phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Các công trình đã công bố, Phụ lục, Nội dung chính của luận án gồm 4 chƣơng 13 tiết. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Kinh điển (kinh và luận) gốc của Phật giáo có liên quan đến nội dung Tứ Diệu Đế Để nghiên cứu “Triết học Phật giáo qua Tứ Diệu Đế và ý nghĩa của nó”, luận án đã khai thác sử dụng một số kinh và luận trong Đại tạng kinh đã dịch sang tiếng Việt, chủ yếu là thuộc hệ thống kinh điển Bắc tông. Trong các kinh điển này, nội dung liên quan đến Tứ Diệu Đế đƣợc đề cập ở nhiều góc cạnh khác nhau: - “Kinh Dụ dấu chân voi”, “Chính tri kiến”, “Kinh Phạm Thiên cầu thỉnh”, “Kinh Tất cả lậu hoặc”, “Kinh đoạn tận ái” trong Trung Bộ Kinh (1992), quyển 1, do Thích Minh Châu dịch và chú giải, Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn.
- “Kinh Madhara”, “Kinh phân biệt giới Phatuvibhanga”, “Kinh kanna kathala”, “ kinh Assalayana”, “Kinh Vacchagatta” trong Trung Bộ kinh (1992) quyển 2, do Thích Minh Châu dịch. - “Đế phân biệt tâm kinh”, “Đại kinh Bốn mƣơi (Mahacattarisaka sutta)” trong Trung Bộ Kinh (1992), quyển 3, do Thích Minh Châu dịch và chú giải, Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn; Kinh “Đại bát Niết Bàn”, Kinh “Đại duyên” trong Kinh Trường Bộ, quyển 3 (1992) do Thích Minh Châu dịch và chú giải, Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn. - “Kinh Phân biệt thánh đế”, “Kinh Bàlaba thƣờng” trong kinh Trung A Hàm - Tiểu tạng Thanh Văn (2010) do Thích Đức Thắng dịch, Tuệ Sỹ hiệu đính và chú thích, NXB Phƣơng Đông, TP. Hồ Chí Minh; Kinh “Chuyển pháp luân” trong Tạp A Hàm (2010), quyển 1, do Thích Đức Thắng dịch, Tuệ Sỹ hiệu đính và chú thích, NXB Phƣơng Đông, Hồ Chí Minh… Những kinh điển tiêu biểu này cho thấy vị trí đặc biệt của Tứ Diệu đế 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong kinh điển Phật giáo và tầm quan trọng của Tứ Diệu Đế đối với toàn bộ Phật giáo.
Kinh Chuyển Pháp luân là kinh đầu tiên Đức Phật giảng sau khi giác ngộ, chứng quả Vô thƣợng Bồ Đề. Trong kinh này, Đức Phật đã tập trung vào nội dung tƣ tƣởng cốt lõi nhất của Phật giáo, đó là Tứ Diệu Đế. Đức Phật đã xác định rõ ngay từ đầu tầm quan trọng của giáo lý Tứ đế. Ngài từng dạy rằng hiểu biết về Tứ diệu đế đồng nghĩa với đạt đƣợc mục tiêu của sự tu tập Phật Giáo.
Ngài nhấn mạnh về sự thất bại vì không hiểu bốn chân lý cao quý là nguyên nhân khiến chúng ta phải trôi lăn mãi trong giòng sinh tử luân hồi. Bốn Thánh Đế đó là Khổ, Tập, Diệt, Đạo, và Đức Phật đã nhiều lần xác quyết Ngài chỉ dạy một điều duy nhất là Khổ và sự diệt Khổ. Đặc biệt qua bộ kinh Tạp A Hàm, “Thập nhị Nhân Duyên” đƣợc thuyết giảng nhƣ một nội dung của Tứ Diệu Đế từ lập trƣờng Duy thức. Theo bộ kinh này, mƣời hai Nhân Duyên đƣợc trình bày theo phƣơng cách nhận thức mới và diễn dịch lại không theo thứ tự của tiến trình sinh khởi vạn pháp, nghĩa là không có điểm khởi đầu từ vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc v.v… cho đến duyên lão tử.
Ở đây đức Phật tập trung giải thích góc cạnh khổ của chúng sinh hữu tình bị chi phối bởi mƣời hai Nhân Duyên. Theo lối trình bày này, Vô Minh trong mƣời hai Nhân Duyên đƣợc nhìn nhƣ “Si Mê” và giá trị tác dụng của nó chỉ riêng cho cá thể của một chúng sinh hữu tình. Lối giải thích này về mƣời hai Nhân Duyên của kinh Tạp A Hàm có lẽ đƣợc ghi lại trong đợt kiết tập lần thứ ba. Đây cũng là cách nhìn mới về mƣời hai Nhân Duyên (thuộc Tập Đế) của các học giả sau này.
Các công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo nói chung Có thể kể một số công trình có giá trị khoa học sau: Lịch sử văn minh Ấn Độ của W.Durant (Nguyễn Hiến Lê dịch, Trung tâm Thông tin Đại học sƣ phạm, TP. Hồ Chí Minh, năm 1989), Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang (Nxb. Văn học, Hà Nội, năm 1992), Đại cương triết học phương Đông 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của Minh Chi, Hà Thúc Minh (Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh xuất bản, TP.
HCM, năm 1993), Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu của Cao Xuân Huy (Nxb. Văn học, năm 1995), Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại của Doãn Chính (Nxb. Thanh Niên, Hà Nội, năm 1999), Tư tưởng Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh (Nxb. Khoa học xã hội HN, năm 1999), Lịch sử triết học phương Đông của Nguyễn Đăng Thục (Nxb.
Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, năm 2001), Đại cương triết học Phật giáo của Nguyễn Hùng Hậu (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002), Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát (Nxb. Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, năm 2005), Lịch sử triết học Ấn Độ của Thích Mãn Giác (Nxb.
Ngoài ra còn có nhiều cuốn sách và các bài nghiên cứu viết có chất lƣợng về bối cảnh lịch sử hình thành, phát triển của Phật giáo Ấn Độ nhƣ: Lược sử Phật giáo Ấn Độ của tác giả Thích Thanh Kiểm (1995) Thành hội Phật giáo TP. HCM ấn hành, hay Lịch sử Phật giáo Ấn Độ của Pháp sƣ Thánh Nghiêm (2008) Thành hội PG TP HCM ấn hành. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, Thích Tâm Trí dịch, (NXB Phƣơng Đông), hoặc Sơ lược lịch sử Phật giáo Ấn độ sau thời đức Phật của Thích Tâm Hải (http: //cusi.fr/lsp/lsp0060. Trong các công trình nghiên cứu trên đáng chú ý một số công trình nhƣ sau: Cuốn Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận (1969) của Kimura Taiken đã phân tích nguồn gốc, lịch sƣ̉ Ph ật giáo Đại thừa và phân loại các quan niệm về vấn đề giải thoát trong lịch sử Ấn Độ.
Trong “Tổng luận” và chƣơng “Giải thoát luận”, “Chân nhƣ quan của Phật giáo” tác giả đã khẳng định đỉnh cao của tƣ tƣởng giải thoát trong triết học Ấn Độ chính là triết học Phật giáo. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1971 trong cuốn Lịch sử văn minh Ấn Độ, W.Durant đã khái quát về Ấn Độ trên các phƣơng diện lịch sử, đời sống, khoa học, nghệ thuật… Trong đó dành riêng một chƣơng 2 tóm tắt tiểu sử, lời dạy của Phật Thích Ca: Con ngƣời sinh là khổ, bệnh là khổ, lão là khổ, rầu rĩ, than khóc, táng tâm trí, thất vọng là khổ… Nguyên nhân của cái khổ là nhân dục… nó làm cho con ngƣời tái sinh hoài, dục vọng đó kết hợp với sự ham thích, dâm dật, lúc nào cũng muốn thoả mãn cho đƣợc, nguyên nhân là cái ham mê, ham mê là thực thể. Cho nên, con ngƣời phải diệt cho hết dục vọng, nhu cầu bằng cách thoát tục. Con đƣờng giải thoát gồm Bát chính đạo: chính kiến, chính tƣ duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm, chính định.
Công trình Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ của tác giả Doãn Chính (Nxb. Thanh niên, Hà Nội, năm 1999) đã phân tích và nhận định rằng triết học Ấn Độ là dòng triết học luôn luôn không cũ và có một số vấn đề đƣợc thể hiện nhƣ sau: - Vấn đề thứ nhất: Luôn tồn tại một thực tế đằng sau thế giới hiện tƣợng đa dạng và phong phú đƣợc đặt tên là “chân nhƣ”, “ niết bàn” để rốt ráo đạt đến giải thoát. - Vấn đề thứ hai: Với sự luôn luôn không cũ của tƣ tƣởng triết học Ấn Độ đã nhận thức đƣợc qua trực giác, là trung gian không phải bằng giác quan thông thƣờng hay tƣ duy logic giúp con ngƣời đến đƣợc với “chân nhƣ” ấy. - Vấn đề thứ ba: Sự nhận thức về “cái tôi” luôn tồn tại trong mỗi con ngƣời, có “cái tôi thật” và “cái tôi giả”.
Sự dung hòa giải thoát bất biến phổ đồng ở khắp nơi đó là “cái tôi thật”. Nhƣ vậy sở dĩ con ngƣời bị đau khổ, bị luân hồi sinh tử trầm luân là do vô minh, tham lam, sân hận, si mê đã che lấp mất cái “bản ngã” thật của mình. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Vấn đề thứ tƣ: Với mục đích “vị nhân sinh”, tƣ tƣởng triết học Ấn Độ muốn giúp con ngƣời nhận chân ra cái “ chân tính bản lai” chính là “cái tôi thật” để con ngƣời nhận thức rõ đƣợc phong cách ứng xử, đạo đức, hƣớng thiện, từ bi hỉ xả, vô ngã vị tha để dần dần trở thành một con ngƣời hoàn thiện. Bên cạnh đó trong công trình nghiên cứu Triết học có và không của Phật giáo Ấn Độ” do Nxb.
Phƣơng Đông xuất bản, tác giả Thích Hạnh Bình lại từ góc nhìn có tính phƣơng pháp luận đã khẳng định Phật pháp là chân lý, là nguyên lý vận hành của vạn pháp ở thế gian, bao gồm cả tâm lý và vật lý. Chân lý vô thƣờng có tính phổ quát, vì bất cứ ở đâu và vật nào, không có một pháp nào không tuân thủ nguyên tắc sinh - trụ - dị - diệt/ thành - trụ - hoại - không. Nguyên lý có tính tuyệt đối là “Duyên khởi”, tức là “Cái này có cho nên cái kia có; Cái này sinh cho nên cái kia sinh”. Từ nguyên lý này mà hình thành nên Thập nhị nhân duyên khái quát và giải thích quá trình hình thành và chấm dứt những phiền não đau khổ của con ngƣời.
Cũng từ nguyên lý Duyên khởi Phật giáo khẳng định bản chất của các pháp là vô thƣờng, luôn thay đổi vì chúng không có tự tính nên luôn phải nƣơng tựa vào nhau mà tồn tại. Cái mà chúng ta nhận là “Ngã”, đó cũng chỉ là giả hợp. Phật giáo gọi là “Vô ngã” (no self) vì chúng chỉ là sự kết hợp tạm thời bởi 5 yếu tố: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Tác giả đƣa ra nhận định, chúng ta nên “chính tri kiến” để quan sát và giải quyết mọi vấn đề trong cuộc sống.
Hạnh phúc hay khổ đau là do chính chúng ta quyết định. Nhƣ vậy, trong hƣớng nghiên cứu về tƣ tƣởng triết học Phƣơng Đông và Ấn Độ, đã có một số thành tựu nghiên cứu về lịch sử tƣ tƣởng của Phật giáo nhƣ một bộ phận trong triết học Phƣơng Đông cũng nhƣ Ấn Độ. Đặc biệt, các nghiên đó đã phần nào khái quát đƣợc tƣ tƣởng, quan điểm Phật giáo và ít nhiều đã đề cập đến Tứ Diệu Đế và ý nghĩa triết học của nó. Song, nói chung mới dừng lại ở mức độ giới thiệu chung, nêu chƣa có công trình nào thực sự 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đi sâu phân tích về tƣ tƣởng triết học của Tứ Diệu Đế một cách cụ thể, chi tiết và hệ thống.