phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 200 trang được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết và 15 tiểu tiết. 16 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI Cùng với việc sáng tạo nên một nền văn hóa phát triển lâu đời, rực rỡ và độc đáo, dân tộc Ấn Độ cũng đã sáng tạo nên cho nhân loại một nền triết học với triết lý thâm trầm về thế giới và nhân sinh, thể hiện trình độ tư duy khá sâu sắc của người Ấn Độ. Đây là nền triết học ra đời ở một xứ sở mà tất cả mọi người, từ thường dân đến vua chúa, từ công nông đến trí thức, từ võ sĩ đến bậc tư tế… đều có niềm say mê kỳ lạ đối với triết học; bởi theo họ, triết học không chỉ giúp con người hiểu biết, nắm bắt chân lý mà còn dạy cho con người thực hành chân lý, là đạo sống của con người; như Will Durant, trong cuốn Di sản phương Đông của chúng ta (Our Oriental Heritage) đã viết: “Không có xứ sở nào mà người ta mê triết học như Ấn Độ.
Người Ấn Độ không coi triết học là một môn để tiêu khiển hoặc để trang sức trí óc; mà coi đó là lợi ích bậc nhất, cần thiết cho đời sống hằng ngày; vì vậy ở Ấn Độ các triết nhân được dân chúng tôn trọng như chúng ta tôn trọng những người hoạt động và bọn phú gia. Thử hỏi có dân tộc nào nghĩ đến việc tổ chức các buổi lễ long trọng rồi mời tôn sư các phái triết học kình địch nhau tới để đấu khẩu trước công chúng xem ai thắng ai bại, y như các võ sĩ tại đấu trường La Mã… Triết gia nào thắng thế trong một cuộc tranh luận lớn thì được dân chúng phe mình tiếp đón long trọng như một nguyên soái khải hoàn sau nhiều trận đổ máu” (Durant Will, 1954, p. 17 “Vì thế các người thầy triết học ở Ấn Độ cũng nhiều như con buôn ở Babylon. Không có đất nước nào lại có nhiều trường triết như vậy - for teachers of philosophy were as numerous in India as merchants in Babyonia.
No other country has ever had so many schools of thought” (Durant Will, 1954, p. 534); “Ở Ấn Độ,… học vấn và sự uyên bác luôn luôn được quần chúng quý trọng, vì học vấn được coi là bao hàm cả tri thức và đức hạnh. Đứng trước người có học vấn, kẻ thống trị và nhà quân sự luôn cúi chào” (Jawaharlal Nehru, 1954, vol. Những tư tưởng triết lý ấy trong các kinh sách của văn hóa Ấn Độ cổ đại, theo Jean Herbert: “cho đến nay vẫn còn được truyền tụng đến mức không thể tưởng tượng được.
Những người thợ thuyền sau một ngày làm việc cực nhọc vẫn có thể thức thâu đêm quây quần quanh ngọn lửa bập bùng, chăm chú theo dõi một tấn kịch đã ba ngàn năm qua. Ở các làng mạc, sau mỗi vụ mùa người dân quê lao động lam lũ vẫn dám bỏ ra một phần lớn số gia sản nhỏ b của mình để trả cho những nghệ nhân mỗi đêm đọc tụng và bình giải kinh sách cho họ nghe. Tính chất độc đáo trong nội dung và đặc điểm của triết học Ấn Độ không phải là cái có tính ngẫu nhiên vốn có, hay là cái được nảy sinh ra từ thế giới bên kia nào đó; theo nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, x t đến cùng, nó chính là sự phản ánh và chịu sự chi phối của điều kiện sống và của đặc điểm điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội Ấn Độ thời cổ đại.Ănghen đã viết: “Chính con người, khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đổi, cùng với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình. Không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức.
18 Và trong đó, triết học chính là biểu trưng tinh túy nhất về mặt tinh thần của một thời đại, một dân tộc, như C.Mác đã nói: “… các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại của mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học. Điều đó cũng đúng như Jawaharlal Nehru, khi nghiên cứu về nguồn gốc sản sinh ra nền văn hóa, trong đó có triết lý tôn giáo Ấn Độ nói chung, nhân sinh quan của người Ấn Độ nói riêng, đã khẳng định: “Không thể không đồng ý rằng một nền văn hóa hay một quan điểm sống dựa trên thuyết thế giới bên kia hay sự vô giá trị của thế giới lại có thể sản sinh ra tất cả những biểu hiện về cuộc sống mạnh mẽ và muôn vẻ như vậy. Thực vậy, rõ ràng là bất cứ nền văn hóa nào mà cơ bản mang tính chất thế giới bên kia thì không thể tồn tại trong hàng ngàn năm như vậy được.” (Jawaharlal Nehru, 1954, vol. Triết học Ấn Độ cổ đại với những nội dung và đặc điểm của nó, không phải là kết quả của sản phẩm dựa trên thuyết thế giới bên kia, hay là sản phẩm thuần túy có tính tư biện của tư duy; mà nó chính là sự kết tinh tinh hoa giá trị tinh thần và văn hóa của dân tộc Ấn Độ.
Vì vậy, có thể nói, sự ra đời và phát triển của tư tưởng triết học Ấn Độ, thể hiện rất đặc sắc trong nội dung và đặc điểm của nó, không thể tách rời những điều kiện mà ở đó dân tộc này sinh tồn và phát triển. Đó là điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa Ấn Độ cổ đại. Điều kiện tự nhiên của Ấn Độ cổ với quá trình hình thành và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại Ấn Độ là một trong những đất nước có điều kiện địa lý điều kiện tự nhiên và khí hậu với những đặc điểm đa dạng, phong phú nhưng cũng rất khắc nghiệt. Chính điều kiện sống như thế đã tác động thường xuyên và ghi dấu ấn đậm n t trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người Ấn Độ cổ, trên 19 các lĩnh vực của xã hội, như phương thức sản xuất, cách thức sinh hoạt, phong tục, tập quán, tâm lý, quan niệm, tư tưởng, đặc biệt là tư tưởng triết học, tín ngưỡng, tôn giáo.
Về điều kiện địa lý và điều kiện tự nhiên, Ấn Độ là một bán đảo lớn nằm ở miền nam châu Á, hai mặt đông nam và tây nam giáp Ấn Độ dương. Theo Will Durant: “Xứ đó là một tam giác mênh mông, đáy ở phía bắc, tức dãy Himalaya quanh năm tuyết phủ; đỉnh ở phía nam, tức đầu đảo Tích Lan, quanh năm nóng như thiêu như đốt. Phía tây là a Tư mà dân chúng, ngôn ngữ, thần thánh đều rất gần gũi với Ấn Độ thời Veda” (Durant Will, 1954, p. Phía bắc Ấn Độ là dãy Himalaya hùng vĩ, được coi là “nóc nhà của thế giới”.
Theo tiếng Sanskrit, Himalaya nghĩa là “xứ sở của tuyết”, quanh năm tuyết phủ, là nguồn nước vô tận của các con sông lớn, như sông Ấn và sông Hằng ở đại lục địa Ấn Độ. Với trí tưởng tượng hết sức phong phú của người Ấn Độ, Himalaya là nơi tiếp giáp giữa cõi trời và trần gian, là nơi trú ngụ, đi về của các đấng thần linh giữa thiên giới và hạ giới; đó cũng là nơi các vị đạo sĩ đã chọn làm chỗ tu tập, suy tư, chiêm nghiệm về nguồn gốc của vũ trụ, về bản chất của nhân sinh, tìm con đường giải thoát cho chúng sinh khỏi nỗi khổ của cuộc đời. Nói về sự kỳ vĩ và ảnh hưởng của dãy Himalaya với đời sống của dân tộc Ấn Độ, Jawaharlal Nehru đã viết: “Tôi lang thang trên dãy Himalaya, nơi gắn chặt với những chuyện thần thoại và truyền thuyết xưa, và nơi đã có nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng và văn học của chúng tôi. Lòng yêu mến núi non của tôi và tình ruột thịt với Kashmir đã k o tôi đến đó, và tôi được nhìn thấy không những cuộc sống, sinh lực và cái đẹp của hiện tại mà cả vẻ duyên dáng được ghi nhớ của các thời đại đã qua.” (Jawaharlal Nehru, 1954, vol.
Miền cực bắc Ấn Độ là tỉnh Kashmir, quê hương xứ sở của kỹ nghệ dệt lụa là, gấm vóc mang tính chất truyền thống cổ xưa nổi tiếng của Ấn Độ, có nguồn gốc xa xưa từ nền văn minh thung lũng Indus thuộc Tây ắc Nam Á 20 ngày nay. Ở phía nam Kashmir là miền Pendjab, nghĩa là “miền năm con sông” (gồm sông Indus và bốn nhánh sông chính là Ravi, Thelum, Chenar và Sutleji) với châu thành lớn Lohore và kinh đô mùa hè Simla của Ấn Độ trên dãy Himalaya hùng vĩ. Chính từ những nơi đây, người Ấn Độ đã sáng tạo ra những truyền thuyết và những truyện thần thoại nhằm lý giải các hiện tượng hết sức đa dạng, mạnh mẽ, kỳ vĩ của tự nhiên và sự phong phú, phức tạp, thăng trầm của đời sống con người. Con sông Ấn - sông Indus, dài trên 3180 km, tính từ ngọn nguồn của nó, chảy theo hướng tây nam qua vùng Pendjab Tây, đổ ra Vịnh Oman, tên Ấn của nó là Sindhu, có nghĩa là “sông”.
Người a Tư khi vào đất Ấn đã đổi nó thành Hindu và gọi miền bắc Ấn Độ là Hindustan, nghĩa là “vùng đất các con sông”. Khi người Hy Lạp xâm lăng Ấn Độ, đã chuyển qua một tiếng khác, rồi người Pháp lại từ tiếng này chuyển qua thành tiếng India. Từ thiên niên kỷ thứ III trước Công nguyên, ở hạ lưu phía tây sông Ấn đã nảy sinh một nền văn minh cổ nhất và nổi tiếng, với hai thành phố cổ Mohenjo - daro và Harappa, tiếng Phạn có nghĩa là “miền đồi chết”. Đó chính là nền văn minh sông Ấn - cội nguồn của lịch sử văn minh Ấn Độ.
Cũng từ miền Pendjab, sông Juma và sông Hằng (Ganga) chảy lờ đờ đổ về phía đông nam. Đặc biệt là con sông Hằng, cứ rộng lớn lần lần tới thánh địa Benares đổ ra vịnh engal, mỗi ngày tẩy uế cho mười triệu tín đồ đạo Hindu, làm cho xứ engal và miền xung quanh Calcutta hóa phì nhiêu. Nó là nguồn sống của hàng triệu người dân Ấn Độ sống dọc theo nó và phụ thuộc vào nó hàng ngày.