Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Triết học với đề tài "Triết học Ấn Độ cổ đại - Nội dung, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trịnh Thanh Tùng tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2019, thuộc chuyên ngành Triết học (Mã số: 62.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lương Minh Cừ và TS. Phạm Lê Quang.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng Ấn Độ cổ đại là một trong những cái nôi văn minh lớn của nhân loại cùng với Ai Cập, Babilon và Trung Hoa. Nền triết học nơi đây hình thành và phát triển trên một nền tảng tự nhiên đa dạng, kỳ vĩ nhưng khắc nghiệt, kết hợp với chế độ chiếm hữu nô lệ mang tính chất gia trưởng hà khắc, sự kìm hãm của kết cấu công xã nông thôn bảo thủ, trì trệ và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội (varna) khắt khe. Trước những áp lực to lớn từ giới tự nhiên và xã hội, triết học Ấn Độ cổ đại sớm hướng vào giải quyết các câu hỏi nhân sinh căn bản: nguồn gốc con người, bản chất đời sống, nguyên nhân của nỗi khổ và con đường giải phóng con người khỏi khổ đau. Việc nghiên cứu có hệ thống về nội dung, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của nền triết học này không chỉ giúp làm rõ bản sắc văn hóa tinh thần Ấn Độ, nhận diện các mối quan hệ giao lưu và dung hợp văn hóa giữa Ấn Độ với thế giới (trong đó có Việt Nam), mà còn cung cấp cơ sở tư liệu phục vụ việc rèn luyện tư duy lý luận theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Mục đích nghiên cứu của luận án là từ việc trình bày khái quát quá trình hình thành, phát triển và nội dung cơ bản của triết học Ấn Độ cổ đại, làm rõ những đặc điểm cùng ý nghĩa lịch sử của nền triết học này trên các bình diện tư tưởng, tôn giáo và đạo đức trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Ấn Độ.
Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Trình bày, phân tích làm rõ những đặc điểm điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử - xã hội cùng sự phát triển của các thời kỳ văn minh và các thành tựu văn hóa, khoa học cổ Ấn Độ tác động, ảnh hưởng, chi phối đến quá trình hình thành, phát triển, đặc biệt là đến nội dung và đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại.
- Trình bày, phân tích quá trình hình thành, phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại với những nội dung tư tưởng cơ bản của các trường phái triết học qua hai thời kỳ: thời kỳ Veda - Sử thi (hay Veda - Anh hùng ca) và thời kỳ Cổ điển (hay thời kỳ Phật giáo - Bàlamôn giáo).
- Từ những nội dung tư tưởng của các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại, phân tích, đánh giá chỉ ra những đặc điểm chủ yếu và ý nghĩa lịch sử của nó trên các mặt tư tưởng, tôn giáo và đạo đức, đồng thời chỉ ra các mặt hạn chế lịch sử của nền triết học này.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nội dung, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của triết học Ấn Độ cổ đại.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát trong hai thời kỳ lịch sử chính: thời kỳ Veda - Sử thi (khoảng từ thế kỷ XV trước Công nguyên đến thế kỷ VI trước Công nguyên) và thời kỳ Phật giáo - Bàlamôn giáo (từ thế kỷ VI trước Công nguyên đến thế kỷ III sau Công nguyên).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong luận án được tác giả phân chia thành ba nhóm chủ đề chính:
Nhóm chủ đề thứ nhất: Các công trình nghiên cứu triết học Ấn Độ cổ đại trong mối liên hệ với điều kiện lịch sử - xã hội và văn hóa. Nhóm này gồm các công trình tiêu biểu như: Di sản phương Đông của chúng ta (Our Oriental Heritage, 1954) của Will Durant với phần phân tích địa lý, lịch sử và tư tưởng tôn giáo; tác phẩm Phát hiện Ấn Độ (The Discovery of India, 1954) gồm 3 tập của Jawaharlal Nehru (bản dịch tiếng Việt năm 1990 của nhóm dịch giả Phạm Thủy Ba, Lê Ngọc, Hoàng Túy, Nguyễn Tâm), tập trung phân tích văn minh thung lũng Indus, kinh Veda, Upanishad và sáu hệ thống triết học; chuyên khảo Ấn Độ cổ đại (1985) của G.M. Bongard-Levin và G.F. Ilyn viết bằng tiếng Nga; cuốn Ấn Độ qua các thời đại (1986) của Chiêm Tế; Đại cương văn hóa phương Đông (1998) do Lương Duy Thứ chủ biên cùng Phan Nhật Chiêu và Phan Thu Hiền; Hợp tuyển văn học Ấn Độ (2000) của Lưu Đức Trung và Phan Thu Hiền. Các công trình này cung cấp bức tranh toàn cảnh về bối cảnh tự nhiên, xã hội và văn hóa sản sinh ra hệ thống tư tưởng Ấn Độ.
Nhóm chủ đề thứ hai: Các công trình nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển, nội dung và đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại. Các tác phẩm tiêu biểu gồm: Indian Philosophy (1951, 1956) của S. Radhakrishnan; Six Systems of Indian Philosophy (1899) của Max Müller; Triết học Ấn Độ - một cách tiếp cận mới (2006) của Heinrich Zimmer; Đại cương triết học phương Đông (1993) của Minh Chi và Hà Thúc Minh (tổng kết bốn đặc điểm triết học Ấn Độ theo quan điểm của Aldous Huxley về thực tại tối cao Brahman/Niết bàn, phương thức nhận thức trực giác tâm linh, sự đối lập giữa "cái ta thật" và "cái ta giả", cùng mục tiêu giải thoát hướng thiện); Nhập môn triết học Ấn Độ (1972) của Lê Xuân Khoa; Lịch sử triết học Ấn Độ (1967) của Thích Mãn Giác; Lịch sử triết học phương Đông (5 tập, 1972) của Nguyễn Đăng Thục; Triết sử Ấn Độ - Nhập môn triết học Ấn Độ và Upanishad (1972) của Hoàng Sỹ Quý; Lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại (1991) của Doãn Chính và Lương Minh Cừ; Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ (1997) của Doãn Chính; Mười tôn giáo lớn trên thế giới (1999) do Hoàng Tâm Xuyên chủ biên (bản dịch của Dương Thu Ái và Phùng Thị Huệ).
Nhóm chủ đề thứ ba: Các công trình nghiên cứu chuyên biệt về từng trào lưu, từng loại kinh sách triết học Ấn Độ. Nổi bật là A Sourcebook in Indian Philosophy (1973) do S. Radhakrishnan và Charles A. Moore biên soạn; bộ sách The Upanishads (4 tập, xuất bản các năm 1949, 1953, 1956, 1959) do Swami Nikhilananda giới thiệu và chú giải 13 bộ kinh căn bản; The Bhagavad-gità (1953) của S. Radhakrishnan; The Ràmàyana and Mahàbhàrata (1961) của Romesh C. Dutt; Áo nghĩa thư Upanishad (1972) do Shri Aurobindo bình giải (Thạch Trung Giả dịch); bộ ba tác phẩm của Kimura Taiken gồm Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận (1969), Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận (1969), Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận (1969) do Thích Quảng Độ dịch; Những nhà tư tưởng lớn của Ấn Độ (2003) của Albert Schweitzer (Phan Quang Định dịch); Thiền luận (1970) của Daisetz Teitaro Suzuki (Trúc Thiên dịch); Chí tôn ca (Bhagavad-gità) (1973) do Nguyễn Quỳnh dịch; Phật giáo - những vấn đề triết học (1987) của O. Rozenberg (Ngô Văn Doanh và Nguyễn Hùng Hậu dịch năm 1990); Việt Nam Phật giáo sử luận (1967) của Nguyễn Lang; Lịch sử Phật giáo Việt Nam (1988) do Nguyễn Tài Thư chủ biên; Sankara và triết học Ấn Độ (1991) của N. Isaeva; Phật pháp khái luận (1992) của Thích Ấn Thuận; Triết học tự nhiên ở Ấn Độ: Trường phái nguyên tử luận Vais'esika (1986); Veda, Upanishad - những bộ kinh triết lý tôn giáo cổ Ấn Độ (2006, tái bản 2011, 2017, 2018) do Doãn Chính chủ biên.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình đi trước đã dịch thuật nhiều văn bản gốc và nghiên cứu sâu từng trường phái hoặc giai đoạn riêng lẻ, luận án này tập trung hệ thống hóa toàn diện quá trình vận động tư tưởng từ thời kỳ Veda - Sử thi đến thời kỳ Phật giáo - Bàlamôn giáo, kết nối điều kiện kinh tế - xã hội với các trào lưu triết học, từ đó đúc kết các đặc điểm phổ quát và đánh giá ý nghĩa lịch sử trên cả ba chiều kích tư tưởng, tôn giáo và đạo đức.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm nền tảng lý luận chung. Quá trình phân tích dựa trên nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội của C. Mác và Ph. Ăngghen, coi tư tưởng triết học là sự phản ánh điều kiện sinh hoạt vật chất, cơ cấu kinh tế, thể chế chính trị và đời sống văn hóa của thời đại lịch sử cụ thể. Đồng thời, đề tài tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới các góc độ chuyên ngành: triết học lịch sử, triết học văn hóa và giá trị học.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: mổ xẻ nội dung các văn bản kinh điển và khái quát hóa thành các hệ thống quan điểm.
- Phương pháp lôgích và lịch sử: theo dõi tiến trình phát triển của các trường phái trong bối cảnh lịch sử cụ thể nhằm rút ra quy luật phát triển nội tại của tư tưởng.
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: liên kết các tư tưởng đơn lẻ trong từng bộ kinh để xây dựng bức tranh tổng thể về thế giới quan và nhân sinh quan.
- Phương pháp đối chiếu và so sánh: làm rõ sự dị biệt và tương đồng giữa các hệ thống triết học chính thống (Astika) và không chính thống (Nastika), giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
- Phương pháp trừu tượng hóa và khái quát hóa: chắt lọc các đặc điểm bản chất và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng triết học.
- Phương pháp văn bản học: khảo sát, trích dẫn và đối chiếu trực tiếp từ các văn bản kinh điển gốc và các bản dịch học thuật tiêu chuẩn.
Nguồn tư liệu sử dụng trong luận án bao gồm các văn bản gốc tiếng Phạn (Sanskrit) đã được dịch thuật và chú giải như các tập kinh Veda, 13 kinh Upanishad chủ yếu, hai bộ sử thi Ràmàyana và Mahàbhàrata, trường ca Bhagavad-gità, luận văn kinh tế - chính trị Artha-sàstra của Kautilya, Bộ luật Manu, cùng các tác phẩm kinh điển của Phật giáo, Jaina giáo và sáu phái triết học Bàlamôn giáo.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có dung lượng 200 trang, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết và 15 tiểu tiết.
Chương 1: Khái quát điều kiện và tiền đề hình thành, phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại
Chương 1 (từ trang 16 đến trang 62) tập trung phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, văn minh và thành tựu khoa học kỹ thuật đóng vai trò tiền đề cho sự hình thành của tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại.
Về điều kiện tự nhiên: Địa hình Ấn Độ là một bán đảo tam giác lớn, phía bắc là dãy Himalaya quanh năm tuyết phủ, phía tây bắc có vùng sa mạc Thar khô nóng, phía nam là cao nguyên Deccan với hai dãy núi Đông Ghat và Tây Ghat. Hai dòng sông lớn giữ vai trò huyết mạch là sông Ấn (Indus hay Sindhu, dài trên 3.180 km) và sông Hằng (Ganga, dài 2.510 km, lưu vực 907.000 km²), cùng dòng sông Brahmaputra. Sự tương phản sâu sắc về khí hậu giữa cái lạnh khắc nghiệt miền bắc và cái nóng thiêu đốt miền nam, kết hợp với các tai họa thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán, mất mùa, dịch bệnh đã hình thành tâm lý bất an trước tự nhiên, thúc đẩy con người tìm kiếm sự chở che từ thần linh và hướng sâu vào đời sống tâm linh, chiêm nghiệm nội tâm.
Về điều kiện lịch sử - xã hội: Chế độ nô lệ Ấn Độ mang tính chất gia trưởng sâu sắc. Dựa theo tác phẩm Artha-sàstra của Kautilya và Bộ luật Manu, luận án thống kê chế độ phân loại 15 dạng nô lệ:
| STT |
Loại hình nô lệ theo Artha-sàstra và Bộ luật Manu |
| 1 |
Nô lệ do cha mẹ là nô lệ sinh ra |
| 2 |
Nô lệ do mua về |
| 3 |
Nô lệ do người khác đem cho |
| 4 |
Nô lệ do thừa kế mà có |
| 5 |
Do đói khát mà đi làm nô lệ |
| 6 |
Do phạm tội mà bị xử phạt làm nô lệ |
| 7 |
Người làm con tin bị xem như làm nô lệ |
| 8 |
Nô lệ chiến tù |
| 9 |
Nô lệ được thưởng trong các kỳ thi đấu |
| 10 |
Nô lệ tự nguyện |
| 11 |
Vì bội ước mà phải làm nô lệ |
| 12 |
Nô lệ tạm thời |
| 13 |
Vì được kẻ khác nuôi nấng mà xin làm nô lệ |
| 14 |
Vì lấy nô lệ mà thành nô lệ |
| 15 |
Bán mình làm nô lệ |
Bên cạnh chế độ nô lệ, công xã nông thôn khép kín về hành chính và kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc, cùng bộ máy quản lý cố định (gồm trưởng thôn Paten, viên chức thống kê Karnum, cảnh giới Taliari, bảo vệ mùa màng Toti, tu sĩ Bàlamôn, thầy giáo) đã duy trì tính trì trệ, bảo thủ của xã hội. Chế độ phân biệt đẳng cấp (varna) khắt khe phân chia xã hội thành 4 tập cấp chính dựa theo tụng ca Con người nguyên thủy (Rig-Veda, X.90):
| Đẳng cấp (Varna) |
Bộ phận hóa thân của Purusha |
Chức năng và thành phần xã hội |
| Brahmana (Bràhmin) |
Miệng (Mouth) |
Tăng lữ, tư tế, nắm độc quyền giáo dục, tế lễ và tri thức tôn giáo |
| Kshatriya (Ksatriya) |
Hai tay (Arms) |
Vương công, võ sĩ, tướng lĩnh, nắm quyền hành chính và quân sự |
| Vaishya (Vais'ya) |
Hai bắp đùi (Thighs) |
Bình dân Aryan, thương nhân, điền chủ, thợ thủ công, nộp thuế |
| Shudra (S'ùdra) |
Hai bàn chân (Feet) |
Tiện dân, nô lệ, người lao động phục dịch ba đẳng cấp trên |
Ngoài 4 đẳng cấp trên là tầng lớp cùng đinh ngoại tập cấp (Paria hay Chandala), bị tước đoạt quyền giao tiếp xã hội bình thường. Bộ luật Manu áp đặt các mức xử phạt bất bình đẳng nghiêm ngặt nhằm bảo vệ tối đa đặc quyền của đẳng cấp Brahmana.
Về tiền đề văn minh và văn hóa: Luận án phân tích hai thời kỳ văn minh nền tảng:
- Văn minh sông Ấn (thiên niên kỷ III - II TCN): Qua các di chỉ Mohenjo-daro và Harappa do Sir John Marshall và R.D. Banerji khai quật, văn minh đồ đồng này đã đạt trình độ quy hoạch đô thị cao (nhà gạch nhiều tầng, hệ thống cấp thoát nước, bể tắm công cộng kích thước 12m x 7m x 2,4m), đồ sành sứ, đồ đồng tinh xảo, con dấu tượng hình, cùng mầm mống tín ngưỡng đa thần tự nhiên, vật linh, tôn thờ Linga - Yoni, tượng Thánh mẫu Kali và phù điêu đạo sĩ tọa thiền Yoga.
- Văn minh Veda - Sử thi (thế kỷ XV - VI TCN): Kết quả của sự di thực và dung hợp văn hóa giữa người Aryan và cư dân bản địa Dravidian, hình thành nền kinh tế nông nghiệp đồ sắt, làng xã định cư và hệ thống kinh điển Veda. Cùng với đó là các thành tựu về thiên văn học (xác định 27 chòm sao hoàng đạo), lịch pháp, toán học (hệ thống chữ số và số 0), y học (Ayurveda), nghệ thuật kiến trúc và văn học sử thi.
Chương 2: Nội dung cơ bản của tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại
Chương 2 (từ trang 63 đến trang 133) trình bày hệ thống các trào lưu và trường phái triết học qua hai thời kỳ lịch sử.
Tiết 1: Tư tưởng triết học Ấn Độ thời kỳ Veda - Sử thi (thế kỷ XV TCN - thế kỷ VI TCN)
- Tư tưởng triết học trong kinh Veda: Gồm 4 tập kinh (Rig-Veda, Sama-Veda, Yajur-Veda, Atharva-Veda). Tư tưởng triết học chuyển hóa từ tín ngưỡng đa thần tự nhiên (thờ thần Lửa Agni, thần Sấm sét Indra, thần Mặt trời Surya, thần Gió Vayu...) sang xu hướng tìm kiếm bản nguyên duy nhất tối cao của vũ trụ và quy luật trật tự khách quan (Rta).
- Tư tưởng triết học trong kinh Upanishad: Là phần kết tinh triết lý của Veda (gồm 13 bộ kinh căn bản như Katha, I'sa, Kena, Mundaka, Taitiriya, Chhàndogya, Aitareya, Brihadàranyaka, S'vetàs'vatara, Pras'na, Màndukya...). Nội dung cốt lõi xoay quanh quan hệ giữa Brahman (thực tại tối cao, linh hồn vũ trụ khách quan) và Atman (linh hồn cá thể chủ quan). Tư tưởng nền tảng là nguyên lý "Brahman - Atman nhất thể" (Tat Tvam Asi - "Ngươi chính là Cái Đó"). Luân hồi (Samsara) và Nghiệp (Karma) giải thích số phận đau khổ của con người do vô minh (Avidya), và mục tiêu tối hậu là giải thoát (Moksha) để Atman hòa nhập vào Brahman.
- Tư tưởng triết học trong Ràmàyana và Mahàbhàrata: Hai bản anh hùng ca phản ánh các chuẩn mực đạo đức xã hội. Trọng tâm triết học nằm ở Bhagavad-gità (thuộc Mahàbhàrata), nhấn mạnh khái niệm bổn phận (Dharma), hành động không vụ lợi, không màng kết quả (Nishkama Karma), và các con đường dẫn đến giải thoát thông qua Tri thức (Jnana Yoga), Hành động (Karma Yoga) và Lòng sùng tín (Bhakti Yoga).
Tiết 2: Tư tưởng triết học Ấn Độ thời kỳ Phật giáo - Bà La Môn giáo (thế kỷ VI TCN - thế kỷ III SCN)
Luận án phân chia thời kỳ này thành hai hệ thống đối lập:
| Hệ thống |
Trường phái |
Nội dung thế giới quan và nhận thức luận căn bản |
| Chính thống (The Orthodox Systems - thừa nhận uy quyền kinh Veda) |
Sànkhya |
Nhị nguyên luận thừa nhận hai nguyên lý độc lập vĩnh cửu: Tự tính (Prakriti - vật chất nguyên thủy) và Tinh thần (Purusha - ý thức thuần túy). |
|
Vais'esika |
Triết học tự nhiên theo xu hướng duy vật nguyên tử luận; phân chia vạn vật thành 6 thực thể/phạm trù (Padartha: thực thể, tính chất, hành động, cái phổ biến, cái đặc thù, quan hệ gắn kết). |
|
Nyàya |
Trọng tâm về nhận thức luận và lôgích học; xây dựng thuyết tam đoạn luận 5 mệnh đề nhằm tìm kiếm chân lý khách quan. |
|
Yoga |
Hệ thống thực hành tâm vật lý gồm 8 bước tu tập (Ashtanga Yoga) nhằm kiểm soát tâm trí, tách biệt Purusha khỏi Prakriti để đạt giải thoát (Kaivalya). |
|
Mimàmsà |
Chú giải nghi thức hành lễ và bảo vệ tuyệt đối tính chân lý vĩnh hằng của thánh kinh Veda. |
|
Vedànta |
Kế thừa và phát triển triết lý Upanishad, khẳng định Brahman là thực tại duy nhất chân thực, thế giới vật chất hiện tượng chỉ là ảo ảnh (Maya). |
| Không chính thống (The Heterodox Systems - bác bỏ uy quyền kinh Veda) |
Phật giáo (Buddhism) |
Học thuyết Duyên khởi (Pratityasamutpada), Vô thường (Anicca), Vô ngã (Anatta), Tứ diệu đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), Bát chánh đạo, hướng tới cảnh giới Niết bàn (Nirvana). |
|
Jaina giáo (Jainism) |
Nhị nguyên luận phân chia vũ trụ thành Linh hồn (Jiva) và Phi linh hồn (Ajiva); triết lý đạo đức bất bạo động triệt để (Ahimsa) và thuyết tương đối trong nhận thức (Anekantavada). |
|
Lokàyata / Càrvàka |
Chủ nghĩa duy vật vô thần triệt để; vạn vật do 4 yếu tố vật chất (Đất, Nước, Lửa, Gió) cấu thành; phủ nhận linh hồn bất tử, nghiệp báo luân hồi và đấng sáng tạo; đề cao cảm giác hiện thực. |
Chương 3: Đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của triết học Ấn Độ cổ đại
Chương 3 (từ trang 134 đến trang 184) đúc kết các đặc điểm bản chất và đánh giá giá trị lịch sử của triết học Ấn Độ cổ đại.
Những đặc điểm chủ yếu của triết học Ấn Độ cổ đại:
- Tính thống nhất và đa dạng: Thống nhất ở xu hướng hướng nội, lấy con người và đời sống tâm linh làm đối tượng suy tư trung tâm, coi giải thoát là cứu cánh tối hậu. Đa dạng ở sự phong phú của các lập trường thế giới quan (duy vật, duy tâm, nhị nguyên, đa thần, nhất thần, phiếm thần, vô thần) và các phương pháp nhận thức (trực giác, duy lý, thực nghiệm tâm linh).
- Sự đấu tranh và kế thừa xuyên suốt: Diễn ra cuộc tranh luận liên tục giữa các hệ thống chính thống (Astika) và không chính thống (Nastika), giữa chủ nghĩa duy vật (Càrvàka) và các hệ thống duy tâm, thần bí; đồng thời các trường phái tiếp thu, dung hợp các khái niệm của nhau (như luật Nghiệp, Luân hồi, tư tưởng Ahimsa).
- Triết lý đạo đức nhân sinh với tư tưởng giải thoát làm trung tâm: Khác với triết học Hy Lạp cổ đại hướng nhiều vào việc giải thích thế giới tự nhiên bên ngoài, triết học Ấn Độ tập trung vào nỗi khổ nhân sinh, truy tìm nguồn gốc nỗi khổ và vạch ra con đường diệt khổ, đưa triết học trở thành kim chỉ nam cho đời sống thực hành đạo đức.
Ý nghĩa lịch sử của triết học Ấn Độ cổ đại:
- Về mặt tư tưởng: Đóng góp vào kho tàng triết học nhân loại các tư tưởng biện chứng sâu sắc (như thuyết Duyên khởi, biến dịch vô thường), lý luận nhận thức và lôgích học (phái Nyàya), cùng hệ thống nguyên tử luận cổ đại (phái Vais'esika).
- Về mặt tôn giáo: Đặt nền móng lý luận cho các tôn giáo lớn trên thế giới như Hindu giáo, Phật giáo và Jaina giáo, định hình đời sống tâm linh và tín ngưỡng kéo dài qua nhiều thiên niên kỷ.
- Về mặt đạo đức: Xây dựng hệ giá trị nhân văn cao, đề cao lối sống từ bi, khoan dung, vị tha, tinh thần bất bạo động (Ahimsa), thái độ sống an nhiên, hòa hợp với giới tự nhiên và hạn chế lòng tham dục vật chất.
Những mặt hạn chế lịch sử: Do sự ràng buộc của điều kiện kinh tế công xã trì trệ và chế độ đẳng cấp khắt khe, triết học Ấn Độ cổ đại bộc lộ khuynh hướng tư biện, thần bí hóa, quá chú trọng vào thế giới nội tâm mà coi nhẹ việc cải tạo thế giới hiện thực khách quan; một số quan điểm về luân hồi, nghiệp báo bị giai cấp thống trị lợi dụng để biện hộ cho sự bất bình đẳng xã hội, dễ tạo ra tâm lý an phận, thụ động trước hoàn cảnh.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đã:
- Hệ thống hóa một cách toàn diện và mạch lạc quá trình hình thành, phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại qua hai thời kỳ căn bản: thời kỳ Veda - Sử thi và thời kỳ Phật giáo - Bàlamôn giáo.
- Phân tích và làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa các tiền đề tự nhiên, kinh tế, xã hội (đặc biệt là chế độ nô lệ gia trưởng, công xã nông thôn và hệ thống đẳng cấp varna) với nội dung tư tưởng của các kinh sách và trường phái triết học.
- Khái quát ba đặc điểm nổi bật (tính thống nhất và đa dạng; sự đấu tranh và kế thừa; triết lý nhân sinh với tư tưởng giải thoát) và luận giải ý nghĩa lịch sử của nền triết học này trên ba phương diện: tư tưởng, tôn giáo và đạo đức.
Về mặt thực tiễn, công trình:
- Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có hệ thống cho công tác nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử triết học phương Đông tại các trường đại học và viện nghiên cứu ở Việt Nam.
- Góp phần nhận diện cơ sở tư tưởng giúp hiểu sâu hơn sự giao lưu, tiếp biến văn hóa Ấn Độ vào văn hóa truyền thống Việt Nam trong lịch sử.
Về kiến nghị và giải pháp học thuật, tác giả đề xuất tiếp tục nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học thế giới theo phương pháp luận duy vật lịch sử, tiếp thu có chọn lọc các giá trị đạo đức nhân văn truyền thống phương Đông (như tinh thần khoan dung, hòa hợp) nhằm phục vụ công cuộc xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam hiện nay theo tinh thần các nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác tư tưởng, văn hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu từ thế kỷ XV trước Công nguyên đến thế kỷ III sau Công nguyên, chưa mở rộng khảo sát các giai đoạn phát triển tiếp theo của triết học Ấn Độ thời kỳ trung đại, cận đại và hiện đại (như giai đoạn phát triển của trường phái Advaita Vedanta của Shankara hay tư tưởng Ấn Độ cận hiện đại). Mặt khác, do nguồn tư liệu chữ Phạn cổ đồ sộ, việc tiếp cận chủ yếu dựa trên các văn bản kinh điển chủ yếu và bản dịch học thuật hiện có.
Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án mở ra các hướng phát triển:
- Đi sâu nghiên cứu so sánh giữa tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại với triết học Trung Hoa cổ đại và Hy Lạp cổ đại để làm rõ tính đặc thù của các mô hình tư duy nhân loại.
- Nghiên cứu quá trình du nhập, biến đổi và ảnh hưởng cụ thể của tư tưởng triết học - tôn giáo Ấn Độ (đặc biệt là Phật giáo) đối với đời sống văn hóa, đạo đức và thế giới quan của người Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Triết học, Lịch sử triết học, Văn hóa học, Đông phương học, Tôn giáo học và Ấn Độ học.
- Giảng viên giảng dạy các học phần Lịch sử triết học phương Đông, Lịch sử văn minh thế giới, Tôn giáo học đại cương.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa và hoạch định chính sách tôn giáo cần tìm hiểu cội nguồn tư tưởng, phong tục tập quán và bản sắc văn hóa của các cộng đồng chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ.
- Các phần đáng tham khảo sâu gồm: phần phân tích mối quan hệ giữa thể chế xã hội cổ Ấn Độ với sự ra đời của các trào lưu triết học (Chương 1); hệ thống hóa nội dung của 9 trường phái triết học chính thống và không chính thống (Chương 2); và các luận giải về giá trị đạo đức nhân văn của tư tưởng giải thoát (Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Nền văn minh sông Ấn có những đặc điểm nổi bật nào được luận án xác định là tiền đề cho triết học Ấn Độ cổ đại?
Dựa trên kết quả khảo cổ tại Mohenjo-daro và Harappa của John Marshall và R.D. Banerji, nền văn minh này (thiên niên kỷ III - II TCN) có quy hoạch đô thị đồng bộ, hệ thống thoát nước hoàn chỉnh, bể tắm công cộng phục vụ nghi lễ thanh tẩy, đồ đồng và gốm tinh xảo, con dấu khắc chữ tượng hình, cùng các mầm mống tín ngưỡng sơ khai như tục thờ Linga - Yoni, tượng Thánh mẫu Kali và phù điêu đạo sĩ tọa thiền Yoga - cội nguồn của tôn giáo và triết lý Ấn Độ sau này.
2. Chế độ nô lệ và đẳng cấp xã hội (varna) ở Ấn Độ cổ đại có những đặc trưng gì theo trình bày của luận án?
Chế độ nô lệ mang tính gia trưởng hà khắc, phân chia thành 15 loại hình nô lệ khác nhau theo Artha-sàstra và Bộ luật Manu. Chế độ đẳng cấp chia xã hội thành 4 tầng lớp khép kín xuất phát từ thần thoại Purusha (Rig-Veda, X.90): Brahmana (tăng lữ, từ miệng thần), Kshatriya (chiến sĩ/vua chúa, từ hai tay), Vaishya (thương nhân/điền chủ, từ hai bắp đùi), Shudra (tiện dân/lao dịch, từ hai bàn chân), cùng tầng lớp cùng đinh ngoại đẳng cấp Paria. Hệ thống này mang tính cha truyền con nối và được pháp luật cùng tôn giáo bảo vệ nghiêm ngặt.
3. Sự khác biệt cốt lõi giữa hệ thống triết học chính thống (Astika) và không chính thống (Nastika) trong thời kỳ Phật giáo - Bàlamôn giáo là gì?
Tiêu chí phân định căn bản là thái độ đối với thẩm quyền thánh kinh Veda: Hệ thống chính thống gồm 6 phái (Sànkhya, Vais'esika, Nyàya, Yoga, Mimàmsà, Vedànta) thừa nhận uy quyền tối cao của kinh Veda; trong khi hệ thống không chính thống gồm 3 phái (Phật giáo, Jaina giáo, Lokàyata/Càrvàka) bác bỏ uy quyền của Veda, phản đối sự thống trị của đẳng cấp tăng lữ Bàlamôn và phủ nhận giá trị của các nghi lễ hiến tế động vật.
4. Luận án khái quát những đặc điểm chủ yếu nào của triết học Ấn Độ cổ đại?
Luận án chỉ ra ba đặc điểm căn bản: (1) Tính thống nhất (hướng nội, giải thoát làm trung tâm) và tính đa dạng (phong phú về lập trường bản thể luận và nhận thức luận); (2) Sự đấu tranh và kế thừa xuyên suốt giữa duy vật và duy tâm, giữa chính thống và không chính thống; (3) Triết lý đạo đức nhân sinh với tư tưởng giải thoát làm vấn đề cốt lõi của mọi hệ thống tư tưởng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trịnh Thanh Tùng là công trình nghiên cứu lịch sử triết học được thực hiện theo phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phản ánh bức tranh toàn cảnh về sự hình thành và phát triển của tư tưởng Ấn Độ cổ đại từ thời kỳ Veda - Sử thi đến thời kỳ Phật giáo - Bàlamôn giáo. Tác phẩm đã phân tích nguồn gốc kinh tế - xã hội, cấu trúc nội dung của các kinh điển cùng các trường phái triết học lớn, từ đó đúc kết những đặc điểm bản chất và làm rõ ý nghĩa lịch sử sâu sắc trên các phương diện tư tưởng, tôn giáo và đạo đức. Đây là tài liệu khoa học có hệ thống, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử triết học phương Đông tại Việt Nam.