Đánh giá hiệu quả điều trị thoái hoá cột sống cổ bằng Quyên tý thang và cấy chỉ

Nghiên cứu khoa học về hiệu quả điều trị thoái hoá cột sống cổ bằng bài thuốc Quyên Tý Thang, kết hợp phương pháp cấy chỉ và điện châm.

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án chuyên khoa cấp II

2018

113
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Thoái hóa cột sống cổ Nguyên nhân và triệu chứng

Thoái hóa cột sống cổ (THCSC) là bệnh mãn tính gây đau và biến dạng khớp, ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng cuộc sống. Bệnh xảy ra khi sụn khớp, đĩa đệm và xương dưới sụn bị thoái hoá do quá trình lão hóa và áp lực quá tải kéo dài. Tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở nữ giới với tỉ lệ nữ/nam xấp xỉ 2,5:1. Thoái hóa cột sống cổ chiếm 14% các bệnh thoái hoá khớp, đứng hàng thứ hai sau thoái hoá cột sống thắt lưng. Nguy cơ mắc bệnh tăng theo tuổi, đặc biệt ở những người lao động nặng hoặc có tư thế làm việc không đúng cách. Biểu hiện lâm sàng đa dạng bao gồm đau nhức vùng cổ gáy, tê mỏi cánh tay và ảnh hưởng đến tầm vận động khớp.

1.1. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

Nguyên nhân chính của thoái hoá cột sống cổ là quá trình lão hóa tự nhiên kết hợp với áp lực cơ học kéo dài lên đĩa đệm và sụn khớp. Các yếu tố nguy cơ bao gồm: tuổi tác, giới tính nữ, lao động nặng, tư thế làm việc sai, chấn thương cũ, di truyền và thiếu vận động. Tình trạng chịu áp lực quá tải của đĩa đệm dẫn đến thoái hoá dần dần, gây ra các thay đổi ở phần xương dưới sụn, dây chằng và các cơ cạnh khớp.

1.2. Biểu hiện lâm sàng và ảnh hưởng

Triệu chứng thoái hoá cột sống cổ rất đa dạng do cấu tạo giải phẫu phức tạp. Bệnh nhân thường gặp đau nhức, tê mỏi vùng cổ gáy, cánh tay, hạn chế tầm vận động khớp và cảm giác khó chịu dai dẳng. Mặc dù không gây tử vong, bệnh ảnh hưởng nặng nề đến sinh hoạt hằng ngày, giảm năng suất lao động và làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống bệnh nhân.

II. Phương pháp điều trị bằng Quyên tý thang kết hợp cấy chỉ

Quyên tý thang là bài thuốc y học cổ truyền hiệu quả trong điều trị thoái hoá cột sống cổ. Kết hợp Quyên tý thang với cấy chỉ tạo nên phương pháp điều trị đông tây y tiên tiến, mang lại kết quả tích cực. Bài thuốc hoạt động bằng cách kích thích tuần hoàn máu, giảm viêm, giảm đau và phục hồi chức năng khớp. Cấy chỉ sử dụng chỉ đặc biệt tại các h穴 vị liên quan, kích hoạt hệ thống miễn dịch tự nhiên của cơ thể, giúp tái sinh mô và giảm đau hiệu quả. Phương pháp này giúp bệnh nhân giảm các tác dụng phụ của thuốc giảm đau chống viêm dài hạn, nâng cao chất lượng cuộc sống mà không cần can thiệp phẫu thuật.

2.1. Cơ chế hoạt động của Quyên tý thang

Quyên tý thang hoạt động qua các thành phần dược liệu quý giá, giúp kích thích tuần hoàn máu, nuôi dưỡng khớp và cơ gân. Bài thuốc này có tác dụng giảm viêm, chống sưng, giảm đau và hỗ trợ phục hồi chức năng của cột sống cổ. Các thành phần trong Quyên tý thang tác động trên nhiều cấp độ, cải thiện tình trạng thoái hoá, tăng cường khả năng tự phục hồi của cơ thể.

2.2. Lợi ích của kết hợp cấy chỉ và Quyên tý thang

Kết hợp cấy chỉ với Quyên tý thang tạo hiệu ứng tích cực lên nhau. Cấy chỉ tại các穴位 hỗ trợ kích thích phục hồi mô, giảm cơn đau tức thời trong khi Quyên tý thang cung cấp hỗ trợ nội tại dài hạn. Phương pháp này giúp giảm phụ thuộc vào thuốc giảm đau, an toàn và hiệu quả, đặc biệt phù hợp với bệnh nhân cần điều trị lâu dài.

III. Đánh giá hiệu quả điều trị qua các chỉ số lâm sàng

Hiệu quả điều trị thoái hoá cột sống cổ bằng Quyên tý thang kết hợp cấy chỉ được đánh giá thông qua nhiều chỉ số lâm sàng cụ thể. Thang điểm VAS (Visual Analogue Scale) đo lường mức độ đau, cho thấy giảm đáng kể sau 7 và 14 ngày điều trị. Tầm vận động khớp (TVĐK) cột sống cổ cải thiện rõ rệt, bao gồm các hoạt động cúi, ngửa, nghiêng và quay. Bảng câu hỏi NPQ (Northwick Pack Neck Pain Questionaire) đánh giá hạn chế sinh hoạt hằng ngày, ghi nhận sự cải thiện chức năng. Các chỉ số này cho thấy phương pháp điều trị kết hợp mang lại kết quả rõ rệt trong việc phục hồi chức nănggiảm triệu chứng của bệnh nhân.

3.1. Đánh giá mức độ đau theo VAS

Thang điểm VAS là công cụ đánh giá mức độ đau hiệu quả, từ 0 (không đau) đến 10 (đau tối đa). Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân điều trị bằng Quyên tý thang kết hợp cấy chỉ ghi nhận giảm đau rõ rệt sau 7 ngày và tiếp tục cải thiện sau 14 ngày. Điểm đau trung bình giảm đáng kể, cho thấy tính hiệu quả của phương pháp điều trị này trong quản lý đau cho bệnh nhân thoái hoá cột sống cổ.

3.2. Cải thiện tầm vận động khớp

Tầm vận động cột sống cổ được đo lường chi tiết bao gồm hoạt động cúi, ngửa, nghiêng phải/trái, quay phải/trái. Kết quả sau điều trị cho thấy biên độ hoạt động tăng đáng kể sau 7 và 14 ngày. Bệnh nhân có thể thực hiện các hoạt động hàng ngày dễ dàng hơn, phục hồi chức năng sinh hoạttăng cường khả năng lao động sau khi hoàn thành liệu trình.

IV. Kết quả lâm sàng và khuyến nghị điều trị

Kết quả lâm sàng từ những nghiên cứu chuyên sâu cho thấy điều trị thoái hoá cột sống cổ bằng Quyên tý thang kết hợp cấy chỉ đạt hiệu quả cao. Sau 14 ngày điều trị, đa số bệnh nhân ghi nhận sự cải thiện rõ rệ trong giảm đau, tăng tầm vận độngphục hồi chức năng sinh hoạt. Phương pháp này đặc biệt thích hợp cho những bệnh nhân không muốn dùng thuốc giảm đau lâu dài hoặc chưa cần đến phẫu thuật. Điều trị y học cổ truyền kết hợp y học hiện đại giúp bệnh nhân có lựa chọn an toàn, hiệu quả và bền vững. Để đạt kết quả tối ưu, cần kết hợp với vật lý trị liệu, thay đổi tư thế lao động và tuân thủ điều trị đầy đủ.

4.1. Kết quả điều trị tổng thể

Kết quả điều trị sau 7 và 14 ngày cho thấy tỷ lệ bệnh nhân cải thiện cao. Phân loại kết quả bao gồm: khỏi, rất tốt, tốt và chưa hiệu quả. Đa số bệnh nhân đạt mức "tốt" hoặc "rất tốt", chứng minh hiệu quả điều trị của phương pháp Quyên tý thang kết hợp cấy chỉ. Thời gian điều trị càng dài, kết quả càng tích cực.

4.2. Khuyến nghị và hướng dẫn điều trị

Khuyến nghị sử dụng Quyên tý thang kết hợp cấy chỉ như một phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh nhân thoái hoá cột sống cổ. Kết hợp với vật lý trị liệu, thay đổi tư thế làm việc và tập luyện phục hồi chức năng. Tránh tư thế sai, nâng vật nặng, và duy trì hoạt động nhẹ nhàng. Tuân thủ điều trị định kỳ, theo dõi tiến triển và điều chỉnh liệu trình khi cần thiết để đạt kết quả tốt nhất.

18/12/2025
Đánh giá hiệu quả điều trị thoái hoá cột sống cổ bằng bài thuốc quyên tý thang kết hợp cấy chỉ hoặc điện châm

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI 1. Khái niệm Thoái hóa cột sống cổ hay thoái hóa khớp nói chung, được định nghĩa là tổn thương toàn bộ khớp, bao gồm tổn thương sụn là chủ yếu, kèm theo tổn thương dưới sụn, dây chằng, các cơ cạnh khớp và màng hoạt dịch. Bệnh thường bị gây ra do sự thoái hóa của các tế bào giữa các đốt sống cổ, và sự thoái hóa này ảnh hưởng đến cấu trúc mô xung quanh bao gồm rễ dây thần kinh, tủy sống, động mạch đốt sống…[68].

Đó là một bệnh được đặc trưng bởi các rối loạn về cấu trúc và chức năng của một hoặc nhiều khớp. Tổn thương diễn biến chậm tại sụn kèm theo biến đổi hình thái, biểu hiện bởi hiện tượng hẹp khe khớp, tân tạo xương và xơ xương dưới sụn [1],[3]. Giải phẫu cột sống cổ và cơ chế bệnh sinh thoái hóa cột sống cổ 1. Cấu tạo giải phẫu Cột sống cổ là một phần quan trọng của cột sống là trụ cột chính để giữ và vận động đầu, có biên độ hoạt động rất lớn nên rất dễ bị tổn thương khi vận động, chấn động hoặc ngồi nằm sai tư thế trong thời gian dài.

Cột sống cổ thường được chia thành hai vùng: Cột sống cổ trên (C1 - C2) và cột sống cổ dưới (C3 – C7), tổn thương ở từng vùng sẽ có biểu hiện lâm sàng khác nhau [41]. • Cấu trúc xương Cột sống cổ gồm 7 đốt xương và 5 đĩa đệm, nằm giữa các đốt xương hợp thành (không có đĩa đệm giữa chẩm - C1, giữa C1- C2). Ngoài khớp gian đốt sống, các đốt sống còn liên hệ với nhau bằng khớp mỏm móc đốt sống (cột sống lưng và thắt lưng không có)[6]. Nằm trong ống sống là tủy sống cổ.

Từ 3 tủy sống cổ có các rễ thần kinh chui qua lỗ gian đốt sống ra ngoài để chi phối hoạt động cho tủy. Có hai động mạch đốt sống chui qua các lỗ ở mỏm ngang các đốt sống cổ, đi lên não, cung cấp máu cho phần sau của bán cầu đại não, tiểu não và thân não [5],[20]. Các đốt sống cổ [20] • Cấu trúc mô mềm * Đĩa đệm cột sống cổ - Đĩa đệm là bộ phận chính cùng các dây chằng đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa các thân đốt sống và đóng vai trò hấp thu chấn động. Ở phía trước đĩa đệm dầy hơn phía sau nên cột sống cổ có chiều cong sinh lý ưỡn ra trước.

- Dưới 20 tuổi đĩa đệm được nuôi dưỡng trực tiếp từ các mạch máu, sau đó mạch máu trở nên bị đặc do sự calci hóa. Từ 30 tuổi trở lên đĩa đệm được nuôi dưỡng chủ yếu bằng sự thẩm thấu của các ion hòa tan trong chất nuôi dưỡng đĩa đệm [41]. 4 * Các dây chằng - Cùng với đĩa đệm, các dây chằng đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa thân đốt sống và đóng vai trò hấp thu chấn động. Vai trò của các dây chằng đoạn cổ trên có tác dụng hạn chế sự chuyển động để bảo vệ các thành phần trong ống tủy.

- Bao gồm các loại: dây chằng dọc trước, dây chằng dọc sau, dây chằng vàng, dây chằng liên gai và dây chằng trên gai [40]. * Các cơ ở cổ Bao gồm hai vùng chính: các cơ ở vùng cổ trước bên và các cơ ở vùng cổ sau. Có tác dụng nâng đỡ, bảo vệ cột sống cổ và vùng đầu [6]. • Cấu trúc thần kinh mạch máu - Tủy sống cổ có 8 khoanh tủy, tách ra 8 đôi rễ trước chi phối vận động, 8 đôi rễ sau chi phối cảm giác.

- Dây thần kinh cổ khi ra khỏi gian đốt sống được chia thành 2 nhánh, một số nhánh tạo thành đám rối thần kinh cánh tay chi phối vận động và cảm giác chi trên. - Động mạch đốt sống sau khi tách ra từ động mạch dưới đòn chạy qua lỗ ngang của các đốt sống, chạy sát mỏm móc, khi mỏm móc bị thoái hóa thì các gai xương của nó thường đè vào động mạch đốt sống [41]. Giải phẫu chức năng cột sống cổ Cột sống cổ có 3 chức năng [41]: - Chức năng vận động: cột sống cổ có tầm vận động linh hoạt hơn cột sống thắt lưng là do: Khớp đốt sống cổ có góc nghiêng phù hợp, do khả năng đàn hồi của đĩa đệm, đốt sống C1 có thể quay quanh C2. Vì vậy, nó đảm bảo cho đầu chuyển động nhanh và dễ dàng.

- Chức năng chịu tải trọng và bảo vệ tủy: ở cột sống cổ có các thân đốt sống nhỏ, đĩa đệm không chiếm toàn bộ thân đốt, do đó tải trọng tác động lên đĩa đệm cột sống cổ lớn hơn các phần khác của cột sống dẫn tới giảm chiều cao thân 5 đốt. Các khoang gian đốt C5 – C6, C2 – C3 là những nơi chịu tải trọng nhất ở cột sống cổ, do đó hay gặp thoái hóa ở những đoạn đốt sống cổ này. Cơ chế bệnh sinh thoái hóa cột sống cổ - Cho đến nay, về cơ chế bệnh sinh THCSC phần lớn các tác giả đều cho rằng THCSC là kết quả của sự thoái hóa tổng hợp của 2 quá trình: Thoái hóa sinh học theo tuổi và thoái hóa bệnh lý mắc phải (do yếu tố vi chấn thương đặc biệt là chấn thương mạn tính như do tư thế lao động nghề nghiệp, do cơ chế nhiễm khuẩn dị ứng, do rối loạn chuyển hoá, dị dạng cột sống cổ, bệnh lý tự miễn…)[1],[14],[30], [8], [26]. - Quá trình thoái hóa này có thể khởi phát từ bất kỳ khớp nào trong các khớp của đơn vị chức năng cột sống.

Thoái hóa thường bắt đầu từ biến đổi thân đốt đến biến dạng thân đốt. Khoang gian đốt còn giữ được chiều cao của nó khá lâu sau đó mới dần dần đóng vôi dây chằng đĩa đệm [41]. - Theo thời gian các tế bào sụn sẽ già đi, khả năng tổng hợp các chất để tạo nên Mucopolysaccarid và sợi Collagen bị giảm sút và rối loạn. Sụn sẽ mất dần tính đàn hồi và chịu lực giảm.

Mặt khác tế bào sụn của người trưởng thành lại không có khả năng sinh sản và tái tạo, tư thế đứng thẳng sẽ làm cho quá trình thoái hóa tăng dần theo tuổi và diễn ra trong suốt cuộc đời [7], [27], [29]. - Khớp mỏm móc đốt sống thoái hóa do tổn thương nguyên phát vi thể gây tổn thương tế bào sụn của mặt khớp, bao hoạt dịch và xương, dẫn đến mất tính đàn hồi của khớp. Người cao tuổi phần lớn đều bị thoái hóa đĩa đệm và cột sống vì đĩa đệm rất nghèo mạch máu nuôi dưỡng và không có khả năng tái tạo [1],[41],[30]. Cơ chế gây đau trong Thoái hóa cột sống cổ - Luschka (1950) đã phát hiện một nhánh của rễ thần kinh cổ xuất phát từ hạch cạnh sống (được gọi là nhánh màng tuỷ- r.

Nhánh này được bổ sung những sợi giao cảm thuộc chuỗi hạch giao cảm cạnh cột sống cổ quay trở lại chui qua lỗ gian đốt sống vào trong ống sống. Các dây thần 6 kinh này chi phối cho bao khớp gian đốt sống, cốt mạc đốt sống, dây chằng dọc sau, các màng của tủy sống và mạch máu. Khi dây này bị kích thích sẽ gây ra triệu chứng đau [41]. - Mặt trên thân đốt từ C3 đến C7 có thêm hai mõm móc hay mấu bán nguyệt ôm lấy gốc dưới thân đốt sống phía trên, hình thành khớp mỏm móc – đốt sống.

Khớp mỏm móc đốt sống cũng được phủ bằng sụn và cũng có một bao khớp chứa dịch. Nhiệm vụ của khớp là giữ cho đĩa đệm không bị lệch sang hai bên. Khi khớp này bị thoái hóa, gai xương của mỏm móc nhô vào lỗ gian đốt sống và chèn ép vào rễ thần kinh ở đó gây đau [41]. - Đĩa đệm được các nhánh màng tủy phân bố cảm giác.

Khi đĩa đệm bị thoái hóa hay thoát vị chiều cao khoang gian đốt sẽ giảm gây chùng lỏng các khớp, dẫn tới sai lệch vị trí khớp, chèn ép vào các thành phần cảm nhận đau như rễ thần kinh, tủy, dây chằng dọc sau dây này bị kích thích gây đau [1],[40] - Phì đại dây chằng vàng là nguyên nhân chính gây hẹp ống sống cổ từ phía sau, gây chèn ép vào tủy hay màng cứng, gây đau. - Ở các tổ chức dây chằng, gân, màng xương và tổ chức cạnh khớp có rất nhiều điểm nhận cảm thực vật, khi tổ chức này bị kích thích bệnh nhân sẽ đau âm ỉ, rất khó chịu, đau ở đây không liên quan đến khu vực cảm giác của rễ thần kinh cổ [41]. - Đám rối thần kinh cánh tay và động mạch dưới đòn bình thường phải chui qua khe cơ bậc thang, khi khe này bị hẹp sẽ chèn ép vào đám rối thần kinh cánh tay, dây trụ và dây giữa rất dễ bị tổn thương, bệnh nhân sẽ đau như kim châm dọc mặt trong cánh tay lan đến ngón 4,5. Đau có thể lan lên vùng chẩm, tới ngực.

- Các hạch giao cảm cổ còn chia nhánh vào các rễ, cho các nhánh tim, đám rối giao cảm quanh động mạch và các cơ quan nội tạng khác, khi các nhánh này bị chèn ép hoặc kích thích sẽ gây đau [1],[40] 7 1. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng 1. Triệu chứng lâm sàng Biểu hiện lâm sàng của Thoái hóa cột sống cổ rất đa dạng, phụ thuộc vào vị trí, mức độ và biến chứng của THCSC (chèn ép thần kinh, mạch máu. Gồm 5 hội chứng [1],[14],[48]: • Hội chứng cột sống cổ: Triệu chứng thường gặp nhất là đau vùng cột sống cổ, thường xuất hiện sau khi cúi lâu, nằm gối cao, làm việc căng thẳng kéo dài, sau khi ngủ dậy hay đột ngột sau khi vận động cột sống cổ.

Bệnh nhân có điểm đau tại cột sống cổ hoặc hai bên cột sống cổ; co cứng cơ cạnh sống cổ và có tư thế chống đau: nghiêng đầu về bên đau và vai bên đau nâng cao hơn bên lành. Bệnh nhân cảm giác cứng gáy hạn chế vận động cột sống cổ [48],[41]. • Hội chứng rễ thần kinh: Chủ yếu là tổn thương rễ C5 và C6. Khi có hội chứng rể bệnh nhân thường có các rối loạn kiểu rể như đau vùng gáy âm ỉ lan dọc theo đường đi của rể thần kinh, đau tăng từng cơn, khi ho, hắt hơi và khi vận động.

Bệnh nhân có thể có các dị cảm vùng da do rể thần kinh bị chèn ép chi phối có thể lan lên vùng chẩm, xuống vai, cánh tay, cẳng tay, ngón tay,… Nặng hơn có thể giảm vận động một số cơ chi trên tùy thuộc vào rể thần kinh bị chèn ép, triệu chứng teo cơ chi trên ít gặp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ