lời mở đầu và kết luận, khoá luận được bố cục thành 3 chương: Chƣơng 1: Khái quát chung về tranh chấp thƣơng mại và cơ chế giải quyết tranh chấp của tổ chức thƣơng mại thế giới. Chƣơng 2: Thực tiễn tranh chấp thƣơng mại và giải quyết tranh chấp của các nƣớc đang phát triển theo cơ chế giải quyết tranh chấp của tổ chức thƣơng mại thế giới. Chƣơng 3: Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam và những kiến nghị cụ thể về việc sử dụng hệ thống giải quyết tranh chấp WTO sau khi gia nhập. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI VÀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TỔ CHỨC THƢƠNG MẠI THẾ GIỚI.
Tổng quan về tranh chấp thƣơng mại 1. Khái niệm Tranh chấp thương mại là sự bất đồng chính kiến, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia hoạt động thương mại. Trong luật thương mại 1997, khái niệm tranh chấp thương mại được hiểu như sau: “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung của hoạt động thương mại”. Tuy nhiên, khái niệm này có nội hàm hẹp hơn so với quan niệm phổ biến của các nước về thương mại là tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do thực hiện hoặc thực hiện không đúng các thoả thuận trong hoạt động thương mại quốc tế.
Tranh chấp thương mại có rất nhiều cách hiểu và cách định nghĩa, tuỳ theo từng khía cạnh mà bài nghiên cứu hướng đến. Đó có thể là tranh chấp thương mại giữa các quốc gia, cũng có thể là tranh chấp thương mại giữa các doanh nghiệp. Trong bài khoá luận này, tranh chấp thương mại có thể hiểu theo như sau: “ Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia chủ yếu xuất phát từ việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết trong các điều ước quóc tế về thương mại. Đặng Công Tráng, Phó trưởng khoa quản trị kinh doanh trường đại học công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh trong bài giảng “Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế giữa các quốc gia”).
Như vậy, khái niệm về tranh chấp thương mại phải bao hàm đủ các yếu tố sau: - Là tranh chấp thương mại giữa các quốc gia. - Là mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ cụ thể. - Những mâu thuẫn, bất đồng đó phát sinh từ hoạt động thương mại. Phân loại tranh chấp thương mại Tranh chấp thương mại có rất nhiều cách phân loại, mỗi cách phân loại đều dựa trên những tiêu chí nhất định: 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Căn cứ vào số lƣợng chủ thể tham gia: - Tranh chấp song phương: tranh chấp giữa các bên.
- Tranh chấp đa phương: tranh chấp giữa nhiều bên bao gồm tranh chấp có tính khu vực và tranh chấp có tính toàn cầu. Căn cứ vào tính chất vụ việc: - Tranh chấp có tính chính trị: thường là tranh chấp về chủ quyền quốc gia đối với dân cư, lãnh thổ, về lợi ích của các bên…liên quan đến đòi hỏi phải thay đổi các quy định hiện hành, gắn liền với quyền và nghĩa vụ của các bên. - Tranh chấp có tính pháp lý: là những tranh chấp giữa các bên liên quan đến sự bất đồng trong việc giải thích hay áp dụng các quy định hiện hành, như những tranh chấp về giải thích điều ước quốc tế, về các sự kiện vi phạm nghĩa vụ quốc tế. Đây là những tranh chấp tương đối phổ biến trong quan hệ quốc tế.
Căn cứ vào đối tƣợng tranh chấp: - Tranh chấp về kinh tế. - Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ thành viên về điều ước quốc tế hoặc tổ chức quốc tế. Căn cứ vào tƣ cách chủ thể: - Tranh chấp giữa các quốc gia. - Tranh chấp giữa các tổ chức quốc tế.
- Tranh chấp giữa quốc gia và tổ chức liên chính phủ (Ví dụ: tranh chấp giữa ASEAN và Trung Quốc). Các tiêu chí phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối, vì trên thực tế tranh chấp xảy ra, muốn phân biệt chúng thuộc loại tranh chấp nào là điều không dễ dàng. Không ít vụ việc tranh chấp vừa mang tính pháp lý lại vừa mang tính chính trị. Do vậy, các giải pháp cho mỗi vụ tranh chấp cũng cần phải xem xét đến các yếu tố này.
Nguyên nhân xảy ra tranh chấp thương mại Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tranh chấp thương mại nhưng hầu hết đều là do xuất phát từ lợi ích kinh tế. Khi tham gia vào nền kinh tế thị trường, mỗi chủ thể lại xây dựng cho mình những mối quan hệ hợp tác, làm ăn khác nhau, cùng nhau thoả thuận để đi đến mục đích chung cả hai bên cùng có lợi. Tuy nhiên, có sự thoả 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuận th cũng có phát sinh vi phạm thoả thuận. Sự vi phạm này có thể từ nguyên nhân bất khả kháng, không có sự chủ định từ một bên, cũng có thể do lỗi của một hoặc các bên nhưng có sự chủ định trước.Bởi vậy, việc phát sinh tranh chấp là điều không thể tránh khỏi.
Nhìn chung, vấn đề tranh chấp thương mại không giới hạn ở những nguyên nhân sau: Do sự thúc đẩy của lợi nhuận: mục đích của các chủ thể khi tham gia vào kinh tế thị trường là lợi nhuận, lợi nhuận càng cao càng tốt. Chính vì lợi nhuận nên các quốc gia chấp nhận phá vỡ các nguyên tắc, vi phạm các điều ước thương mại dẫn đến tranh chấp thương mại. Sự hạn chế trong kiến thức pháp luật: Điều này xảy ra đặc biệt đối với những quốc gia đang phát triển, không nắm rõ luật quốc tế, không áp dụng đúng những quy định mà tổ chức thế giới đưa ra hay không có đủ công cụ để nhận thức luật pháp dẫn đến vi phạm làm phát sinh tranh chấp thương mại. Nguyên nhân liên quan đến việc chống bán phá giá, trợ cấp hay các biện pháp tự vệ.
Nguyên nhân về vấn đề vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Nguyên nhân liên quan đến vấn đề bảo hộ nền sản xuất trong nước. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 1. Tổng quan giới thiệu WTO 1.
Lịch sử thành lập WTO WTO (World Trade Organization) – là tổ chức thương mại quốc tế được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1995. Bên cạnh việc khắc phục những điểm yếu còn tồn tại của tổ chức tiền thân GATT, WTO còn phát triển và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại. Thời gian đầu tiên, để khôi phục sự phát triển kinh tế và thương mại, rất nhiều quốc gia trên thế giới đã cùng nhau nỗ lực kiến tạo một tổ chức mới điều chỉnh hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế. Do đó Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) ra đời với tư cách là một tổ chức chuyên môn thuộc Liên hiệp quốc.
Tuy nhiên sau đó, một số quốc gia gặp khó khăn trong vấn đề phê chuẩn Hiến chương thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) nên việc hình thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) đã không thực hiện được. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định, 23 nước sáng lập đã ký kết Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Hiệp định này ra đời và chính thức có hiệu lực vào 1/1948. Từ đó tới nay, GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán chủ yếu về thuế quan: Bảng 1.1 Các vòng đàm phán thuế quan của GATT Năm Địa điểm/Tên Chủ đề đàm phán Số nƣớc 1947 Geneva Thuế quan 23 1949 Annecy Thuế quan 13 1951 Torquay Thuế quan 38 1956 Geneva Thuế quan 26 1960-1961 Geneva Thuế quan 26 (Vòng Dillon) 1964-1967 Geneva Thuế quan và các biện pháp chống bán 63 (Vòng Kenedy) phá giá 1973-1979 Geneva Thuế quan, các biện pháp phi quan 102 (Vòng Tokyo) thuế, các Hiệp định "khung" 1986-1994 Geneva Thuế quan, các biện pháp phi quan 125 (Vòng Uruguay) thuế, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp, hàng dệt, nông nghiệp, thành lập WTO, v.org/wiki/Hiệp_ước_chung_về_thuế_quan_và_mậu_dịch.
GATT, trong những năm tồn tại của nó đã có những đóng góp không nhỏ vào việc thúc đẩy và đảm bảo lợi nhuận hoá và tự do hoá thương mại thế giới. Tuy nhiên đến cuối những năm 80, đầu 90, trước những biến chuyển của tình hình thương mại quốc tế và sự phát triển của khoa học kỹ thuật, GATT đã h nh thành những bất cập, xuất hiện những điểm không phù hợp và không theo kịp tình hình. Chính những điều đó đã thuyết phục các bên tham gia GATT cần phải có nỗ lực để củng cố và mở rộng hệ thống thương mại đa biên. Từ năm 1986 đến 1994, Hiệp 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định GATT và các Hiệp định phụ trợ của nó đã được các nước thảo luận sửa đổi và cập nhật để thích ứng với điều kiện thay đổi của môi trường thương mại thế giới.
Hiệp định GATT 1947, cùng với các quyết định đi kèm và một vài biên bản giải thích khác đã hợp thành GATT 1994. Một số Hiệp định riêng biệt cũng đạt được trong các lĩnh vực như Nông nghiệp, Dệt may, Trợ cấp, Tự vệ và các lĩnh vực khác; cùng với GATT 1994, chúng tạo thành các yếu tố của các Hiệp định Thương mại đa phương về Thương mại Hàng hoá. Vòng đàm phán Uruguay cũng thông qua một loạt các quy định mới điều chỉnh thương mại Dịch vụ và Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến thương mại. Một trong những thành công lớn nhất của vòng đàm phán lần này là, cuối Vòng đàm phán Uruguay, các nước đã cho ra Tuyên bố Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995.
Mục tiêu của WTO Mục tiêu chính của hệ thống thương mại thế giới là nhằm giúp thương mại được lưu chuyển tự do ở mức tối đa. Bên cạnh đó, tổ chức WTO còn chú trọng vào những mục tiêu sau đây: - Nâng cao mức sống của con người bảo đảm đầy đủ việc làm và một khối lượng thu nhập và nhu cầu thực tế lớn và phát triển ổn định. - Mở rộng sản xuất, thương mại hàng hoá và dịch vụ, trong khi đó vẫn đảm bảo việc sử dụng tối ưu nguồn lực của thế giới theo đúng mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ và duy tr môi trường, nâng cao các biện pháp để thực hiện điều đó theo cách thức phù hợp với những nhu cầu và mối quan tâm riêng rẽ của mỗi bên ở các cấp độ phát triển kinh tế khác nhau.