Chương 1: Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư Chương 2: Thực trạng triển khai sản phẩm bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư tại Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội giai đoạn 2013 — 2017 Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác triển khai sản phẩm bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư tại Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội trong thời gian tới CHUONG 1: TONG QUAN VE BẢO HIEM NHÂN THO LIÊN KET ĐẦU TƯ 1. Khai quát chung về bảo hiểm nhân tho 1. Lịch sử hình thành bảo hiểm nhân thọ a. Trên thế giới Trên thị trường thế giới và theo quan điểm truyền thống xa.xưa, khi một người không may qua đời thì những người thân, bạn bè, hàng xóm của người đó sẽ đứng ra giúp đỡ, quyên góp tiền để trợ giúp một phần cho gia đình của người đó vượt qua được những khó khăn trước mắt.
Tuy nhiên; mặc dù có thé nhận được sự hỗ trợ giúp đỡ của những người thân thiết nhưng không đủ để trang trải cho những chỉ phí tối thiểu phát sinh khiến điều đó trở nên khó khăn hơn. Hiểu được những khó khăn, nhu cầu cần thiết đó, bảo hiểm nhân thọ ra đời như một phương pháp hiệu quả cung cấp tài chính kip thời khi ai đó không may gặp rủi ro. Chính vì lẽ đó, BHNT đã ra đời va trên hết là phát triển từ rất lâu trên thế giới. Vào năm 1583, BHNT được ra đời tại Luân Đôn thuộc nước Anh.
Và hợp đồng BHNT đầu tiên trên thế giới cũng được thỏa thuận vào chính năm đó. Hợp đồng đầu tiên này được thỏa thuận bởi một công nhân ở Luân Đôn là ông William Gybbon. Thời điểm đó mức phí ông phải đóng là 32 bảng Anh, và thỏa thuận là nếu ông chết trong năm đó thì người thừa kế của ông sẽ được nhận 400 bảng Anh. Trong suốt 3 thập kỷ sau Cách Mạng Ánh Sáng, chỉ có ở Anh là phát triển dịch vụ bảo hiểm nhân thọ này bở năm 1688; trên toàn Châu Âu chỉ có nước Anh là Vương Quốc duy nhất công nhận hợp pháp dịch vụ bảo hiểm nhân thọ.
Tuy ra đời trên thé giới là rất sớm nhưng dịch vụ BHNT này lai không hề có điều kiện phát triển ở nhiều nước, bởi do nhiều nước thiếu trình độ cơ sở kĩ thuật cũng như hiểu biết. Chính vì vậy, lúc này bảo hiểm nhân thọ tồn tại dưới nhiều hình thức rất khác nhau. Tuy nhiên sau đó, do sự phát triển kinh tế hơn, cuộc sông và điều kiện kinh tế được cải thiện không ngừng. Thêm vao đó là sự phát triển của khoa học kĩ thuật nên BHNT đã có điều kiện phát triển trên phạm vi rộng lớn.
Doc theo sự phát triển của nền kinh tế lúc bay giờ, BHNT lần lượt đã xuất hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới. Công ty bảo hiểm đầu tiên của Hoa Kỳ đã ra đời ở Charleston, thủ phủ bang South Carolina. Và vào năm 1759, tập đoàn bảo hiểm nhân thọ đầu tiên của Hoa Kỳ ra đời ở Philadelphia — và đó cũng là tập đoàn Bảo Hiểm Nhân Thọ ra đời đầu tiên trên thế giới. Ở Châu Á, thì công ty Bảo Hiểm Nhân Thọ đầu tiên ra đời ở Nhật Bản vào năm 1868.
Đến năm 1888 va 1889, có thêm hai công ty nữa đó là Kyoei và Nippon ra đời và phát triển cho đến ngày nay. Cho đến ngày nay; bảo hiểm nhân thọ đã phát triển vô cùng phô biến, đa dạng và mạnh mẽ. Từ những loại hình bảo hiểm đơn giản, cơ bản là Bảo hiểm sinh mạng có thời gian (Bảo hiểm tử kỳ); Bảo hiểm trọn đời, Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp, bảo hiểm trợ cấp hưu trí. Mỗi công ty, doanh nghiệp đều tự thiết kế những nhóm sản phẩm riêng cho mình với những đặc thù riêng nhằm phù hợp với nhu cầu tài chính của từng quốc gia cũng như từng nhóm dân cư khác nhau.
Các doanh nghiệp cũng có những điều khoản bổ sung riêng trong các hợp đồng chính với phạm vi bảo hiểm là tai nan, ốm đau, bệnh hiểm nghèo. xảy ra trong thời hạn bảo hiểm của hợp đồng chính. Việt Nam Trước những năm 1954, ở miền Bắc chủ yếu là các hợp đồng bảo hiểm liên quan đến các công ty bảo hiểm của nước Pháp. Bởi họ là công nhân làm việc cho Pháp, được mua bảo hiểm và hưởng quyên lợi bảo hiểm bởi các hợp đồng này.
Trong những năm 1970-1971 thì công ty Hưng Việt bảo hiểm ở miền Nam cũng đã trién khai một số loại hình bảo hiểm như An sinh giáo dục, Bảo hiểm trường sinh (thuộc bảo hiểm nhân thọ trọn đời); bảo hiểm tử kỳ thời hạn 5-1-20 năm, nhưng sau đó công ty dừng hoạt động sau một đến hai năm do các loại hình sản phẩm này không được biết đến rộng rãi. Năm 1987, với đề án “Bảo hiểm nhân thọ và việc vận dụng vào Việt Nam” của Bảo Việt dé nhằm phát triển hơn nữa các loại hình bảo hiểm nhân thọ vào Việt Nam, nhưng do tại thời điểm này đất nước còn gặp nhiều khó khăn nhất định như: thu nhập của người dân còn thấp chỉ đủ cho các nhu cầu tối thiểu, tỷ lệ lạm phát còn cao và chưa ôn định; chưa có các điều kiện pháp lý cũng như môi trường đầu tư cho các doanh nghiệp bảo hiểm phát triển. Chính vì vậy mà công ty Bảo Việt đã thất bại với dé án đó. Đến năm 1990, với sự thấu hiểu sự cần thiết của bảo hiểm nhân thọ, Bộ Tài Chính đã cho phép công ty Bảo Việt triển khai loại hình bảo hiểm sinh mạng con người thời han 1 năm.
Sau khi triển khai loại hình bảo hiểm này ra thị trường thì gặp một số nhất định như: thời hạn chỉ diễn ra trong vòng một năm là không hấp dẫn người tham gia, chỉ có thê tham gia cho những người già; sự hiểu biết về sản phẩm bảo hiểm này cũng không rõ ràng dẫn đến nhiều thắc mắc về việc không gặp rủi ro thì sao? Có được nhận lại gì không? Sau NÐ 100/CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ về hoạt động kinh doanh bảo hiểm thì từ năm 1994 đến nay đã có thêm nhiều công ty bảo hiểm ra đời và được cấp giấy phép hoạt động như: Công ty bảo hiểm nhân thọ Chinfon Manulife (hiện nay là Manulife), Công ty bảo hiểm nhân tho Bảo Minh — CMG (hiện nay là Dai — ichi life); công ty bảo hiểm nhân tho Prudential; công ty bao hiểm nhân thọ quốc tế AIA. Giai đoạn này có nhiều công ty BHNT nên đã chấm dứt tình trạng độc quyền và dẫn đến sự phát triển cho thị trường bảo hiểm nhân thọ được cạnh tranh. Có thé nói, ND 100/CP của Chính Phủ đã tạo ra một bước ngoặt mới thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam. Ngày 09/12/2000; Quốc hội đã thông qua luật Kinh doanh bảo hiểm, tạo hành lang pháp lý vô cùng quan trọng và kịp thời cho thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Nhờ có luật Kinh doanh bảo hiểm mà các công ty bảo hiểm trên thị trường cạnh tranh một cách bình đăng và văn minh hơn; từ đó tạo điều kiện cho thị trường bảo hiểm nhân thọ phát triển mạnh mẽ hơn cho đến hiện nay. Bản chất và nguyên tắc hoạt động a. Bản chất Có thé hiểu bảo hiểm nhân thọ là sự thỏa thuận, cam kết giữa người được bảo hiểm và người bảo hiểm trong đó người bảo hiểm sẽ phải trả một số tiền nhất định cho người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra (sự kiện bảo hiểm có liên quan đến người được bảo hiểm chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định); còn người tham gia phải có nghĩa vụ nộp đóng phí một cách đầy đủ và đúng thời hạn. Ban chất của BHNT có thé hiểu đơn giản là một loại hình bảo hiểm đảm bảo rủi ro, có liên quan đến tuổi thọ của con người.
Tuổi thọ của con người có thé trong các trường hợp sống, chết hoặc hỗn hợp. Đối tượng của bảo hiểm nhân thọ chính là tính mạng, thân thể và sức khỏe của con người. Tất cả những người tham gia BHNT sẽ gửi vào một quỹ chung gọi là quỹ bảo hiểm. Mỗi người sẽ đóng góp một khoản riêng vào đó, sẽ được hưởng giá trị hoàn lại khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra và có sinh lãi đâu tư; có thể được hưởng quyền lợi lợi tức tùy loại hình bảo hiểm áp dụng.
Quỹ bảo hiểm nham phục vụ cho công tác quan lý; công tác đầu tư và chi trả quyền lợi bảo hiểm. Khi người tham gia gặp rủi ro thì bản thân người tham gia hoặc người thụ hưởng là thân nhân gia đình sẽ được nhận STBH từ quỹ bảo hiểm dé bù đắp, khắc phục những khó khăn trước mắt một cách dễ dàng hơn. Nguyên tắc hoạt động Bảo hiểm nhân thọ hoạt động theo sáu nguyên tắc cơ bản sau: > Nguyên tắc thứ nhất: Vừa bảo hiểm vừa tiết kiệm Khi người tham gia bảo hiểm đồng ý đóng một khoản phí định ki trong khoảng thời gian cố định theo thỏa thuận vào quỹ bảo hiểm của công ty thì công ty phải có trách nhiệm chỉ trả số tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Trong bảo hiểm nhân thọ có một chút khác biệt với các loại hình bảo hiểm khác đó là, ngoài số tiền bảo hiểm thông thường được nhận thì người tham gia bảo hiểm nhân thọ còn được nhận lại khoản tiền đã đóng góp và số tiền lãi suất từ công ty bảo hiểm; tức là mang cả tính chất tích lũy và tính chất đầu tư.
> Nguyên tắc thứ hai: Chỉ bảo hiểm cho rủi ro không lường trước Rui ro được bảo hiém trong bảo hiém nhân thọ phải là những rủi ro không được lường trước, rủi ro xảy ra bat ngờ, mang tính chất ngẫu nhiên và ngoài ý muôn với người được bảo hiém. Sẽ không bảo hiêm cho những rủi ro sẽ chắc chăn xảy ra hoặc là đã xảy ra rôi. > Nguyên tac thứ ba: Sô đông bù sô ít Nguyên tắc số đông bù số ít là nguyên tắc được áp dụng trong bảo hiểm nói chung. Do vậy bảo hiểm nhân thọ cũng phải tuyệt đối áp dụng nguyên tắc này.
Bởi con người phải đối mặt với rất nhiều rủi ro trong cuộc sông. Nếu một người xảy ra rủi ro rất lớn, san sẻ cho rất nhiều người thì lại là một chuyện rất nhỏ. Do vậy nguyên tắc này cũng mang tính nhân đạo, nhân văn vô cùng to lớn đối với xã hội. > Nguyên tắc thứ tư: Nguyên tắc trung thực Đối tượng được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ là thân thé, tính mạng và sức khỏe của con người.