mở đầu bài giảng thƣờng hay “duy danh định nghĩa”, trong khi ở phƣơng Đông, chẳng hạn nhƣ Lão Tử trong Đạo đức kinh đầu tiên đã lƣu ý rằng Đạo là không thể định nghĩa đƣợc. Bởi vì đã định nghĩa đƣợc nó thì nó không còn là nó nữa (Đạo khả đạo phi thƣờng Đạo). Giáo dục phƣơng Tây trở thành môn khoa học độc lập bắt đầu từ thế kỷ XVII. Ngƣời đặt cột mốc cho giáo dục trở thành môn học độc lập là John Amos Comenius (1592-1670) ngƣời Tiệp Khắc với tác phẩm Great Didactic (Đại giáo học luận) năm 1632.2 Quá trình hình thành triết học giáo dục : Johann Karl Friedrich Kranz (1805-1879), tác phẩm Die Padagogik system 1848, đƣợc nữ giáo dục gia ngƣời Mỹ Brackett A.C dịch ra tiếng Anh năm 1886 và đổi tên sách là “Triết học giáo dục” (Philosophy of education).
Khái niệm “triết học giáo dục” bắt đầu từ đó. Sách của Rosenkranz dựa vào quan điểm triết học của Hegel. Sách chia làm bốn phần: Phần Lời tựa nói về “tính chất và nhiệm vụ của giáo dục và khoa học”. Phần 1: Khái niệm chung về giáo dục.
Phần 2: Yếu tố đặc thù của giáo dục. Phần 3: Hệ thống tƣ tƣởng giáo dục cụ thể. Triết học giáo dục phƣơng Tây tuy nhiều nhƣng có thể chia thành hai trƣờng phái chủ yếu, đó là trào lƣu truyền thống và phản truyền thống. Có thể sơ bộ hệ thống các trƣờng phái triết học giáo dục nhƣ sau: Chủ nghĩa lý tính (Rationalism) Nhà tƣ tƣởng chủ yếu: ba triết gia Hy Lạp Socrates, Platon, Aristote và Descartes.
Chủ nghĩa kinh nghiệm (Experism) 11 Nhà tƣ tƣởng chủ yếu: Bacon, Locke, Hume. Chủ nghĩa tự nhiên (Naturalism) Nhà tƣ tƣởng tiêu biểu: Rousseau Chủ nghĩa văn hóa (Culturalism) Nhà tƣ tƣởng chủ yếu: Spranger Chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism) Nhà tƣ tƣởng chủ yếu: Kierkegaard, Heiderger, Sartre. Chủ nghĩa thực nghiệm (Experimentalism) Nhà tƣ tƣởng tiêu biểu: Dewey. Chủ nghĩa cấu trúc (Structuralism) Nhà tƣ tƣởng tiêu biểu: Piaget, Kohlniberg.
Chủ nghĩa hậu hiện đại (Postmodernism) Nhà tƣ tƣởng chủ yếu: Foucault, Lyotard, Giroux. Chủ nghĩa Mác mới (Neo- Marxism) Nhà tƣ tƣơng tiêu biểu: Apple, Rigoux, Chủ nghĩa vĩnh hằng(Perennialism) Nhà tƣ tƣởng tiêu biểu: Hutchin, Adler. Chủ nghĩa tinh túy (Essentialism) Nhà tƣ tƣởng tiêu biểu: Paul Bloom. Logic thực chứng (Logical Positivism) Nhà tƣ tƣởng tiêu biểu: Wettgenstein.
Ký hiệu học (Semiotics) Nhà tƣ tƣởng tiêu biểu: Gottleb Frege, Bertrand Russell. Hiện tƣợng học (Phenomenology) Nhà tƣ tƣởng tiêu biểu: Huxley. 12 Qua đó có thể thấy triết học và triết học giáo dục phƣơng Tây mọc ra nhƣ nấm sau cơn mƣa nhất là ở thời kỳ hiện đại. Trƣớc đây các nhà nghiên cứu triết học Macxit thƣờng cho đó là trào lƣu triết học duy tâm phản động của giai cấp tƣ sản.
Nhƣng giờ đây ngƣời ta đã có nhận định khác về những trào lƣu triết học này, giá trị của nó đã đƣợc đánh giá lại, không ai có thể phủ nhận nó cũng là những cột mốc son trong quá trình phát triển của lịch sử triết học nhân loại.2 PHÂN T CH B TRÀO LƢU TRIẾT HỌC VÀ TRIẾT HỌC GIÁO DỤC PHƢƠNG TÂY THẾ KỶ XX : Trong những trào lƣu triết học và triết học giáo dục đó, có ba trào lƣu triết học giáo dục ảnh hƣởng nhiều hơn cả ở phƣơng Tây đồng thời cũng là đại diện hay tiêu biểu của ba nền văn hóa Mỹ, Pháp, Đức nổi tiếng trên thế giới ở thế kỷ thứ XX. Do đó tác giả luận văn không thể trình bày toàn bộ các trào lƣu triết học giáo dục nói trên mà chỉ xin phép đề cập đến ba trào lƣu triết học giáo dục có ảnh hƣởng nhiều nhất đến giáo dục Việt Nam, đó là chủ nghĩa Thực dụng, chủ nghĩa Hiện sinh và Hiện tƣợng học.1 Chủ nghĩa thực dụng và quan điểm của chủ nghĩa thực dụng về triết học giáo dục : Chủ nghĩa thực dụng có nguồn gốc từ chủ nghĩa hoài nghi (Kepticism) từ thời Hy Lạp cổ đại. Nhƣng gần nhất là chịu ảnh hƣởng trực tiếp của George Berkeley, David Hume, Auguste Comte, Henri Bergson và Arthur Schaupenhauer. Chủ nghĩa thực dụng là trào lƣu triết học chủ đạo ở Mỹ và cũng là một trong những trào lƣu triết học phổ biến nhất của phƣơng Tây ở thế kỷ XX.
Chủ nghĩa thực dụng hình thành vào năm 1870. Charles Sanders Peirce (1839-1914) ngƣời Mỹ đầu tiên đề cập đến khái niệm “chủ nghĩa thực dụng” (Pragmatism), xuất xứ từ tiếng Hy Lạp “Pragma” có nghĩa là “hành động”. Sau đó, William James (1842-1910), với tác phẩm “Chủ nghĩa thực dụng” (Pragmatism) đã khai sinh ra triết học thực dụng. Nhƣng phải đợi đến John Dewey mới phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
Chủ nghĩa thực 13 dụng đều do ba ngƣời Mỹ đặt nền móng và phát triển, cho nên ngƣời ta cho rằng chủ nghĩa thực dụng là sản phẩm thuần túy của Mỹ.1 Sự nghiệp và cuộc đời John Dewey (1859-1952) : John Dewey sinh ra ở Burmington, bang Vermont, thuộc New England. Năm 1879 tốt nghiệp đại học Vermont. Dewey bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu của mình rất sớm. Vào năm 1882 chàng thanh niên Dewey mới ngoài 20 tuổi đã có bài viết đầu tay đăng ở tạp chí Triết học tư biện (Speculative Philosophy).
Lúc bấy giờ ở Mỹ chỉ mới có tờ tạp chí triết học duy nhất là tờ tạp chí duy nhất nói trên. Dewey đăng bài viết có tựa đề “Giả thiết về siêu hình duy vật” (The metaphysical Assupations materialism). Trong suốt 50 năm trời vừa giảng dạy vừa nghiên cứu, Dewey đã viết rất nhiều tác phẩm về nhiều thể loại nhƣ triết học, tâm lý học, logic đặc biệt là về triết học giáo dục. John Dewey là nhà triết học chủ yếu của chủ nghĩa thực dụng đồng thời cũng là nhà triết học giáo dục nổi tiếng của Mỹ.
(Ông đã viết 36 cuốn sách, hơn 300 bài nghiên cứu về các lĩnh vực nhƣ triết học, triết học giáo dục, văn hóa, xã hội.): Tác phẩm chủ yếu của Dewey: - Tâm lý học (Psychology)1887. - Trường học và xã hội (School and Society) 1899. - Ảnh hưởng của Darwin lên triết học và những tiểu luận khác về tư tưởng đương đại (The influence of Darwin on Philosophy and Other Essays in Contemporary Thought) 1910. - Dân chủ và giáo dục (Democracy and education) 1916.
- Kinh nghiệm và tự nhiên (Experience and Nature) 1925.9… Là nhà cải cách giáo dục lớn của Mỹ ở thế kỷ 19-20, Dewey phê phán quan niệm giáo dục truyền thống lạc hậu của Mỹ chịu ảnh hƣởng nặng tƣ tƣởng giáo dục của Johann Friedrich Herbart ngƣời Đức lúc bấy giờ. 9 100 Triết gia tiêu biểu thế kỷ XX, Stuart Brown, Diane Collinson, Robert Wilkinson, NXB Lao Động, tr. 14 Ba “trung tâm” mà quan niệm giáo dục truyền thống vẫn thực hiện đều bị Dewey phủ định, đó là “giảng đƣờng là trung tâm”, “sách giáo khoa là trung tâm”, “ thầy giáo là trung tâm”. Dewey đề xuất ba trung tâm mới: “hoạt động là trung tâm”, “kinh nghiệm là trung tâm” và “học viên là trung tâm”.
Đúng nhƣ Dewey nhận xét, sự đổi mới về “ba trung tâm” trong lĩnh vực giáo dục cũng giống nhƣ cuộc cách mạng của Copernic thay thế quả đất là trung tâm bằng mặt trời là trung tâm trong lĩnh vực thiên văn học. Tác phẩm Dân chủ và giáo dục của Dewey đƣợc xem là tác phẩm triết học giáo dục của thời đại. Cùng với tác phẩm Cộng hòa (République) của Platon và Emile của Rousseau là 3 tác phẩm đƣợc xem là tác phẩm kinh điển về giáo dục của nhân loại. Bản thân nhà triết học-triết học giáo dục John Dewey trở thành nhà triết học giáo dục hàng đầu của thế giới mà suốt cả thế kỷ XX chƣa ai vƣợt qua đƣợc ông.2 Quan điểm triết học của J.
Dewey : Theo Dewey “Triết học là một nỗ lực hiểu toàn bộ - nghĩa là, tập hợp các đặc điểm khác nhau thành một số lƣợng nhỏ các nguyên tắc cuối cùng, nhƣ trong trƣờng hợp của các hệ thống nhị nguyên. Trên phƣơng diện thái độ của triết gia và những ai đồng tình với các kết luận của triết gia, có sự cố gắng đạt đƣợc một cái nhìn thống nhất, nhất quán và trọn v n về kinh nghiệm. Khía cạnh này đƣợc diễn đạt trong từ triết học – yêu mến cái biết. Hễ khi nào triết học đƣợc nhìn nhận nghiêm túc thì bao giờ ngƣời ta cũng thừa nhận triết học nghĩa là việc đạt tới một cái biết gây ảnh hƣởng tới cách sống.
”10 a) Quan điểm vận động và phát triển: Quan điểm vận động và phát triển của John Dewey ra đời vào lúc Charles Robert Darwin (1808-1882) công bố công trình nghiên cứu Nguồn gốc của các loài (The Origine of Species) làm đảo lộn tất cả các quan niệm siêu hình truyền thống. Dewey chịu ảnh hƣởng nhiều về quan niệm vận động và phát triển của Darwin. Từ đó 10 John Dewey, Dân chủ và giáo dục, Nxb Tri thức, tr.382 15 Dewey cho rằng mọi khái niệm do con ngƣời tạo ra cũng phải vận động và phát triển, không có khái niệm hay quan niệm nào có thể gọi là tuyệt đối hay vĩnh cữu. Ông kịch liệt phê phán ý niệm tuyệt đối của Hégel, cho đó là quan niệm siêu hình không thể chấp nhận đƣợc.
Ngay cả cái gọi là “kinh nghiệm” do mỗi cá nhân tiếp xúc với cuộc sống có đƣợc cũng thƣờng xuyên thay đổi, không phải là cái bất biến. b) Quan điểm về đa nguyên chân lý: J. Dewey cho rằng thế giới này không phải là một thể thống nhất, nó giống nhƣ một sợi dây thừng to đƣợc bện lại bằng nhiều sợi dây thừng nhỏ. Không có chân lý nào chung cho dây thừng to cả mà chỉ có chân lý của sợi dây thừng nhỏ mà thôi.
Dewey cho rằng tri thức có nguồn gốc từ kinh nghiệm, kinh nghiệm là quá trình thể nghiệm của chủ thể hành động đối với cuộc sống bên ngoài. Tri thức trở thành chân lý phải thông qua kiểm nghiệm, ích dụng là thƣớc đo của chân lý. Chân lý chỉ có ý nghĩa khi nó đem lại ích lợi nhất định đối với ngƣời hành động. Dewey chủ động đƣa thuyết giá trị vào nhận thức luận.
Do đó Dewey cho rằng không làm gì có chân lý phổ biến và khách quan. Nhƣ vậy là Dewey đã thiên về cái đơn nhất, cái đặc thù, cái chủ quan, xem nh cái phổ biến, cái khách quan.3 Quan điểm triết học giáo dục của Dewey: a) Quan niệm về dân chủ trong giáo dục : Burmington là quê hƣơng của Dewey, đó là xứ sở nổi tiếng vì có truyền thống dân chủ. Hơn nữa nƣớc Mỹ vốn không bị níu kéo bởi chế độ đẳng cấp phong kiến nhƣ nhiều nƣớc khác, do đó khẩu hiệu dân chủ đƣợc hô vang cũng nhƣ đƣợc hƣởng ứng mạnh mẽ cũng là điều dễ hiểu.