Tài liệu: Triết học phương đông trung hoa ấn độ các nước hồi giáo nxb khoa

Tài liệu nghiên cứu Triết học phương đông trung hoa ấn độ các nước hồi giáo nxb khoa học xã hội 2003, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Triết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình nhập môn

2003

231
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và phạm vi của Triết học phương Đông

Triết học phương Đông là một lĩnh vực nghiên cứu bao gồm các truyền thống triết học của ba nền văn minh lớn bên ngoài châu Âu: Trung Hoa, Ấn Độ và các nước Hồi giáo. Đây là những hệ thống tư tưởng phong phú và sâu sắc, được hình thành qua hàng ngàn năm lịch sử. Tuy nhiên, do những cản trở về ngôn ngữ, văn hoá và định kiến "Châu Âu là trung tâm", triết học phương Đông lâu nay vẫn chưa được đánh giá đúng mức. Sự hiểu biết sâu sắc về các nền văn minh này đòi hỏi cách tiếp cận mở rộng, vượt ra ngoài các lập luận sai lầm của những nhà tư tưởng phương Tây cổ điển.

1.1. Nguồn gốc và sự phát triển của triết học phương Đông

Triết học phương Đông phát sinh từ những nhu cầu tinh thần cơ bản của con người trong việc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống. Các truyền thống này phát triển độc lập, với những phương pháp riêng biệt trong việc tiếp cận các vấn đề vũ trụ, đạo đức và nhân bản. Sự phát triển này không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các tư tưởng phương Tây, mà được nuôi dưỡng bởi môi trường văn hoá, tôn giáo và xã hội độc đáo của mỗi nền văn minh.

1.2. Định kiến và sự hiểu lầm về triết học phương Đông

Một vấn đề phổ biến là các định kiến cứng nhắc trong việc hiểu các hiện tượng phương Đông. Thậm chí những trí tuệ vĩ đại cũng không thoát khỏi những lập luận sai lầm khi nghiên cứu các nền văn minh xa xôi. Xu hướng "đóng khung" những điều khó hiểu theo quan niệm quen thuộc của riêng mình là một yếu kém phổ biến, dẫn đến những hiểu biết không chính xác về triết học phương Đông.

II. Các chương trình chính trong Triết học phương Đông

Chương trình nhập môn triết học phương Đông được chia thành các chương chính, mỗi chương đều xử lý những vấn đề triết học cơ bản. Chương I tập trung vào sự phát sinh triết học, khám phá cách mà các tư tưởng phương Đông ra đời trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Chương II đề cập đến nguồn gốc và cấu trúc vũ trụ, giúp độc giả hiểu cách các truyền thống phương Đông nhìn nhận về thế giới vật chất và tinh thần. Cấu trúc này cho phép học viên nắm bắt từng bước, từ những khái niệm cơ bản đến những vấn đề phức tạp hơn.

2.1. Vũ trụ quan và bản chất con người

Triết học phương Đông chú trọng vào vũ trụ quan toàn diện, kết hợp giữa chiều vật chất và tinh thần. Chương III tập trung vào bản tính của con người, khám phá các quan niệm về linh hồn, tâm thức và con đường tu hành. Các nền văn minh Trung Hoa, Ấn Độ và Hồi giáo đều có cách nhìn độc đáo về bản chất con người, điều này tạo nên sự phong phú trong triết học phương Đông.

2.2. Con đường nhận thức chân lý và truyền thống

Chương IV phân tích con đường nhận thức chân lý, tức là cách con người có thể đạt được hiểu biết sâu sắc. Chương V nói về mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giúp độc giả hiểu cách các tư tưởng cổ đại vẫn có liên quan đến thế giới hiện đại. Những chương này hình thành nên một hệ thống học tập toàn diện về triết học phương Đông.

III. Phương pháp nghiên cứu Triết học phương Đông

Để nghiên cứu triết học phương Đông một cách hiệu quả, cần sử dụng phương pháp phân tích lịch sử-triết học kết hợp với kinh tế xã hội và văn hoá. Các nhà nghiên cứu hiện đại không chỉ tập trung vào các yếu tố chính trị mà còn chú ý đến văn bản học văn hoá để hiểu sâu hơn về các truyền thống tinh thần. Việc dịch và chú giải các tài liệu cổ xưa ra ngôn ngữ châu Âu là bước quan trọng trong việc làm cho triết học phương Đông accessible với độc giả hiện đại. Cách tiếp cận đa phương pháp này cho phép hiểu toàn diện hơn về các truyền thống phương Đông.

3.1. Phân tích văn bản và chú giải kinh kệ

Phương pháp chú giải và dịch thuật các tư liệu cổ đại là nền tảng của nghiên cứu triết học phương Đông hiện đại. Các kinh kệ Phật giáo, kinh Confucian và các tác phẩm Hồi giáo cổ xưa cần được dịch với sự chính xác cao và hiểu biết sâu sắc về ngữ cảnh. Các nhà khoa học Nga như F. Alekxeep đã đóng góp quan trọng vào lĩnh vực này, giúp làm sáng tỏ những hiểu biết phức tạp.

3.2. Kết hợp giữa các yếu tố chính trị kinh tế và văn hoá

Một phương pháp hiệu quả khác là kết hợp phân tích chính trị-kinh tế-xã hội với nghiên cứu văn hoá sâu sắc. Điều này giúp hiểu được cách mà triết học phương Đông được hình thành và phát triển trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Cách tiếp cận toàn diện này vượt ra ngoài những lập luận đơn giản, cho phép nắm bắt bản chất thực sự của triết học phương Đông.

IV. Tầm quan trọng và ứng dụng của Triết học phương Đông ngày nay

Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, triết học phương Đông đóng vai trò ngày càng quan trọng. Những mảng văn hoá phương Đông bị quên lãng trong quá khứ nay được phục hồi và đưa vào chương trình giáo dục nhân văn. Sự phục hưng này không chỉ mang tính học thuật mà còn có ý nghĩa thực tiễn, giúp hiểu rõ hơn về các nền văn minh hàng xóm và tìm kiếm những giải pháp cho các vấn đề thế giới hiện đại. Triết học phương Đông cung cấp những góc nhìn mới mẻ về đạo đức, chính trị và ý nghĩa sống mà xã hội hiện đại cần thiết.

4.1. Vai trò trong giáo dục nhân văn hiện đại

Triết học phương Đông là một phần không thể thiếu trong chương trình giáo dục nhân văn toàn diện. Nó giúp sinh viên mở rộng tầm nhìn, hiểu rõ hơn về sự đa dạng của tư tưởng nhân loại và những cách khác nhau để tiếp cận các vấn đề cơ bản. Chương trình nhập môn triết học phương Đông cung cấp một nền tảng vững chắc để học sinh hiểu các truyền thống Trung Hoa, Ấn Độ và Hồi giáo.

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong thế giới đương đại

Các nguyên lý từ triết học phương Đông có thể được áp dụng để giải quyết những vấn đề hiện đại như bất bình đẳng xã hội, khủng hoảng tâm lý và xung đột văn hoá. Những tư tưởng về cân bằng, hòa hợp và thực hành tinh thần từ các truyền thống phương Đông mang những bài học quý giá cho thế hệ hiện tại, hỗ trợ xây dựng một xã hội bền vững hơn.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I SỰ PHÁT SINH CỦA TRIẾT HỌC Các nhà lịch sử còn phải trả lời cho câu hỏi, tại sao chính thế kỷ thứ VI trước Công nguyên lại khác với các thế kỷ khác của thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, như một thời ky bing nổ của nãng lượng trí tuệ. Cho đến nay nhiều tiền để kinh tế, xã hội, chính trị và tỉnh thần cho bước đột phá đó mới được khám phá. Bước nhảy vọt trong sự phát triển lực lượng sản xuất, sự xuất hiện các quan hệ tiển-hàng, sự suy yếu của cấu trúc họ hàng-thân tộc, sự xuất hiện các quốc gia đầu tiên, sự tăng trưởng của thế lực đối lập với tôn giáo truyền thống, sự phê phán các chủ trương và các quan niệm mang tính chuẩn mực về đạo đức, sự tăng cường tỉnh thần phê phán và sự tăng trưởng các tri thức khoa học chính là một số nhân tố để từ đó hình thành môi trường tỉnh thần thuận lợi cho sự phát sinh triết học diễn ra đồng thời ở ba nên văn mình cổ đại: Hi Lạp, Ấn Độ và Trung Hoa. Tinh chung nhất của nguồn gốc không hề loại trừ nét độc đáo của con đường hình thành tri thức triết học đã được hệ thống hoá.

OAn Độ, xuyên suốt quá trình hình thành triết học là sự đối lập với đạo Bàlamôn vốn dựa vào lễ nghi Vệ-đà và được định "1 hình ở bốn sưmjhira, hoặc là Vệ-đà (có nghĩa là trị thức), trong các tuyển tập, những ca khúc ngợi ca Thượng đế, nhằm đồng hoá các tín ngưỡng và phong tục của các bộ lạc. Mỗi một kinh Vệ-đà về sau phát triển thành kinh BảÍamôn, tức là trở thành những mô phỏng và chú giải, về sau nữa trở thành áranyaca (các văn bản về rừng dành cho những ẩn sĩ sống trong rừng) và cuối cùng trở thành những kinh Upanishad (xuất phát từ cụm từ “ngồi cạnh chân của (thầy giáo]”). Cả một khối các bài kinh Vệ-đà được gọi 1 shruti, nghia là thần khải (khả năng nhận biết tiếng nói vĩnh hằng thiêng liêng - N. Các đại biểu của đẳng cấp cao - Bàlamôn - được xem là những người kiến giải và hiểu biết chính xác về sự uyên thâm của Vệ-đà.

Tuy vậy, việc phá vỡ các quan hệ bộ lạc, sự khủng hoảng của đạo đức thân tộc đã làm lung lay uy tín của những nhà tư tế và lễ nghi mà họ đặt ra. Lần đầu tiên những kẻ “tà giáo” đám hoài nghỉ tri thức hoàn thiện và phong. tục hủ lậu của Bàlamôn là những người khổ hạnh, những nhà truyền giáo. Họ được mệnh danh là những skrzman (Sa môn) - những người “thực hiện sự nỗ lực”.

Sự nỗ lực đó không chỉ thuộc dạng khổ hạnh về thể xác, mà cả trí tuệ nữa, nghĩa là suy ngẫm về những chỉ giáo của Vệ - đà. Thế kỷ VI-V trước Công nguyên được đánh dấu bằng việc mở rộng nhiều trào lưu phê phán đạo Bàlamôn. Trong số đó những trào lưu chính là ađz/vikz (thuyết định mệnh tự nhiên), đjaimsme (thuyết Jaïna) và đạo Phật. Các hệ thống triết học cơ 12 bản của Ấn Độ về sau được hình thành và phát triển trên cơ sở của trường phái Shrzman.

Bằng chứng đầu tiên về việc trình bày một cách độc lập, mang tính hệ thống triết học Ấn Đ là các sutra (kinh, châm ngôn, cách ngôn, ra đời khoảng từ thế kỷ VỊI - VI trước Công nguyên đến những thế kỷ đầu sau Công nguyên). Về sau triết học Ấn Độ còn phát triển theo xu hướng của sáu hệ thống cổ điển là Darshana (Sankhya, loga, Nyaya, Vaisheshika, Mimamsa, Vedanta), theo uy tin của Vệ - đà cũng như các trào lưu phi chính thống như Chârvâka duy vật, hoặc Lokâyata, Djainism va Phat gido. Sự hình thành nên triết học Cổ đại Trung Hoa cũng có nhiều nét tương tự. Ở Ấn Độ các tư tưởng triết học được phát hiện trong các di tích văn hoá cổ nhất, người ta thấy chúng trong các phân của Rigveđa và Upanishad, còn ở Trung Hoa nằm trong Kinh Thị và Kinh Dịch.

Các trường phái triết học ở khu vực này hay khu vực kia đều được hình thành vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Công nguyên. Một thời gian dài, ở cả nên hai triết học đều khuyết danh, sau đó chúng mới có tác giả với những triết gia vĩ đại như Thích Ca Mâu Ni, Khổng Tử, Lão Tử v. Nếu ở Ấn Độ nhiều trường phái triết học thường liên quan đến đạo Bàlamôn và Phật giáo, thì ở Trung Quốc lại thiên về 13 đồng chính thống Nho giáo. Thực vậy, ở Ấn Độ, sự khác nhau giữa các trường phái riêng lẻ không hể dẫn tới việc thừa nhận một cách chính thức xu hướng triết học nào trong số đó có vai trò hàng đầu, trong khi đó ở Trung Quốc, Nho giáo vào thế kỷ thứ II trước Công nguyên lại chiếm lĩnh được địa vị độc tôn trong hệ tư tưởng nhà nước, đồng thời còn duy trì vị trí đó cho đến đầu thế kỷ XX.

Bên cạnh Nho giáo là các trường phái tôn giáo - triết học khác có ảnh hưởng mạnh không kém như Đạo giáo và Phật giáo. Triết học Hồi giáo-Arập là một hiện tượng của thời Trung thế kỷ, sự hình thành và phát triển của nó phân lớn đều khác với quá trình tương tự diễn ra ở các nên văn minh Cổ đại Trung Hoa và Ấn Độ. Về thực tế, lịch sử trí tuệ của người Arập bắt đầu từ khi xuất hiện Hồi giáo, tức là từ đầu thế kỷ thứ VI. Bản thân tín ngưỡng Hồi giáo là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa nên ˆ văn hoá Arập, các tư tưởng Thiên Chúa giáo và đạo Do Thái từng được truyền bá khá rộng rãi trên bán đảo Arập cuối thế kỷ VI.

Trong học thuyết một thần của Môhamed, những thay đổi căn bản có liên quan đến sự phân rã các quan hệ bộ tộc và sự hợp thành nhà nước thống nhất của người Arập đã được thể biện rõ trong việc thiết lập umma, (con goi là công xã), của những người 14 nhất mực tin theo tiên trị của Môhamed. Đó là bước đi ban đầu trên con đường dẫn tới sự liên kết mọi người với nhau theo đấu hiệu khác biệt với quan hệ họ hàng ruột thịt; đồng thời cũng là bước khởi đầu của sự hình thành nhà nước. Trong cơ sở của học thuyết đạo Hồi có kinh Koran va sunna với những bài kinh được “biên tập” vào cuối thế kỷ EX. Tuy vay, không có sách kinh Hồi giáo nào, không một truyền thuyết nào có thể trả lời cho tất cả các vấn đề do cuộc sống đặt ra, đặc biệt trong xã hội Hồi giáo đang phát triển.

Vì thế đã xuất hiện “những nguồn gốc” bổ sung - &i/s (“phán đoán về loại suy”) và ima (“¥ kiến nhất trí”) cho phép kiến giải một cách rộng rãi kinh Koran và sưnna. Sự kiến giải Hồi giáo (exègètikos - tiếng HiLạp) đã hình thành bốn trường phái hợp pháp (mazokhaba), hai trong s6 nay (haniphit và saphi) là những phái tự do, còn hai phái khác (hanbalit và maliki) là những phái bảo thủ. Có thể hiểu quan điểm của những người thuộc phái malikir từ khẳng định của Malicu ben Anaxu (chết năm 795) nhà sáng lập ra phái này, cho rằng “niềm tin là bắt buộc, còn nghỉ vấn là lầm lỗi của ' tà giáo”. Kết quả của sự tranh tài giữa hai xu hướng trái ngược nhau trong kiến giải của Hồi giáo là sự xuất hiện thần học kinh viện - kalam.

Không chỉ có luận chiến trong nội bộ Hồi giáo, mà cả tính cần thiết phải thối bùng việc phê phần nhằm vào giáo lý đạo Hồi từ phía những người không chấp nhận thần tượng của nó, cũng 15 như từ Thiên Chúa giáo và đạo Do Thái, đã khích lệ các mutakalim - tức là những người bảo vệ kalam - chú ý tới luận cứ logic. Sự xuất hiện các trường phái triết học riêng ở Arập có liên quan trực tiếp đến công việc dịch thuật. Những người Thiên Chúa giáo Xiry đầu tiên đã giới thiệu cho người Arập với những tác phẩm của các nhà tư tưởng Cổ đại. Ảnh hưởng lớn nhất đối với sự phát triển của triết học Arập là các tác phẩm của Arixtốt, vì vậy không phải ngẫu nhiên xuất hiện “chủ nghĩa tiêu dao phương Đông” (Theo truyền thuyết, Arixtốt dạy và học trong các cuộc dạo chơi - ND).

Các cuộc tranh luận về nguồn gốc và đặc thù của chủ nghĩa tiêu dao phương Đông trong các nhóm khoa học vẫn không hề chấm dứt. Trải qua thời gian khá dài trong tư liệu Âu châu có một ý kiến áp đảo quá đáng về tình trạng học heo của triết học Arập. Ví dụ như Hêgen đã khẳng định, nến triết học đó không mang tính độc lập, không “có các trình độ độc đáo trong tiến trình phát triển triết học”. Rênan, “Tất cả những gì mà các nước phương Đông nói tiếng xêmi (ngôn ngữ cổ chung cho các nước khu vực giáp ranh Á-Phi - ND) đạt được vào thời Trung thế kỷ trong lĩnh vực triết học theo đúng nghĩa của nó, đều mượn của người Hi Lạp”.

Trong nền tảng các học thuyết do những người theo chứ nghĩa tiêu dao phương Đông đề xướng, có chủ nghĩa Arixtốt đã 16 được “Tân Platôn hoá”. Một phần nguyên nhân của việc này là sự làm quen với các tư tưởng của Arixtốt thông qua Thần học Arixtốt và Cuốn sách về các nguyên nhân được dịch ra tiếng Arập theo sáng kiến của nhà triết học Arập đầu tiên là al-Kindi. Tác phẩm Thần học gồm các trích đoạn từ Ennead ciia Plotin (4- 6) và các bài văn đơn lẻ của chính Arixtốt, còn Cuốn sách về các nguyên nhân là tác phẩm của Prôcl - Cơ sở đầu tiên của thần học. Sự phát triển tiếp theo không phải là hậu quả của “sự sơ suất”, sự nhẹ dạ cả tin hay là sự đốt nát của những người theo chủ nghĩa tiêu dao phương Đông, mà đúng hơn là họ không đó “khả năng phê phán”.

Việc nắm bắt chủ nghĩa Arixtốt đã được tân Platôn hoá đều là sự lựa chọn tự giác có tính toán từ trước. Khác với Hi Lạp, ở Ấn Độ và Trung Hoa sự quá độ từ thần : thoại sang triết học trên cơ sở nghỉ lễ được hình thành một cách mạnh mẽ và bám rễ một cách lạ thường. Ở Ấn Độ, hạt nhân của lễ nghỉ là đồ hiến tế. Vệ đà Aranyaka, Upanishad, tức là các bài văn mà từ đó về sau hình thành các học thuyết lý luận, có xu hướng không phải về mặt nhận thức, mà thiên về thực tiến-bất tử học.

Các tác giả của 17 những bài văn ấy quan tâm hơn hết không phải vấn đề có sự bất tử hay không, mà là việc làm thế nào để đạt được sự bất tử đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ