Chương 1: Lý luận chung về BHNT và sản phẩm bảo hiểm nhân tho Chương 2: Thực trạng triển khai sản phẩm an phát trọn đời tại công ty Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội giai đoạn 2012-2017 Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh triển khai sản phẩm an phát trọn đời tại công ty Bảo Việt Nhân Tho Hà Nội Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện đề tài này, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình thiết thực của cô giáo hướng dẫn Tô Thiên Hương và các anh chị công tác Công ty bảo hiểm Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội. Xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó. Em xin chân thành cam ơn !. CHUONG I: LY LUẬN CHUNG VEBHNT VA SAN PHAM BAO HIEM NHAN THO 1.
Lý luận chung về bảo hiểm nhân tho và san phẩm bảo hiểm nhân tho 1. Khái niệm, đặc diém và vai trò của bảo hiểm nhân thọ a. Khái niệm: Có nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm nhân thọ. Thực tế bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa công ty bảo hiểm với người tham gia bảo hiểm (người được bảo hiểm) trong đó Công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả cho người tham gia bảo hiểm (người được bảo hiểm) một khoản tiền nhất định khi có những sự kiện định trước xảy ra (người được bảo hiểm bị chết, thương tật toàn bộ vĩnh viễn, hay còn sống đến một thời điểm chỉ rõ trong hợp đồng).
Còn người tham gia bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí bảo hiém day đủ và đúng hạn. Tuy nhiên đứng trên góc độ pháp lý, xã hội kỹ thuật, có những khái niệm về bảo hiểm nhân thọ khác. Đó là: Về mặt pháp lý: Bảo hiểm nhân tho là bản hợp đồng trong đó dé nhận được phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm (người ký kết hợp đồng) thì người bảo hiểm cam kết sẽ trả cho một người hay nhiều người thụ hưởng bảo hiểm một số tiền nhất định (đó là số tiền bảo hiểm hay một khoản trợ cấp định kỳ) trong trường hợp người được bảo hiểm bị tử vong hay người được bảo hiểm sống đến một thời điểm ghi rõ trên hợp đồng. về mặt kỹ thuật: Bảo hiểm nhân thọ là nghiệp vụ bao hàm những cam kết mà sự thi hành những cam kết này thuộc chủ yếu vào tuôi thọ của con người.
Như vậy thì bảo hiểm nhân thọ giải quyết nỗi lo âu về mặt an toàn trong đời sống nhưng nó chỉ gan với các biến cố liên quan đến bản thân con người như: tử vong, sống sót, tai nạn và bệnh tật kéo theo sự mat kha năng lao động, thương tật và các chi phí y tế. Đôi khi các sự cố không phải luôn tương ứng với các thiết hại. Tóm lại, bảo hiểm nhân thọ thay thế bảo trợ xã hội cơ bản nơi mà bảo trợ xã hội không tồn tại, bổ sung cho bảo trợ xã hội khi bảo trợ xã hội còn thiếu sót. Đặc điểm: BHNT có những đặc điểm sau đây: - BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro: Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với bảo hiểm phi nhân thọ.
Khi tham gia BHNT người mua sẽ định kỳ nộp một khoản phí bảo hiểm cho người bảo hiểm, ngược lại người bảo hiểm có trách nhiệm trả số tiền lớn hơn nhiều (gọi là số tiền bảo hiểm) cho người hưởng quyên lợi bảo hiểm như đã thoả thuận từ trước khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra. Số tiền bảo hiểm được trả khi người được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định va được ấn định trong hợp đồng. Hoặc số tiền này được trả cho thân nhân và gia đình người được bảo hiểm khi người này không may bị chết sớm ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản rất nhỏ qua việc đóng phí bảo hiểm. Khoản tiền này giúp những người còn sống trang trải những khoản chỉ phí cần thiết như thuốc men, mai táng, chi phí giáo duc con cái.Chính vi vậy, BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro.
Tính chất tiết kiệm ở đây thể hiện ngay trong từng cá nhân, từng gia đình một cách thường xuyên, có kế hoạch và có ky luật. Nội dung tiết kiệm khi mua BHNT khác với hình thức tiết kiệm khác ở chỗ, người mua bảo hiểm đảm bảo trả cho người tham gia bảo hiểm hay người thân của họ một số tiền rất lớn ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ. Có nghĩa là khi người được bảo hiểm không may gặp rủi ro, trong thời hạn bảo hiểm được ấn định, những người thân của họ sẽ nhận được những khoản trợ cấp hay số tiền bảo hiểm từ công ty bảo hiểm. Điều đó thể hiện rõ tính chất rủi ro trong BHNT.
- Phí BHNT chịu tác động tông hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá trình định phí khá phức tạp: Theo tác giả Jean-Claude Harrari “sản phẩm BHNT không gì hơn chính là kết quả của một tiến trình đầy đủ dé đưa sản phâm đến công chúng”. Trong tiễn trình này, người bảo hiểm phải bỏ ra rất nhiều chi phi dé tạo nên sản phẩm, như chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng.Nhưng những chi phí đó mới chi là một phần để cấu tạo nên giá cả sản phẩm BHNT (tính phí BHNT), một phần chủ yếu khác lại phụ thuộc vào: độ tuổi của người được bảo hiểm, tuổi thọ bình quân của con người, số tiền bảo hiểm, thời hạn tham gia bảo hiểm phương thức thanh toán, lãi suất đầu tư, tỷ lệ lạm phát. - BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm: Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục dich là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia bảo hiểm gặp sự có, từ đó góp phần 6n định tài chính cho người tham gia, thì BHNT đã đáp ứng được nhiều mục đích. Mỗi mục đích được thể hiện khá rõ trong từng loại hợp đồng.
Chính vì dap ứng được nhiều mục đích khác nhau nên loại hình bảo hiểm này có thị trường ngày càng rộng và được rất nhiều người quan tâm. - BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế — xã hội nhất định. Ở các nước kinh tế phát triển, BHNT ra đời và phát triển hàng trăm năm nay. Ngược lại có một số quốc gia trên thé giới hiện nay vẫn chưa triển khai được BHNT, mặc dù người ta hiểu rất rõ vai trò và lợi ích của nó.
Dé lý giải van dé này, hau hết các nhà kinh tế đều cho rằng, cơ sở chủ yếu dé BHNT ra đời và phát triển là điều kiện kinh tế xã hội phát triển. - Hợp đồng trong BHNT rất đa dạng và phức tạp: Tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng BHNT thẻ hiện ở ngay các sản phẩm của nó. Mỗi sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, chăng hạn BHNT hỗn hợp có các hợp đồng 5 năm, 10 năm. Mỗi hợp đồng với mỗi thời hạn khác nhau, lại có sự khác nhau về số tiền bảo hiểm, phương thức đóng phí, độ tuổi của người tham gia.Ngay cả trong một bản hợp đồng, mối quan hệ giữa các bên cũng rất phức tạp.
Khác với các bản hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ, trong mỗi hợp đồng BHNT có thé có 4 bên tham gia (người bảo hiểm, người được bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm và người được thụ hưởng quyền lợi bảo hiém). Vai trò của bảo hiểm nhân thọ trong đời sống kinh tế xã hội Đối với người dân, BHNT góp phan 6n định tâm lí và ôn định cuộc sống cho các cá nhân và gia đình, là cho dựa tinh thân cho người được bảo hiém. Mac dù trong thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật đã phát triển cao, nhưng rủi ro là những bất lợi bất ngờ vẫn có thể xảy ra và thực tế đã chứng minh rằng nhiều cá nhân và gia đình đều trở nên khó khăn, túng quẫn khi có một thành viên trong gia đình, đặc biệt thành viên đó lại là người trụ cột bị chết hoặc bị thương tật vĩnh viễn. Tham gia BHNT sẽ phần nào giải quyết được những khó khăn đó.
Khi tham gia BHNT, người tham gia bảo hiểm đóng một khoản tiền, gọi là phí bảo hiểm dé hình thành quỹ bảo hiểm, quỹ này được sử dụng chủ yếu vào mục đích bồi thường, chỉ trả và dự phòng. Khi nhàn rỗi, nó sẽ là nguồn vốn đầu tư hữu ích góp phần phát triển và tăng trưởng kinh tế. Nguồn vốn này không chỉ có tác dụng đầu tư dài hạn, mà còn góp phần thực hành tiết kiệm, chống lạm phát và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động. Tuy nhiên hiện nay, do dam bảo ôn định quỹ, các hoạt động đầu tư quỹ BHNT được nhà nước kiểm soát chặt chẽ.
Tiến bộ khoa học cũng giúp con người kéo dài thêm. Tudi tho tăng thé hiện đời sống vật chất tinh thần cao. Đây là điều đáng mừng, song nó cũng đặt ra cho xã hội, trước hết là nguồn ngân sách Nhà nước một số vấn đề an sinh cần được quan tâm giải quyết. Cần nguồn ngân sách giải quyết các chế độ đảm bảo xã hội, nhất là đối với những người già yếu, không nơi nương tựa.
Do vậy, phần vốn ngân sách đầu tư cho phát triển ít nhiều nhất định sẽ bị ảnh hưởng. Nhằm khắc phục ảnh hưởng ấy, nhiều nước trên thé giới đã dùng biện pháp khác dé bổ sung vốn đầu tư phát triển. Đó là mở rộng thị trường BHNT, huy động mọi tầng lớp dân cư tham gia mua BHNT dài hạn. Khi các cá nhân được bảo vệ bởi BHNT sẽ trở nên ít phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, từ đó cũng giúp những cá nhân gặp hoàn cảnh khó khăn thêm phần hỗ trợ.
Ví dụ trên thế giới, ở Đức ngày nay, người hưu trí còn có khoản thu thêm từ quỹ BHNT bồ sung cho thu nhập tuổi già của mình và khoản này chiếm 20% thu nhập hàng tháng của họ. BHNT là một công cụ hữu hiệu để huy động những nguồn tiền mặt nhàn rỗi ở các tầng lớp dân cư trong xã hội đề thực hành tiết kiệm, góp phần chống lạm phát. Xét về mặt sản phẩm, tat cả sản phâm của BHNT đều có kha năng chống lại ảnh hưởng của lạm phát vì khi tính phí bảo hiểm, công ty bảo hiểm đã áp dụng một tỷ lệ chiết khấu phí (lãi kỹ thuật), phần lãi này sẽ bù đắp lại phần trượt giá.