Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TÀY Ở XÃ VINH QUANG 1. Đặc điểm tự nhiên, xã hội địa bàn cư trú 1. Đặc điểm tự nhiên Xã Vinh Quang nằm cách trung tâm huyện Chiêm Hóa 8 km. Phía Đông tiếp giáp với xã Kim Bình, phía Tây tiếp giáp sông Gâm, phía Đông Nam tiếp giáp xã Bình Nhân, phía Nam tiếp giáp xã Trung Hòa.
Địa hình: Khá đa dạng bao gồm địa hình thung lũng bằng phẳng, đồi núi,…Trong đó chủ yếu là địa hình đồi núi đặc biệt là đồi núi thấp, độ cao trung bình từ 100- 250 mét. Với đặc điểm về địa hình này thuận lợi cho việc phát triển nhiều ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp. Địa hình thung lũng bằng phẳng thuận lợi cho việc phát triển nền nông nghiệp trồng trọt, đặc biệt là trồng lúa nước và một số loại cây hoa màu và các cây lương thực như ngô, khoai, sắn,…Vùng đồi núi phát triển chăn nuôi các loại gia súc và đặc biệt đây là thế mạnh về phát triển lâm nghiệp. Đất đai: “ Xã có tổng diện tích đất tự nhiên 2555 ha.
Trong đó đất nông nghiệp là 606,37 ha ( đất trồng lúa 146,49 ha; đất trồng cây hàng năm 307,83 ha; đất trồng cây lâu năm 128,47 ha; đất có mặt nước chuyên dùng 20,58 ha), đất lâm nghiệp 1226,6 ha, còn lại là diện tích đất chuyên dùng khác”[16, tr 1]. Trong đó, chủ yếu là đất feralit, thuận lợi cho phát triển các loại cây lương thực và thực phẩm như: ngô, lạc, đậu tương, sắn,. và đặc biệt đây là loại đất phù hợp cho sự phát triển và sinh trưởng của các loại cây dược liệu như: cây ngải cứu ( co nhả ngải), cây cỏ xước (kíp thấp), cây hạt muồng , sài đất,…Đất đai ở đây 12 là nguồn tài nguyên quý giá, nó phản ánh nơi đây có nền nông lâm nghiệp tương đối phát triển.3 Khí hậu Do ảnh hưởng của địa hình cũng như mang đặc trưng của khí hậu miền Bắc nói chung và vùng Đông Bắc nói riêng, khí hậu nơi đây mang tính chất nhiệt đới gió mùa chia làm bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Trong đó mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc khí hậu khô hanh nhưng không có những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như tuyết rơi,…Mùa hè không quá nóng bức do ít và hầu như không chịu ảnh hưởng của gió Lào.
Với điều kiện khí hậu mát mẻ, lượng mưa trung bình hàng năm lớn khoảng 2.500 mm, độ ẩm không khí khá cao 87% đã tạo điều kiện cho thảm thực vật phát triển, nhất là rừng, đặc biệt là cây dược liệu. Tài nguyên sinh vật Động, thực vật đa dạng và phong phú với khoảng vài trăm loài động vật, tiêu biểu như: Nai, Hươu, Lợn rừng, Gà rừng, chim, ong,…Và có khoảng 750 loài thực vật, trong đó đa dạng nhất vẫn là nguồn tài nguyên rừng bao gồm nhiều loại cây trồng và các thảm thực vật với một số loài thực vật quý như: Nghiến, Sưa, Lát hoa,….Ngoài ra nguồn tài nguyên này còn cung cấp cho đồng bào nhiều loại dược liệu như: cây ích mẫu, Bách Bộ, Huyết Dụ, Bướm bạc, Dạ Cẩm,…Với sự đa dạng và phong phú, nguồn tài nguyên này không chỉ cung cấp cho đồng bào nguồn thực phẩm từ động, thực vật mà đây còn là điều kiện hình thành nên những kinh nghiệm, tri thức dân gian trong đó có tri thức chăm sóc sức khỏe bằng những loài động, thực vật sẵn có này. Nguồn dược liệu này đã được người Tày ở Vinh Quang áp dụng rất hiệu quả trong việc chữa bệnh. Các loại dược liệu này có thể kết hợp với nhau theo nhiều cách khác nhau để điều trị nhiều chứng bệnh.
Tài nguyên nước Với điều kiện tự nhiên và sự đa dạng về địa hình của xã đã tạo nên sự đa dạng và phong phú của nguồn tài nguyên nước, bao gồm: nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm. Nguồn nước mặt là hệ thống khe suối phong phú, ngoài ra trên địa bàn xã còn có dòng sông Gâm chảy qua, hàng năm có nguồn nước mưa rồi dào. Ngoài nguồn nước mặt thì nguồn nước ngầm nơi đây cũng rất phong phú. Mực nước ngầm tương đối cao, do vậy có thể khoan đào giếng.
Hiện nay nhân dân xã Vinh Quang chủ yếu dùng nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm, với điều kiện như vậy trên địa bàn xã luôn luôn đảm bảo cung cấp nguồn nước cho tưới tiêu và sinh hoạt của nhân dân, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái khu vực. Đặc điểm xã hội 1.1 Dân cư Xã có tổng dân số là 7087 người, tổng số hộ là 1529 hộ. Được cơ cấu thành 16 thôn, 2 hợp tác xã nông lâm nghiệp, gồm 8 dân tộc anh em cùng chung sống ( Tày, Nùng, kinh, Dao, Hoa, Cao Lan, Sán Dìu ), trong đó người Tày chiếm dân số đông nhất trong xã. Các tộc người nơi đây không sống riêng rẽ mà họ sống xen kẽ với các tộc người khác, họ có sự giao lưu với nhau trong mọi mặt của đời sống xã hội như kinh tế, văn hóa,…Chính những đặc điểm này đã góp phần tạo nên nền văn hóa đặc sắc của xã Vinh Quang nói chung và văn hóa của từng tộc người nói riêng.
Kinh tế Kinh tế chủ đạo của các tộc người trên địa bàn xã là nền kinh tế nông nghiệp. Trong sản xuất nông nghiệp họ chủ yếu trồng cây lúa nước và làm nương rẫy. Trong thời gian gần đây có nhiều dự án phát triển kinh 14 tế, thay đổi cơ cấu cây trồng nên ngoài trồng lúa nước thì trên địa bàn xã đang phát triển mạnh cây mía đường. Nhờ sự giao lưu, phát triển kinh tế và để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân thì thương nghiệp và thủ công nghiệp cũng đang được đầu tư phát triển.
Với xu hướng phát triển kinh tế hiện nay sẽ là điều kiện nâng cao đời sống người dân nơi đây. Xã hội Xã Vinh Quang là xã thuộc khu vực “ ATK ”, nhân dân các dân tộc xã Vinh Quang có truyền thống cách mạng lâu đời. Song điều kiện cơ sở hạ tầng nghèo nàn, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn nhiều khó khăn. Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp chính quyền đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như: đường giao thông, cầu cống, chợ nông thôn, trường học, trạm y tế,… với mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội, giữ vững an ninh- quốc phòng, chú trọng công tác xóa đói giảm nghèo ở địa phương.
Trên địa bàn xã hiện nay có một trường mầm non, 2 trường tiểu học, 1 trường THCS, 1 trạm y tế. Điều này đã góp phần nâng cao dân trí và đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân, góp phần thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển. Khái quát về người Tày ở xã Vinh Quang 1. Lịch sử tộc người và quá trình chuyển cư Người Tày ở xã Vinh Quang là tộc người đã có mặt rất lâu đời trên mảnh đất này.
Tày có nghĩa là Người, là tên đồng bào tự gọi và nay trở thành tên gọi chính thức của dân tộc. Người Tày nói chung và người Tày ở xã Vinh Quang nói riêng là cư dân định cư lâu đời ở Việt Nam. Người Tày ở xã Vinh Quang gồm hai bộ phận: bộ phận người Tày gốc và bộ phận các dân tộc khác do cộng cư lâu dài nên đã bị “Tày hóa ”. Đặc biệt trong cộng đồng người Tày ở xã Vinh Quang có nhiều dòng họ gốc người kinh từ miền xuôi lên bởi nhiều lí do khác nhau: hoạt động cách mạng trong thời chiến tranh, tha phương tìm 15 nơi làm ăn,… Họ đến và ăn ở, lấy chồng, lấy vợ người Tày, chịu ảnh hưởng của văn hóa Tày và sau đó trở thành người Tày.
Ngoài ra còn có người Tày ở các xã, huyện lân cận di cư sang để sinh sống. Tuy có nguồn gốc và định cư tại đây với những nguyên nhân khác nhau nhưng trải qua thời gian cùng chung sống đoàn kết, cộng đồng người này đã khẳng định được bản sắc riêng của tộc người mình, bản sắc riêng có của cộng đồng người Tày ở xã Vinh Quang. Dân số và phân bố dân cư “Xã Vinh Quang có 8 dân tộc anh em cùng chung sống. Bao gồm các dân tộc: Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa, Cao Lan, Sán Dìu.
Trong đó dân tộc có số dân đông nhất là người Tày, gồm 4258 người, chiếm khoảng 60 % dân số toàn xã” [15, tr 1]. Tất cả các dân tộc đều đoàn kết với nhau để giúp đỡ nhau phát triển kinh tế cũng như các mặt văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh… Xã được chia thành 16 thôn: Phố Chinh, Vĩnh Tường, Ngọc Lâu, Soi Đúng, Bình Thể, Tông Trang, Quang Hải, Vĩnh Bảo, Aí Quốc, Phong Quang, Tiên Hóa 1, Tiên Hóa 2, An Ninh, Tân Quang, Tiên Quang 1, Tiên Quang 2. Trong đó người Tày sống chủ yếu ở các thôn: Soi Đúng, An Ninh, Ngọc Lâu, Bình Thể, Vĩnh Tường, Tông Trang, Vĩnh Bảo. Người Tày chủ yếu cư trú ở vùng thấp, đường giao thông thuận tiện, gần đồng ruộng để tiện cho việc trồng trọt.
Bản của người Tày thường sống tập trung, xung quanh có nhiều cây ăn quả, cây bóng mát, cây lấy gỗ,… những điểm trên cho thấy đồng bào sống định canh định cư, không du canh du cư. Dựa vào những đặc điểm về dân số và phân bố dân cư như vậy, có thể khẳng định rằng cộng đồng người Tày nơi đây là những cư dân nông nghiệp, đặc biệt là phát triển nền nông nghiệp trồng trọt. Đặc điểm kinh tế xã hội 1. Đặc điểm đời sống kinh tế và mưu sinh Dân tộc Tày trên đất nước nói chung cũng như ở xã Vinh Quang, huyện Chiêm, Hóa tỉnh Tuyên Quang nói riêng đều là cư dân nông nghiệp.
Nền kinh tế cơ bản là nền kinh tế nông nghiệp, nguồn sống chính là trồng trọt, chăn nuôi, thủ công nghiệp là ngành phụ gia đình. * Trồng trọt Điều dễ dàng nhận thấy nhất, đó là đồng bào trồng nhiều loại cây có hầu hết ở miền Bắc nước ta. Cây trồng gồm nhiều loại khác nhau như cây lương thực, cây thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp.và trồng trên các vùng đất khác nhau, theo các phương thức canh tác khác nhau. - Cây lương thực Trồng lúa nước là truyền thống lâu đời của đồng bào.
Ruộng theo tiếng Tày có nghĩa là “Nà”. Đó là những mảnh đất bằng phẳng có bờ giữ nước, giữ ẩm, thông thường ruộng nước có thể làm được hai vụ lúa. Giống lúa được đồng bào sử dụng gồm hai loại: lúa tẻ (khảu chăm), và lúa nếp (khảu nua).