĩa địa dòng họ mẹ. Tượng Kút trung tâm là Po Di đại diện cho thần Mẹ Xứ sở Po Ina Nưgar lộ diện trên mặt đất, trong khi thần Cha Yang Po Yang Amâ ẩn sâu dưới lòng đất biểu thị qua cây nõ nường (kuyau siam lakei). Hai bên tượng Kút Po Di, tượng Kút phía Đông biểu thị cho phái nam (lakei), tượng Kút phía Tây biểu thị cho phái nữ (kamei). Con người sinh ra và chết đi đều gắn liền với hai dòng họ nội - ngoại, thể hiện qua hai nghi thức tang ma đối lập: táng chôn (ndam der của Awal) và hỏa thiêu (ndam cuh của Ahier).
  • Phương diện đời sống văn hóa: Triết lý chi phối hệ thống lễ hội (lễ hội Katé cúng thần Yang nam, lễ hội Cambur cúng thần Yang nữ; các lễ múa Rija Praong, Rija Dayep, Rija Nưgar); trang phục truyền thống phân định theo hai gam màu chủ đạo gồm màu Yuen (âm) và màu Klam (dương) với 40 nhóm hoa văn; các vật dụng gia đình, kiến trúc nhà cửa (sang mayau đối sánh sang tong).
  • Các đặc điểm chủ yếu:
    • Sự tương đồng và khác biệt so với vũ trụ quan triết học Trung Hoa cổ đại: Cùng phản ánh tư duy phân đôi hai mặt đối lập tương tác hài hòa; tuy nhiên, nếu âm dương Trung Hoa mang tính chất trừu tượng hóa và duy lý hóa cao, thì “Lakei – Kamei” mang tính trực quan sinh động, bắt nguồn từ tín ngưỡng phồn thực và gắn chặt với chế độ mẫu hệ.
    • Thể hiện vai trò chủ đạo của Kamei (nữ) so với Lakei (nam): Do chế độ mẫu hệ quy định, yếu tố nữ giữ vai trò trung tâm trong huyết thống, phân chia tài sản và quản lý gia đình dòng tộc.
    • Thể hiện tính thần quyền: Triết lý được bảo bọc trong hệ thống niềm tin tôn giáo, gắn với quyền uy của đấng tạo hóa Po Awluah và hệ thống thần Yang đền tháp.
    • Thể hiện tính quy kết trong nhận thức: Mọi hiện tượng tự nhiên, thời gian, không gian, đồ vật và quan hệ xã hội đều được gán ghép và phân định vào một trong hai cực tính nam hoặc nữ.

Chương 3: Giá trị, hạn chế và ý nghĩa của triết lý “Lakei - Kamei” trong cộng đồng người Chăm ở Nam Trung Bộ

Chương này đánh giá các mặt giá trị, chỉ ra các điểm giới hạn lịch sử và nêu bật ý nghĩa thực tiễn của triết lý:

  • Giá trị cốt lõi:
    • Là cấu trúc nền tảng trong tư tưởng của người Chăm, giúp cộng đồng nhận thức về thế giới tự nhiên và vị trí của con người trong vũ trụ.
    • Tạo tiền đề hình thành các phong tục, lễ nghi và nếp sống văn hóa truyền thống đặc thù.
    • Định hướng tư duy thực tiễn, giúp người Chăm tìm kiếm sự cân bằng và các giải pháp ứng xử hòa hợp với môi trường tự nhiên khắc nghiệt của vùng khô hạn Nam Trung Bộ.
  • Hạn chế chủ yếu:
    • Xét trong điều kiện hiện nay, triết lý mang nặng tính trực quan và tiền triết học, chưa phát triển thành hệ thống lý luận khoa học hoàn chỉnh.
    • Tính quy kết thần quyền tạo nên tâm lý sùng bái tín ngưỡng, dẫn đến việc duy trì một số hủ tục và nghi lễ tốn kém thời gian, kinh phí (như các lễ nghi tang ma kéo dài, cúng bái phức tạp).
    • Tính bảo thủ của các quy định dòng họ mẫu hệ có thể gây trở ngại cho sự thích nghi với đời sống kinh tế - xã hội hiện đại.
  • Ý nghĩa thực tiễn:
    • Duy trì sự đoàn kết và hòa hợp tôn giáo: Đây là cơ chế tư tưởng giúp hóa giải mâu thuẫn lịch sử giữa Chăm Bàlamôn và Chăm Bàni, biến hai cộng đồng tôn giáo khác biệt thành hai bộ phận hữu cơ không thể tách rời trong cấu trúc “nhất thể lưỡng hợp”.
    • Góp phần giáo dục đạo lý, cội nguồn và phong tục truyền thống cho các thế hệ người Chăm, giữ gìn ý thức bản sắc tộc người trong bối cảnh giao lưu văn hóa.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án làm rõ khái niệm “Lakei – Kamei” và triết lý “Lakei – Kamei” dưới góc độ triết học văn hóa. Công trình chứng minh rằng đây là một hình thái tiền triết học và cận triết học đặc thù của người Chăm, hình thành từ sự kết hợp giữa tư duy phồn thực bản địa Đông Nam Á với quá trình tiếp biến Bàlamôn giáo và Hồi giáo. Luận án giải mã cơ chế dung hòa tôn giáo độc đáo, chỉ ra cách thức người Chăm sử dụng mô hình nhị phân lưỡng hợp để tổ chức đời sống xã hội và thiết lập trạng thái cân bằng tinh thần.

Về mặt thực tiễn, luận án hệ thống hóa nguồn tư liệu thư tịch cổ trên lá buông và giấy bản, kết hợp với các dữ liệu điền dã thực tế tại Ninh Thuận và Bình Thuận. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học cho việc đánh giá văn hóa Chăm, đóng vai trò tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu triết học văn hóa dân tộc thiểu số tại Việt Nam.

Về mặt giải pháp, văn bản nhấn mạnh yêu cầu phải hiểu đúng triết lý nhân sinh của người Chăm để thực hiện công tác bảo tồn văn hóa truyền thống lâu bền; đề xuất việc phát huy các giá trị đoàn kết tôn giáo, đồng thời từng bước vận động đồng bào tinh giản các nghi thức cúng bái rườm rà, tốn kém nhằm phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án nêu rõ một số khó khăn và giới hạn tư liệu trong quá trình nghiên cứu:

  • Nguồn tư liệu thành văn của người Chăm chủ yếu là văn bản chép tay trên lá buông hoặc giấy mỏng, được lưu giữ phân tán trong nhân dân và các chức sắc tôn giáo. Nhiều tài liệu rơi vào tình trạng tam sao thất bản (chẳng hạn riêng truyền thuyết Po Nưgar đã có 3 dị bản chép tay khác nhau), đòi hỏi công tác thẩm định niên đại và văn bản học phức tạp.
  • Triết lý “Lakei – Kamei” mới dừng lại ở dạng thức kinh nghiệm, trực quan tiền triết học, chưa được khái quát hóa thành hệ thống phạm trù và học thuyết hoàn chỉnh trong lịch sử, gây trở ngại cho việc chuẩn hóa lý luận triết học thuần túy.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản gợi mở:

  • Tiếp tục sưu tầm, dịch thuật và giải mã có hệ thống các văn bản thư tịch cổ Chăm đang lưu lạc trong cộng đồng.
  • Mở rộng phạm vi đối sánh mối quan hệ văn hóa giữa Chăm với các dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Đảo tại Tây Nguyên (Raglai, Churu, Jarai, Êđê) và các nền văn hóa Đông Nam Á hải đảo (như mối liên hệ giữa lễ Raja Praong của Chăm và lễ Mak Yong của Mã Lai).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên thuộc các chuyên ngành Triết học, Triết học văn hóa, Tôn giáo học, Văn hóa học, Lịch sử và Dân tộc học.
  • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến văn hóa Champa cổ và cộng đồng người Chăm đương đại tại Nam Trung Bộ.
  • Cán bộ làm công tác quản lý văn hóa, hoạch định chính sách dân tộc và tôn giáo tại các địa phương có đông đồng bào Chăm sinh sống như Ninh Thuận và Bình Thuận.

Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao bao gồm: hệ thống bảng phân loại các cặp đối lập lưỡng hợp trong nghi lễ và đời sống Chăm; khung đối sánh cấp bậc chức sắc giữa hệ thống Chăm Awal và Chăm Ahier; phương pháp tiếp cận văn bản học kết hợp phỏng vấn sâu nhân chứng văn hóa bản địa.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao luận án dùng thuật ngữ “Lakei – Kamei” thay vì “Kamei – Lakei” dù người Chăm theo chế độ mẫu hệ?
Trong văn hóa truyền thống của cộng đồng Chăm ở Nam Trung Bộ đang tồn tại quy luật đối xứng nhị phân “Tanaow – Binai” (Đực – Cái) và “Lakei – Kamei” (Nam – Nữ) được sử dụng phổ biến trong ngôn ngữ và phong tục. Dù chế độ mẫu hệ đề cao vai trò phụ nữ, tác giả giữ trật tự “Lakei – Kamei” nhằm phù hợp với quy luật ngôn ngữ dân gian đã định hình này.

Khái niệm “Awal – Ahier” xuất hiện trong bối cảnh lịch sử nào và biểu thị điều gì?
Cụm từ “Awal – Ahier” xuất hiện vào thời vua Po Romé (thế kỷ XVII), khi xã hội Chăm tại Nam Trung Bộ đối mặt với sự phân hóa giữa người theo Bàlamôn giáo và người theo Hồi giáo. “Awal” (tiếng Ả Rập nghĩa là trước, khởi đầu) chỉ nhóm Chăm theo Hồi giáo Bàni, biểu tượng cho người Mẹ (âm tính / Kamei). “Ahier” (tiếng Ả Rập nghĩa là sau, cuối cùng) chỉ nhóm Chăm Bàlamôn chấp nhận Po Awluah sau thời Po Romé, biểu tượng cho người Cha (dương tính / Lakei). Hai nhóm cấu thành một chỉnh thể nhất thể lưỡng hợp.

Sự phân chia thời gian trong ngày theo triết lý “Lakei – Kamei” được ghi chép như thế nào?
Theo thư tịch cổ Chăm (ký hiệu MS 70/QVĐ-CT của ông Quảng Văn Đại), người Chăm phân chia một ngày thành 8 giờ (tuk), mỗi giờ tương đương 90 phút thông thường. Trong đó, có 4 giờ nam (tuk lakei) và 4 giờ nữ (tuk kamei) luân phiên nhau; buổi sáng và ban ngày thuộc nam (lakei), buổi chiều và ban đêm thuộc nữ (kamei).

Tượng Kút trong nghĩa địa dòng họ thể hiện triết lý “Lakei – Kamei” ra sao?
Tượng Kút là nơi quy tụ linh hồn tổ tiên theo dòng họ mẹ. Tượng Kút trung tâm là Po Di biểu thị cho thần Mẹ Xứ sở Po Ina Nưgar, bên dưới lòng đất đặt cây nõ nường tượng trưng cho thần Cha Yang Po Yang Amâ. Hai bên tượng Kút trung tâm, tượng Kút phía Đông dành cho nam giới (lakei), tượng Kút phía Tây dành cho nữ giới (kamei).

Cơ cấu cư trú làng (Palei) của người Chăm có nét đặc thù gì?
Khác với nhiều dân tộc cư trú theo từng nóc nhà riêng lẻ, làng Chăm tổ chức theo từng cụm nhà trong khuôn viên riêng biệt của đại gia đình mẫu hệ có cùng huyết hệ dòng mẹ. Làng của cộng đồng Ahier thường có đền thờ thần Yang Danaok ở ngoài làng và nhà làng (Sang Palei); làng của cộng đồng Awal bố trí thêm thánh đường (Sang Mâgik) ở giữa làng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Nguyên Khoa đã hệ thống hóa triết lý “Lakei – Kamei” như một biểu hiện tiền triết học và cận triết học đặc trưng của cộng đồng người Chăm ở Nam Trung Bộ. Công trình làm rõ nguồn gốc của triết lý từ tư duy lưỡng hợp bản địa kết hợp với quá trình tiếp biến văn hóa Ấn Độ và Hồi giáo, hình thành nên cấu trúc nhất thể lưỡng hợp Awal – Ahier từ thế kỷ XVII. Luận án khẳng định giá trị của triết lý trong việc duy trì sự gắn kết tộc người, hòa hợp tôn giáo và định hướng nhân sinh quan, đồng thời chỉ ra những hạn chế mang tính lịch sử của nhận thức thần quyền trong bối cảnh xã hội hiện đại.