Khóa luận: Tranh thủy mặc Việt Nam - Tiềm lực văn hóa dân tộc (Lý Tố Nga)

Dưới đây là các meta tags cho bài viết "Tranh thủy mặc việt nam tiềm lực văn hóa dân tộc khóa luận tốt nghiệp đại học": { "ai_description": "Tìm hiểu tiềm

Trường đại học

Đại học Mở - Bán công Thành phố Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Đông Nam Á học

Tác giả

Ẩn danh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

1998

59
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tranh thủy mặc Việt Nam

Tranh thủy mặc Việt Nam là di sản văn hóa tinh thần quý báu, kế thừa tinh hoa nghệ thuật Trung Hoa nhưng được Việt hóa sâu sắc. Loại hình tranh này sử dụng chất liệu mực tàu, giấy xuyến hay lụa, với kỹ thuật vẽ tinh tế thể hiện vẻ đẹp thiên nhiên, cuộc sống và tâm hồn dân tộc. Ra đời từ thế kỷ 20, tranh thủy mặc Việt Nam nhanh chóng khẳng định vị trí trong nền mỹ thuật nước nhà nhờ sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và sáng tạo đương đại. Đặc biệt, loại hình nghệ thuật này không chỉ phản ánh thế giới quan phương Đông mà còn thể hiện triết lý sống, tình yêu thiên nhiên và con người của người Việt. Ngày nay, tranh thủy mặc được coi là biểu tượng của văn hóa dân tộc, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước ra thế giới.

1.1. Nguồn gốc và lịch sử hình thành

Tranh thủy mặc Việt Nam bắt nguồn từ nghệ thuật hội họa Trung Hoa, vốn có lịch sử gần 2000 năm với các bậc thầy như Cố Khải Chi (345-406) hay Bạch Thạch (1861-1957). Loại hình này du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 17-18, trải qua giai đoạn giao thoa văn hóa, dần dần được Việt hóa về đề tài, kỹ thuật và tư duy sáng tác. Điểm khác biệt quan trọng là tranh thủy mặc Việt Nam đề cao sự tinh tế, nhẹ nhàng và gắn bó với cuộc sống đời thường, phản ánh tâm hồn thanh cao của người Việt. Các tác phẩm thời kỳ đầu thường miêu tả phong cảnh quê hương, hoa lá, chim muông, sau đó mở rộng sang chân dung, sinh hoạt dân gian.

1.2. Đặc trưng nghệ thuật độc đáo

Tranh thủy mặc Việt Nam sở hữu những đặc trưng riêng biệt như sự kết hợp hài hòa giữa nét bút bay bướm và mảng khối tinh tế, tạo nên hiệu ứng thị giác sống động. Chất liệu mực tàu và giấy xuyến góp phần tạo nên vẻ đẹp huyền ảo, thanh thoát cho tác phẩm. Kỹ thuật chấm phá, đổ mực và sử dụng không gian trống (không gian âm) thể hiện triết lý thiền định phương Đông. Đề tài chủ đạo xoay quanh thiên nhiên bốn mùa, cảnh sắc quê hương, tượng trưng cho sự giao hòa giữa con người và vũ trụ. Những bức tranh thường mang thông điệp về sự tĩnh lặng, thanh tịnh và vẻ đẹp vô thường của cuộc sống.

II. Phân tích thực trạng tranh thủy mặc Việt Nam

Tranh thủy mặc Việt Nam đang đối mặt với những thách thức trong bối cảnh hội nhập toàn cầu. Mặc dù có giá trị nghệ thuật cao, loại hình tranh này chưa thực sự phổ biến rộng rãi trong cộng đồng. Nhiều người vẫn quan niệm tranh thủy mặc là sản phẩm xa xỉ, chỉ dành cho giới thượng lưu. Sự cạnh tranh từ các loại hình nghệ thuật đương đại như sơn dầu, acrylic hay tranh kỹ thuật số cũng khiến tranh thủy mặc mất dần sức hấp dẫn. Ngoài ra, việc thiếu vắng những chính sách hỗ trợ phát triển từ các cấp chính quyền cũng là một rào cản. Tuy nhiên, tranh thủy mặc vẫn thu hút sự quan tâm của giới sưu tập quốc tế, đặc biệt là từ cộng đồng người Việt hải ngoại. Nhu cầu sở hữu tranh thủy mặc ngày càng tăng, nhưng nguồn cung vẫn chưa đáp ứng đủ, dẫn đến tình trạng tranh giả, tranh kém chất lượng tràn lan trên thị trường.

2.1. Tiềm năng phát triển còn bỏ ngỏ

Tranh thủy mặc Việt Nam có tiềm năng to lớn nhờ sự đa dạng về đề tài và kỹ thuật. Các họa sĩ trẻ đang thử nghiệm nhiều phong cách mới, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, tạo nên những tác phẩm độc đáo. Thị trường tranh thủy mặc cũng đang dần mở rộng, thu hút sự quan tâm của giới trẻ và du khách quốc tế. Đặc biệt, nhu cầu thưởng thức nghệ thuật trong đời sống tinh thần ngày càng tăng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho tranh thủy mặc phát triển. Tuy nhiên, tiềm năng này vẫn chưa được khai thác triệt để do thiếu sự đầu tư vào đào tạo, quảng bá và kết nối thị trường.

2.2. Những hạn chế trong sáng tạo và tiếp cận

Một trong những hạn chế lớn nhất là sự thiếu hụt những tác phẩm tranh thủy mặc mang tính đột phá, phản ánh đúng hồn cốt dân tộc trong thời đại mới. Nhiều họa sĩ vẫn giữ nguyên lối vẽ cũ, thiếu sự đổi mới trong đề tài và kỹ thuật. Bên cạnh đó, công tác giới thiệu, quảng bá tranh thủy mặc còn hạn chế, khiến công chúng ít có cơ hội tiếp cận loại hình nghệ thuật này. Sự thiếu liên kết giữa các họa sĩ, nhà sưu tập và các tổ chức văn hóa cũng là một trở ngại. Ngoài ra, vấn đề bản quyền và sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực tranh thủy mặc vẫn chưa được quan tâm đúng mức, gây khó khăn cho việc bảo vệ tác phẩm.

III. Giải pháp phát triển tranh thủy mặc Việt Nam

Để phát huy tiềm lực văn hóa của tranh thủy mặc Việt Nam, cần có sự chung tay của các cấp chính quyền, cộng đồng nghệ thuật và xã hội. Trước hết, cần xây dựng những chính sách hỗ trợ đào tạo, khuyến khích sáng tạo và bảo vệ quyền tác giả. Việc tổ chức các triển lãm quy mô, hội thảo chuyên đề sẽ giúp nâng cao nhận thức về giá trị nghệ thuật của tranh thủy mặc. Bên cạnh đó, các họa sĩ nên chủ động đổi mới đề tài, kỹ thuật và phong cách thể hiện để thu hút sự quan tâm của công chúng. Sự hợp tác giữa các họa sĩ, nhà sưu tập và doanh nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thị trường. Cuối cùng, cần tăng cường quảng bá tranh thủy mặc thông qua các kênh truyền thông, mạng xã hội và hợp tác quốc tế.

3.1. Nâng cao chất lượng đào tạo và sáng tác

Các trường nghệ thuật cần cập nhật chương trình đào tạo, bổ sung những kiến thức về tranh thủy mặc đương đại và kỹ thuật mới. Tổ chức các lớp học chuyên đề, workshop do các họa sĩ tài năng hướng dẫn sẽ giúp thế hệ trẻ nắm vững kỹ thuật truyền thống và sáng tạo theo phong cách riêng. Bên cạnh đó, cần khuyến khích họa sĩ tham gia các cuộc thi, triển lãm trong nước và quốc tế để giao lưu, học hỏi. Việc thành lập những câu lạc bộ tranh thủy mặc tại các địa phương cũng sẽ tạo sân chơi lành mạnh, thu hút sự tham gia của đông đảo công chúng.

3.2. Xây dựng chiến lược quảng bá và thị trường

Cần xây dựng một chiến lược quảng bá dài hạn, tập trung vào việc giới thiệu tranh thủy mặc đến công chúng rộng rãi thông qua các triển lãm, hội chợ nghệ thuật và sự kiện văn hóa. Sự hợp tác giữa các họa sĩ, nhà sưu tập và doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối cung cầu. Ngoài ra, cần tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quảng bá, như xây dựng website giới thiệu tác phẩm, bán tranh trực tuyến và tổ chức các buổi giao lưu trực tuyến. Việc tham gia các hội chợ nghệ thuật quốc tế cũng sẽ giúp tranh thủy mặc Việt Nam vươn tầm ra thế giới.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn

Tranh thủy mặc Việt Nam là một di sản văn hóa quý giá, mang trong mình sức mạnh tinh thần to lớn của dân tộc. Để phát triển bền vững, tranh thủy mặc cần được nhìn nhận không chỉ là sản phẩm nghệ thuật mà còn là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa truyền thống và hiện đại. Các giải pháp đề xuất như nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới sáng tác, xây dựng thị trường và quảng bá rộng rãi sẽ góp phần khẳng định vị thế của tranh thủy mặc trong nền mỹ thuật Việt Nam. Đặc biệt, sự quan tâm và đầu tư từ cộng đồng, doanh nghiệp và chính quyền sẽ là động lực quan trọng giúp tranh thủy mặc phát triển mạnh mẽ, trở thành biểu tượng văn hóa độc đáo của dân tộc.

4.1. Tầm quan trọng trong giáo dục thẩm mỹ

Tranh thủy mặc có thể đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục thẩm mỹ và bồi dưỡng tâm hồn cho thế hệ trẻ. Thông qua những tác phẩm tranh thủy mặc, học sinh, sinh viên có cơ hội tiếp cận với nghệ thuật truyền thống, hiểu biết về lịch sử, văn hóa dân tộc. Các trường học có thể tổ chức các buổi workshop, triển lãm tranh thủy mặc nhằm khơi dậy niềm đam mê nghệ thuật và tinh thần sáng tạo. Việc tích hợp tranh thủy mặc vào chương trình giáo dục nghệ thuật sẽ góp phần hình thành những con người có tâm hồn phong phú, nhạy cảm với cái đẹp.

4.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, tranh thủy mặc Việt Nam cần hướng tới sự đa dạng hóa đề tài, kỹ thuật và phong cách thể hiện. Các họa sĩ nên chủ động tìm tòi, sáng tạo những tác phẩm mang đậm dấu ấn đương đại nhưng vẫn giữ được tinh thần truyền thống. Sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, triển lãm sẽ giúp tranh thủy mặc Việt Nam vươn tầm ra thế giới. Bên cạnh đó, cần xây dựng những chính sách hỗ trợ từ phía nhà nước, như cấp học bổng cho họa sĩ trẻ, tổ chức các cuộc thi uy tín. Việc bảo vệ bản quyền và chống hàng giả cũng cần được quan tâm đúng mức để bảo vệ quyền lợi của nghệ sĩ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Tranh thủy mặc việt nam tiềm lực văn hóa dân tộc khóa luận tốt nghiệp đại học

Trích đoạn nội dung tài liệu

256T BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - “ĐẠI HỌC MO — BAN CONG THANH PHO HO CHI MINH ‘KHOA PONG un AHOC ý LÝ TỐ NGA - TRANH THỦY MAC VEEIỆT NAM — TIỂM LỰC VĂN HOA DANNIỘC. VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH ĐÔNG NAM Á HỌC (LUẬN KHÓA HỌC 1994 —1998) TRUONG DAI HOC KO TP,HCH THU VIEN) HUGNG DAN KHOA HOC GS: NGUYEN TAN DAC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 1998 - CL’ 0. v Seer tbe On: Xin chin thinh cim on “ he Yung tiêm Khoa Deng Mian ud đạc; huiing Dai hoe Alé bin céng bhinh phe HE Chi Minh dé lin lenh hua din va cong cif uhiéu kién thie qué bia ~ mit hanh hang rat clin (0/07 cho lb hén butte duing uae dit hong sual đấu 2u) Yule. Xin chan thanh cim on Gito sa ANguyén Quia Loe — Suing Khoa Ding Nam lh hoe, thiy Dinh Hen Phiie dé luo diều điệu (uuậu lei dé (66.

date aughion cu dé lad nityp Nin chin thinh cém on Gito se MAguyén Tin Dee, cing mel sé “hea 3t age How lai Che Lin dé tin linh “đu din, yop. dé lit hong sual qué hiinh aughttén ctu cho dén khé hoan thiinh baé ludn vain nies. Nin chin thinh cim on gle dinh va bun ba dé hél ling tinghheG ua ding utén lét hong Chit giun gua. Ludu oda tét nghiép.

LÝ DO CHON ĐỀ TÀI chiếm 1,2% dân số cả Hiện nay ở Việt Nam có gần một triệu người Hoa, người, sống tập trung ở các quận : nước. Riêng thành phố H6 Chi Minh có 550. đã tạo nên động lực Sự hiện diện của người Hoa ở Việt Nam chẳng những góp phần làm cho nên văn hóa thúc đẩy nên kinh tế hàng hóa phát triển, mà còn đân tộc thêm phong phú, da dang. tộc mà người Hoa còn bảo Một trong những nét văn hóa truyền thống dân hóa nghệ thuật có giá trị mỹ thuật Iưu đến ngày nay là hội họa - một loại hình văn to lớn của nền văn minh Trung Hoa.

năm nay, nếu tính từ Hội họa Trung Hoa có lịch sử lâu đời, và gân 2000 Bạch Thạch (Thanh 1861-1957) họa sĩ Cố Khải Chi (Dong Tấn 345-406) đến Tế mắng độc đáo, lớn lao, đầy ảnh đã cống hiến cho kho tàng nghệ thuật thế giới một con giá cái đẹp của thiên nhiên và hưởng trong cách thụ cầm, quan niệm đánh thần người, Hôi họa Trung Hoa như một hình hài cụ thể nhìn thấy được của tỉnh g. văn hóa Đông phương và triết học Đông phươn Nghệ thuật hội họa Trung Hoa bạo gồm : tranh sơn dầu, tranh sơn khắc, hay phấn màu. đều mang giá tranh lụa, tranh khắc gỗ, tranh thuốc nước, bột mầu hội họa cổ truyền của người trị nghệ thuật đặc sắc. Nhưng đặc biệt nghệ thuật sự MAC (hay còn gọi là Quốc họa) _ với Trung Hoa là nghệ thuật vẽ tranh THỦY nho.

Nghệ thuật THỦY MẶC vẫn vượt - độc đáo diệu kỳ của cây bút lông và mực lòng giới ham mộ nghệ thuật trong lên trên tất cả và chiếm vị trí hàng đầu trong nước cũng như trên thế giới. n sang nước ta và dẫn đần Lối vẽ tranh truyền thống Trung Hoa này truyề MẶC VIỆT NAM”. Trãi qua bao giai được Việt hóa tạo nên đồng “tranh THỦY của thế kỷ 20 này, tuy chưa có khi đoạn thăng trầm, cho đến những năm 80 - 85 vượt đến đỉnh cao trong nên nghệ nào tranh thủy mặc Việt Nam có diều kiện để dễ dàng di vào cuộc sống tinh thần của thuật Việt Nam, nhưng nó vẫn tổn tại và tố tranh thủy mặc Việt Nam có đông đảo quần chúng nhân dân. Điều này chứng Grang Í Luda odin bt nghiép.

có điểu kiện để phát triển. Hiện nay một nội lực lớn mà chưa được khai thác, chưa nước bạn trên thế giới, loại hình với chính sách mở cửa, giao lưu văn hóa với các loại hướng phat triển. Liệu nghệ thuật này có phần khởi sắc và đang tìm phương có hình nghệ thuật này ở Việt Nam có được nhà nước quan tâm đúng mức 2 Và nên văn hóa nghệ thuật Việt điểu kiện phát triển để đạt được vị trí, vai trò trong từng có khi còn ở cố hương không? Nam nói riêng và thế giới nói chung như nó đã dòng là những người theo Đó là vấn để đang được giới họa sĩ quan tâm, đặc biệt _ tranh thủy mặc ở Việt Nam. học tập, cùng niềm say mê Với những kiến thức có được trong quá trình định chọn “TRANH THỦY MẶC hứng thú với loại hình nghệ thuật này, tôi quyết trọng yếu của nghệ VIỆT NAM” làm đề tài nghiên cứu, để nhận biết một mặt thẩm mỹ _ triết học Á Đông.

Đó thuật Trung Hoa, qua đó để hiểu được quan n§ệm việc nghiên cứu, tìm hiểu loại hình - là một cách để “ôn cố tri tân”. Đồng thời với hóa của. một khía cạnh văn nghệ thuật này, tôi mong được giới thiệu cola trong kho tàng văn hoá rất đồng bào Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, một bộ phận bài nghiên Cuối cùng tôi hy vọng phong phú và giàu đẹp của dân tộc Việt Nam. và niềm tin trong giới họa sĩ đang cứu này có thể góp phần tạo thêm sức mạnh loại tranh thủy mặc này, để họ ngày trên đường tm phương hướng phát triển cho đóng góp nhiều hơn nữa cho - càng cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị hơn, nhằm nên văn hóa đân tộc.

> LICH SU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI đã được truyền vào Việt Như đã trình bày trên, tuy dòng tranh thủy mặc quan tâm đúng mức, do vậy mà Nam và dân dần được định hình, nhưng chưa được Việt hay tiếng nước ngoài từ trước đến nay chưa có chuyên luận nào bằng tiếng Nam. Đặcbiệt là về vai trò nghiên cứu đầy đủ về các mặt của tranh thủy mặc Việt Nam những tài liệu về hội họa Trung văn hóa của loại hình nghệ thuật này. Ở Việt chí, các báo nghệ thuật. rất Hoa cũng rất ít, có chăng chỉ rải rác ở một vài tạp.

LIỆU CHỦ YẾU : 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI nguồn tài liệu từ Để nghiên cứu để tài này tôi đã sưu tập và hệ thống hóa tiếng Anh. Bên cạnh đó các tạp chí, bài báo bằng tiếng Hoa lẫn tiếng Việt, sách họa sĩ người Hoa của Câu tôi cũng đã được gặp gỡ và phóng vấn trực tiếp một số cho bài nghiên cứu này. lạc bộ Mỹ thuật quận 5 tại chợ Lớn để có thêm tư liệu ta z những tài liệu chính ” ~ ¬ dụng ~ sử as đã ` Để lập để ^ {1A x cương cho x bài ^ luận.

vẫn này tôi sau: Geang 2 Luda oin tốt aghiép. phố Hồ Chí Minh. Hoạt động kinh tế của người Hoa từ Sài Gòn đến thành PTS. Trần Hồi Sinh ~ nxb Trẻ thành phố HCM — 1998.

Tạp chí Mỹ thuật của Hội mỹ thuật TP. HCM số 10 "Traditional Chinese Painting Beijing, China. Edited and Published by China pictorial Publications First, February 1985. năng và phát & XA hdi ngudi Hoa 6 thanh phố Hồ Chí Minh sau 1975 : tiểm triển.

Mạc Đường ~ nxb Khhoa học Xã hội — 1994. 4, GIỚI HẠN: vì nguồn tư liệu, tài Vì sự hiểu biết về lĩnh vực mỹ thuật có phần hạn chế, công việc nghiên cứu của tôi có liệu tham khảo ít ổi và vì thời gian hạn hẹp. nên xin trình bầy sơ lược về gặp nhiễu khó khăn. Do đó, trong bai luận vẫn này tôi chỉ đặc trưng của tranh thủy cộng đồng người Hoa ở thành phố, về kỹ thuật và tính thuật của một số họa sĩ mặc; đồng thời tôi cũng xin giới thiệu về hoạt động nghệ tranh thủy mặc hiện tại vẽ tranh thủy mặc ở thành phố Hồ Chí Minh,về tình hình và tương lai, để từ đó thấy được tiểm lực của tranh thủy mặc — một tiểm lực văn hóa của dân tộc.

biết thêm một Mong rằng thông qua bài luận văn này quí vị có thể hiểu và nền văn hóa dân tộc Việt lĩnh vực mới trong nên hội họa Việt Nam nói riêng [ ấ Nam nói chung. Nội dung chính của bài gồm bốn chương: 1 : Cộng đồng người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh. Chương thủy mặc. Chương 2 : Kỹ thuật và tính đặc trưng của tranh Minh, Chương 3 : Tranh thủy mặc ở Thành phố Hồ Chỉ Chương 4 : Tranh thủy mặc hiện tại và tương lai.

Frang 3 Luin odu tét ughiép. | CHƯƠNGI: | - CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở THANH PHO HO CH MIN H. punt) Tên gọi “Người Hoa” có một quá trình hình thành rất đặc biệt nó xuất năm phát từ chính sách đúng đắn của nhà nước Việt Nam sau Cách Mạng tháng 8 có 1945. Chính sách ấy thừa nhận bản sắc riêng của dân tộc Hoa và người Hoa và các một vị trí chính trị , kinh tế và văn hóa bình đẳng với người Việt ( Kinh ) dân tộc khác trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam .1, SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA Ở THÀNH PHỔ HỒ CHÍ MINH.

Vào cuối thế kỷ 17, khi nhiều nhóm đi dân người Trung Hoa từ phía Nam kiến Việt Nam Trung Hoa và miễn duyên hải, được phép của chính quyển phong - Gia Định - 'đã đến định cư ở miền Nam Việt Nam, trong đó có khu vực Sài Gòn Quảng Đông, Chợ Lớn. Người Hoa ở Nam bộ phân đông là người Hán ở các tỉnh do khác Phước Kiến, Hải Nam (Trung Quốc). Họ đã đến vùng này với nhiều lý lớn, các nhau : sự thống trị khắc nghiệt của tầng lớp trên, thiên tai nhiều, nạn dịch thổ; rồi ý vương triểu thay đổi liên tục bởi những cuộc chiến tranh giành lãnh mại. tất -_ tưởng bành trướng sang các nước khác, sự phát triển của ngành thương ở cả đều là những lý do khiến người Hoa bồ xứ ra đi.

Do đó, thành phần người Hoa phong kiến, thợ thủ Nam bộ cũng khá phức tạp, ngoài một số quan lại, trí thức đói buộc phải đi tha công, thương nhân,. còn lại bộ phận là nông dân nghèo dân nghèo Trung phương cầu thực. Trên những nẻo đường di cư vô định, người sinh sống và ‘Hoa di dừng chân và chọn mắnh đất miễn Nam Việt Nam làm đất ăn bươn trải kiến lập một miễn quê hương mới. Với tính cần cù chịu khó, làm cuộc sống, có vất vả nhọc những người Hoa dần dẫn tạo lập được cho mình một đầu là những kiều dân, là nhằn, nhưng dù sao cũng dễ chịu hơn nơi quê cũ.

Ban dẫn dẫn họ nhận ra thân phận hải ngoại cô nhỉ của đất nước Trung Hoa rộng lớn, Grang. 4 Ludn vdu t6t aghiép. i ở lại chính là tương nẻo đường về cố hương càng nhiều trắc trở, mà mảnh đất đang người Hoa vào cộng lai, là cuộc sống chắc chắn hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ