Luận Án Tiến Sĩ Về Triết Học Tư Duy Sáng Tạo

Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số vấn đề triết học về tư duy sáng tạo, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho vấn đề thực tiễn.

Chuyên ngành

Triết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2018

165
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN

1.1. Tình hình nghiên cứu về tư duy, sáng tạo và tư duy sáng tạo

1.2. Tình hình nghiên cứu về tư duy

1.3. Tình hình nghiên cứu về sáng tạo và tư duy sáng tạo

1.4. Tình hình nghiên cứu về các loại hình của tư duy sáng tạo

1.5. Tình hình nghiên cứu về tư duy sáng tạo trong khoa học

1.6. Tình hình nghiên cứu về tư duy sáng tạo trong nghệ thuật

1.7. Tình hình nghiên cứu về tư duy sáng tạo trong các lĩnh vực khác

1.8. Tình hình nghiên cứu về các yếu tố chủ quan và điều kiện khách quan tác động đến tư duy sáng tạo

1.9. Tình hình nghiên cứu về những yếu tố chủ quan tác động đến tư duy sáng tạo

1.10. Tình hình nghiên cứu về những điều kiện khách quan tác động đến tư duy sáng tạo

1.11. Đánh giá tình hình nghiên cứu về tư duy sáng tạo và những vấn đề đặt ra đối với luận án

2. CHƯƠNG 2: TƯ DUY VÀ TƯ DUY SÁNG TẠO

2.1. Bản chất của tư duy và sáng tạo

2.2. Bản chất của tư duy

2.3. Bản chất của sáng tạo

2.4. Tư duy sáng tạo

2.5. Bản chất, đặc điểm của tư duy sáng tạo

2.6. Tính quy luật của tư duy sáng tạo. Các cấp độ, loại hình của tư duy sáng tạo

2.7. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ LOẠI HÌNH TƯ DUY SÁNG TẠO CHỦ YẾU

3.1. Tư duy sáng tạo trong khoa học

3.2. Bản chất của khoa học và đặc trưng của tư duy khoa học

3.3. Biểu hiện của tư duy sáng tạo trong khoa học

3.4. Tư duy sáng tạo trong nghệ thuật

3.5. Bản chất của nghệ thuật và đặc trưng của tư duy nghệ thuật

3.6. Biểu hiện của tư duy sáng tạo trong nghệ thuật

3.7. Tư duy sáng tạo trong cuộc sống đời thường

3.8. Cuộc sống đời thường và những vấn đề đặt ra đối với tư duy

3.9. Biểu hiện của tư duy sáng tạo trong cuộc sống đời thường

3.10. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: NHỮNG YẾU TỐ CHỦ QUAN VÀ ĐIỀU KIỆN KHÁCH QUAN THÚC ĐẨY TƯ DUY SÁNG TẠO

4.1. Những yếu tố chủ quan thúc đẩy tư duy sáng tạo

4.2. Những yếu tố thuộc về tư chất, năng khiếu. Nhân tố tâm lý - tinh thần

4.3. Những điều kiện khách quan thúc đẩy tư duy sáng tạo

4.4. Sự phát triển kinh tế - điều kiện thúc đẩy tư duy sáng tạo

4.5. Điều kiện văn hóa - xã hội thúc đẩy tư duy sáng tạo

4.6. Về các yếu tố chủ quan và điều kiện khách quan thúc đẩy tư duy sáng tạo ở Việt Nam hiện nay

4.7. Các yếu tố thuộc về tinh thần, tâm lý, tính cách của người Việt thúc đẩy tư duy sáng tạo

4.8. Những điều kiện khách quan thúc đẩy tư duy sáng tạo ở Việt Nam hiện nay

4.9. Kết luận chương 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về triết học tư duy sáng tạo và sự phát triển

Triết học tư duy sáng tạo là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong khoa học xã hội, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức hiện nay. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ bản chất của tư duy sáng tạo mà còn chỉ ra những yếu tố thúc đẩy sự phát triển của nó. Tư duy sáng tạo không chỉ là khả năng phát sinh ý tưởng mới mà còn là quá trình chuyển hóa những ý tưởng đó thành hiện thực. Việc nghiên cứu triết học tư duy sáng tạo giúp nâng cao năng lực sáng tạo của con người, từ đó đóng góp vào sự phát triển kinh tế và xã hội.

1.1. Khái niệm và bản chất của tư duy sáng tạo

Tư duy sáng tạo được định nghĩa là khả năng phát sinh ra những ý tưởng mới và độc đáo. Bản chất của tư duy sáng tạo không chỉ nằm ở việc tạo ra cái mới mà còn ở khả năng kết hợp, phân tích và tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Theo nghiên cứu của Đào Thị Hữu, tư duy sáng tạo có thể được xem như một quá trình phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn từ nhận thức đến thực hiện.

1.2. Vai trò của triết học trong nghiên cứu tư duy sáng tạo

Triết học đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu tư duy sáng tạo. Các nhà triết học như Karl Popper và Thomas Kuhn đã chỉ ra rằng sự phát triển của tri thức và tư duy sáng tạo không thể tách rời khỏi bối cảnh xã hội và văn hóa. Nghiên cứu triết học giúp làm rõ các quy luật và nguyên tắc của tư duy sáng tạo, từ đó tạo nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo.

II. Những thách thức trong nghiên cứu tư duy sáng tạo hiện nay

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về tư duy sáng tạo, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Một trong những thách thức lớn nhất là việc thiếu hụt các nghiên cứu lý luận mang tính khái quát. Nhiều công trình hiện nay chủ yếu chỉ lược thuật lại các kết quả nghiên cứu của nước ngoài mà chưa có những đóng góp mới mẻ. Điều này dẫn đến việc thiếu sự hiểu biết sâu sắc về bản chất và quy luật của tư duy sáng tạo trong bối cảnh Việt Nam.

2.1. Thiếu hụt nghiên cứu lý luận về tư duy sáng tạo

Nghiên cứu về tư duy sáng tạo tại Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào việc lược thuật các kết quả nghiên cứu từ nước ngoài. Điều này dẫn đến việc thiếu các khái niệm và lý thuyết riêng biệt phù hợp với bối cảnh văn hóa và xã hội Việt Nam. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để phát triển lý luận về tư duy sáng tạo trong nước.

2.2. Các yếu tố cản trở sự phát triển tư duy sáng tạo

Nhiều yếu tố cản trở sự phát triển tư duy sáng tạo, bao gồm môi trường giáo dục chưa khuyến khích sự sáng tạo, thiếu các chính sách hỗ trợ từ chính phủ và sự thiếu hụt nguồn lực cho nghiên cứu. Những yếu tố này cần được nhận diện và giải quyết để nâng cao năng lực sáng tạo của con người.

III. Phương pháp nghiên cứu tư duy sáng tạo hiệu quả

Để nghiên cứu tư duy sáng tạo một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu đa dạng và linh hoạt. Các phương pháp này không chỉ bao gồm nghiên cứu lý thuyết mà còn cần kết hợp với thực tiễn để có cái nhìn toàn diện hơn về tư duy sáng tạo. Việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại sẽ giúp làm rõ hơn các yếu tố tác động đến tư duy sáng tạo.

3.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu lý thuyết là bước đầu tiên quan trọng trong việc xây dựng khái niệm và lý thuyết về tư duy sáng tạo. Các nhà nghiên cứu cần tổng hợp và phân tích các tài liệu hiện có để hình thành cơ sở lý luận vững chắc cho các nghiên cứu tiếp theo.

3.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Nghiên cứu thực tiễn giúp kiểm chứng các lý thuyết và khái niệm đã được xây dựng. Việc thực hiện các khảo sát, phỏng vấn và nghiên cứu trường hợp sẽ cung cấp những dữ liệu quý giá, từ đó giúp làm rõ hơn các yếu tố ảnh hưởng đến tư duy sáng tạo trong thực tế.

IV. Ứng dụng tư duy sáng tạo trong các lĩnh vực khác nhau

Tư duy sáng tạo không chỉ có giá trị trong lĩnh vực khoa học mà còn có thể áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như nghệ thuật, kinh doanh và giáo dục. Việc ứng dụng tư duy sáng tạo sẽ giúp nâng cao hiệu quả công việc và tạo ra những sản phẩm, dịch vụ mới mẻ, đáp ứng nhu cầu của xã hội.

4.1. Tư duy sáng tạo trong khoa học

Trong khoa học, tư duy sáng tạo đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện và phát triển các lý thuyết mới. Các nhà khoa học cần có khả năng tư duy sáng tạo để giải quyết các vấn đề phức tạp và tìm ra những giải pháp đột phá.

4.2. Tư duy sáng tạo trong nghệ thuật

Nghệ thuật là lĩnh vực mà tư duy sáng tạo được thể hiện rõ nét nhất. Các nghệ sĩ cần có khả năng tư duy sáng tạo để tạo ra những tác phẩm độc đáo và mang tính biểu tượng. Việc khuyến khích tư duy sáng tạo trong nghệ thuật sẽ giúp phát triển văn hóa và xã hội.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của tư duy sáng tạo

Tư duy sáng tạo là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển của con người và xã hội. Việc nghiên cứu và phát triển tư duy sáng tạo không chỉ giúp nâng cao năng lực cá nhân mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước. Trong tương lai, cần có những chính sách và chương trình hỗ trợ để khuyến khích tư duy sáng tạo trong mọi lĩnh vực.

5.1. Tầm quan trọng của tư duy sáng tạo trong tương lai

Tư duy sáng tạo sẽ ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh ngày càng gay gắt. Các quốc gia cần đầu tư vào giáo dục và nghiên cứu để phát triển tư duy sáng tạo cho thế hệ trẻ.

5.2. Các chính sách hỗ trợ phát triển tư duy sáng tạo

Cần có các chính sách hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức xã hội để khuyến khích tư duy sáng tạo. Việc tạo ra môi trường thuận lợi cho sự sáng tạo sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia trong tương lai.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ một số vấn đề triết học về tư duy sáng tạo

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án bao gồm 4 chương với 12 tiết. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu vềtƣ duy, sáng tạo và tƣ duy sáng tạo 1. Tình hình nghiên cứu về tư duy Trong hệ vấn đề rộng lớn được nghiên cứu trong các trước tác của C.Lênin, vấn đề tư duy là một trong những vấn đề triết học căn bản được đề cập đến, mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại còn được Ph.Ăngghen coi là điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học.

Những tác phẩm của các ông như Luận cương về Phoiơbắc (C.Mác; 1845), Hệ tư tưởng Đức (C. Ăngghen;1845 - 1846), Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản (C. Ăngghen; 1848), Bộ Tư bản (C. Ăngghen;1867, 1884, 1894), Biện chứng của tự nhiên (Ph.

Ăngghen; 1886), Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (V.Lênin; 1909), và Bút kí triết học (V.Lênin; 1915 - 1916) đã thể hiện rõ vấn đề là: điểm xuất phát nghiên cứu tư duy trong triết học mácxít không phải từ “vương quốc tư tưởng” của những trừu tượng thuần túy mà từ những “cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ” [82; 28] tức từ hoạt động sống hiện thực của các cá nhân lao động tập thể đang từng ngày, từng giờ sản xuất ra chính đời sống của mình. Con người cùng với tư duy của họ sinh thành từ trong chính đời sống hiện thực ấy, tư duy luôn được soi chiếu từ đời sống thực tiễn sinh động. Triết học mácxít không chỉ xem xét quá trình phát triển của thế giới khách quan mà còn xem xét quá trình phát triển của tư duy giúp khám khá lôgic của quá trình phát triển tư duy, hình thành tri thức mới. Như vậy, xem xét tư duy dưới góc độ triết học mácxít gồm hai nội dung quan trọng: nhìn nhận tư duy như thành tố không thể tách rời của đời sống con người, và cùng với sự vận động của đời sống ấy, tư duy luôn vận động sản sinh quan niệm mới, tư tưởng mới về hiện thực.

Đó là những quan điểm, cách tiếp cận có tính chất nền tảng cho luận án khi nghiên cứu vấn đề tư duy và tư duy sáng tạo. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiếp tục tư tưởng của các bậc tiền bối, trong những tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về tư duy có cuốn “Lôgic học biện chứng”[61] của tác giả E. Những quan niệm của ông về tư duy có vai trò phương pháp luận rất quan trọng đối với việc xác định bản chất của tư duy của luận án. Trong sự quan tâm hết sức rộng đối với vấn đề tư duy như một vấn đề quan trọng của triết học, đồng thời là đối tượng nghiên cứu của lôgic học biện chứng, sáng tạo triết học nổi bật của Ilencov chính là vấn đề “cái tư tưởng”, mà qua đó tác giả đã làm rõ nguồn gốc, bản chất của tư duy.

Ilencov đã phát triển tư tưởng về “sự đồng nhất tư duy và tồn tại”, trong đó nội dung của tư duy, do vậy cả của tư duy sáng tạo chính là bản thân hiện thực đời sống con người, là tính quy luật của tự nhiên đã bị “vượt bỏ” trong tồn tại văn hóa của nó. Văn hóa không phải là sự tiếp tục của tự nhiên mà là sự “vượt bỏ” nó, là tự nhiên ở trình độ con người. “Cái vật chất” là khởi đầu của “cái tư tưởng”. Ilencov đã nhìn ra tính thống nhất trong chỉnh thể của “cái tư tưởng” và “cái vật chất” trong hoạt động người, không có tư tưởng thiếu vật chất và cũng không có vật chất thiếu tư tưởng trong sinh tầng văn hóa của tồn tại người.

Trong hoạt động người diễn ra sự chuyển hóa “cái vật chất” thành “cái tư tưởng” và ngược lại.Mác quan niệm về một “giới tự nhiên nhuốm đầy lý tính”, với Ilencov thế giới văn hóa của con người cũng thấm đẫm “tính tư tưởng”. “Cái tư tưởng” là phương thức, hình thức hoạt động sống của con người xã hội. Tư duy chỉ sinh thành, phát triển trong hoạt động sống đó, trong thế giới văn hóa chứ không phải thuộc tính bẩm sinh của bộ não. Với quan điểm của mình, Ilencov làm rõ biện chứng của sự sinh thành năng lực tư duy, sự hình thành nhân cách con người, hơn ai hết ông hiểu được giá trị, tầm vóc và sức mạnh của con người trong thế giới do nó tạo nên.

Quan điểm của ông là cơ sở cho cách tiếp cận của luận án đối với khái niệm tư duy sáng tạo. Thế kỉ XX với sự phát triển như vũ bão của khoa học, có đến gần 90% những phát minh và khám phá của loài người được thực hiện ở thế kỉ này đã đặt ra trước các nhà triết học vấn đề có tính thời sự: tri thức tăng trưởng như thế nào. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong cuốn “Tri thức khách quan”[103] của mình tác giả Karl Popper (2014) đã đề cập đến những khía cạnh cốt lõi nhất của vấn đề tri thức: quan niệm về chân lý - chân lý không phải là cái chúng ta sở hữu mà là cái chúng ta đang tìm kiếm, “chân lý là cứu cánh của khoa học hiểu theo nghĩa là một sự gần đúng hơn với chân lý, hoặc theo nghĩa là có tính giống chân lý cao” [103; 92]; về tiêu chuẩn và phương pháp kiểm tra các lý thuyết ông đưa ra các khái niệm mới về “dung lượng chân lý”, “dung lượng sai lầm” và “tính giống chân lý”. Đồng thời ông cũng luận chứng cho sự tồn tại của “tri thức khách quan” và “thế giới thứ ba”, thông qua đó vạch mở con đường tiến triển của tri thức.

Luận điểm của ông: “Bài toán cơ bản mà lý thuyết về tri thức đặt ra là phải làm rõ và nghiên cứu quá trình cho phép các lý thuyết của chúng ta có thể phát triển hay tiến bộ, đó là yêu sách của chúng ta ở đây” [103; 65]. Lập luận của ông là “tri thức không bao giờ bắt nguồn từ con số không, mà luôn phải từ một thứ tri thức nền nào đó - tri thức được coi là đảm bảo tới một thời điểm”[103; 109]. Ông đã phân biệt hai loại tri thức: tri thức chủ quan - “tri thức gắn liền với một cơ thể” [103; 113] và tri thức khách quan - “nội dung lôgic của các lý thuyết”, và ba thế giới: thế giới vật lý (thế giới thứ nhất), thế giới những kinh nghiệm có ý thức của chủ thể (thế giới thứ hai) và thế giới của các tri thức khách quan (thế giới thứ ba). Ông cũng luận chứng cho tính khách quan và độc lập của “thế giới thứ ba”, mặc dù là sản phẩm của con người nhưng nó có tính độc lập, tự trị, tự phát sinh các vấn đề mới mẻ nằm sẵn ở đó, và sự tăng trưởng của tri thức khách quan chính là thông qua sự tương tác, phản hồi giữa “bản thân chúng ta với thế giới thứ ba” [103; 163].

Sự tồn tại của tri thức khách quan và thế giới thứ ba là cơ sở nền tảng cho sự tiến bộ của tri thức, là cơ sở cho sự phát sinh ý thức “toàn diện” của con người về bản thân. Đó là “thế giới đặc thù của loài người”, chỉ con người với bản chất suy tư, có lý tính và khả năng phản hồi mới có khả năng tham gia tương tác với nó. Mặc dù quan niệm có màu sắc duy tâm nhưng cách tiếp cận của Karl Popper đã gợi mở nhiều vấn đề về quá trình sáng tạo tri thức 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của con người. “Tri thức khách quan” là nguồn tài liệu quan trọng để nghiên cứu về tiến hóa tri thức của loài người.

Tham gia cuộc tranh luận về sự tiến bộ của tri thức còn có tác giả Thomas Kuhn (2008) với cuốn “Cấu trúc của các cuộc cách mạng khoa học” [66]. Đúng như tên của nó, cuốn sách trình bày, phân tích lôgic của quá trình ra đời hay “sự lộ diện của một lý thuyết hay một phát hiện mới” [66; 24] trong khoa học. Tác giả tập trung phân tích nguyên nhân, những điều kiện bên trong lòng của một nền khoa học đã dẫn tới sự tiến bộ của nó như thế nào, từ đó đưa ra quan niệm theo tác giả là “hoàn toàn mới” về bản thân lịch sử phát triển của khoa học - đó là sự phát triển không phải bằng con đường “tích lũy”, bổ sung những luận điểm mới mà thông qua các cuộc cách mạng làm thay đổi nền tảng của khoa học. Mỗi tri thức hay lý thuyết mới ra đời không phải là sựgóp thêm, hay tăng thêm vào kho tàng tri thức nhân loại mà kéo theo nó là sự dịch chuyển các vấn đề, thay đổi cách nhìn, cách tiếp cận, thiết lập “một nền tảng mới cho hoạt động thực tiễn của khoa học” [66;42].

Do đó: “một lý thuyết mới cũng hiếm khi, nếu không muốn nói là không bao giờ là sự gia tăng của những gì người ta đã biết” [66; 44]. Trên cơ sở đó, tác giả phân tích quá trình phát sinh tri thức mới thông qua các cuộc cách mạng khoa học thay đổi “mẫu hình”. Có phần nào đó dư âm và ảnh hưởng từ lý thuyết của hai tác giả Karl Popper và Thomas Kuhn, đặc biệt từ quan niệm về “thế giới thứ ba” (Karl Popper) và khái niệm “mẫu hình” (Kuhn), tác giả Edgar Morin đã triển khai, phân tích vấn đề tư duy, tri thức trên một diện rộng lớn, đa dạng, cái mà ông gọi là “xây dựng tri thức luận phức hợp”. Tri thức được khảo sát với ý nghĩa rộng lớn nhất từ góc độ bộ não, tâm trí cá nhân đến góc độ xã hội, văn hóa và tính tự tổ chức của nó; từ các hình thức tri giác, huyền thoại đến tư tưởng.

Trong cuốn Phương pháp 3[90], Edgar Morin (2006) đã cắt nghĩa (mặc dù không đi sâu) khái niệm tư duy, tư duy sáng tạo và các loại tư duy. Khái niệm tri thức và tư duy ở đây là cùng một nghĩa vì tri thức được quan niệm không chỉ là kết quả mà còn là quá trình đi đến kết quả ấy - tức chính là tư duy. Tư duy “đa trị”, “đa hình”, mở và thay đổi. Nó sử dụng nhiều phương tiện khác nhau từ khái 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niệm, ngôn từ đến huyền thoại, tượng trưng, bản vẽ.

Theo tác giả “tư duy vừa là một vừa là nhiều”, vừa là một vừa là đôi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ