Tài liệu Y tế: Trần thị luân phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh

Nghiên cứu phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện quận 2 TPHCM năm 2019. Luận văn chuyên khoa cấp 1 ngành Dược về quản lý thuốc bệnh viện.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I

2020

85
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và phân loại danh mục thuốc trong nghiên cứu của Trần Thị Luân

Nghiên cứu danh mục thuốc của Trần Thị Luân tập trung vào phân tích toàn diện các loại thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Quận 2 TP.HCM năm 2019. Danh mục thuốc sử dụng (DMTSD) là tập hợp các loại thuốc được phê duyệt và sử dụng trong một cơ sở y tế cụ thể. Phân loại danh mục thuốc bao gồm nhiều tiêu chí khác nhau như nguồn gốc (tân dược, đông y), đường dùng, nhóm tác dụng dược lý và tính chất kiểm soát. Việc phân tích này giúp các bệnh viện quản lý hiệu quả tài nguyên dược phẩm, đảm bảo chất lượng điều trị và tuân thủ các quy định pháp luật về dùng thuốc hợp lý.

1.1. Định nghĩa danh mục thuốc sử dụng

Danh mục thuốc sử dụng là tài liệu chính thức liệt kê tất cả các loại thuốc, hoạt chất, dạng bào chế được phép sử dụng trong cơ sở y tế. Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, DMTSD phải phù hợp với nhu cầu lâm sàng, điều kiện kinh tế và các quy định về an toàn dược. Danh mục này được xây dựng dựa trên các tiêu chí khoa học, kinh tế và pháp lý, đảm bảo việc sử dụng thuốc đúng, hợp lý và hiệu quả.

1.2. Các phương pháp phân loại danh mục thuốc

Luận văn của Trần Thị Luân áp dụng nhiều phương pháp phân loại khác nhau: phân loại theo nhóm tác dụng dược lý, theo nguồn gốc ngoại/nội, theo biệt dược gốc/generic, và theo đường dùng thuốc. Mỗi phương pháp cung cấp góc nhìn khác nhau về cơ cấu danh mục thuốc, giúp các quản lý y tế hiểu rõ hơn về tính đa dạng và hợp lý của việc sử dụng thuốc tại bệnh viện.

II. Phương pháp phân tích ABC VEN trong nghiên cứu danh mục thuốc

Phân tích ABC/VEN là một công cụ quản lý hiệu quả được Trần Thị Luân sử dụng để phân loại danh mục thuốc theo hai tiêu chí chính. Phương pháp phân tích ABC dựa trên giá trị chi phí (High-Medium-Low), trong khi phân tích VEN đánh giá mức độ quan trọng về y học (Vital-Essential-Non-essential). Ma trận ABC/VEN kết hợp hai phương pháp này, tạo ra 9 danh mục thuốc khác nhau, mỗi danh mục có chiến lược quản lý riêng. Phương pháp này giúp bệnh viện tối ưu hóa ngân sách dược, đảm bảo sẵn có những loại thuốc quan trọng và kiểm soát tồn kho hiệu quả.

2.1. Phân tích ABC theo giá trị chi phí

Phân tích ABC phân chia danh mục thuốc thành ba nhóm: A (20% số loại thuốc, 80% giá trị), B (30% số loại thuốc, 15% giá trị), C (50% số loại thuốc, 5% giá trị). Nhóm A yêu cầu quản lý chặt chẽ, kiểm kê thường xuyên và dự báo nhu cầu chính xác. Phương pháp này cho phép các bệnh viện tập trung nguồn lực vào những thuốc có tác động lớn nhất đến ngân sách.

2.2. Phân tích VEN theo mức độ quan trọng y học

Phân tích VEN phân loại thuốc thành: V-Vital (cần thiết tuyệt đối), E-Essential (cần thiết), N-Non-essential (không cần thiết). Các thuốc nhóm V phải luôn sẵn có vì liên quan trực tiếp đến tính mạng bệnh nhân. Phương pháp này đảm bảo rằng bệnh viện ưu tiên những loại thuốc quan trọng nhất về mặt lâm sàng, giúp cải thiện chất lượng điều trị.

III. Cơ cấu danh mục thuốc tại Bệnh viện Quận 2 năm 2019

Nghiên cứu của Trần Thị Luân đã chi tiết phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Quận 2 TP.HCM năm 2019. Danh mục thuốc được phân tích theo nhiều khía cạnh: tân dược vs đông y, nhóm tác dụng dược lý, thuốc nhập khẩu, biệt dược gốc vs generic, thuốc đơn vs đa thành phần, và đường dùng. Kết quả cho thấy cơ cấu sử dụng thuốc phù hợp với mô hình bệnh tật của bệnh viện đa khoa, với sự cân bằng hợp lý giữa các nhóm thuốc khác nhau. Nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn và ký sinh trùng chiếm tỷ lệ đáng kể, phản ánh đặc điểm bệnh tật phổ biến.

3.1. Phân tích theo nguồn gốc và xuất xứ thuốc

Danh mục thuốc được chia thành thuốc tân dược (hoạt chất tổng hợp) và thuốc đông y. Nghiên cứu cũng phân tích thuốc nhập khẩu có hoạt chất trong Thông tư 03/2019/TT-BYT của Bộ Y tế. Tỷ lệ sử dụng thuốc từ các nguồn khác nhau phụ thuộc vào nhu cầu lâm sàng, hiệu quả điều trị và khả năng thanh toán của bệnh nhân.

3.2. Phân tích theo nhóm tác dụng dược lý

Các nhóm tác dụng dược lý được phân loại theo nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn, ký sinh trùng, thuốc tim mạch, thuốc hệ tiêu hóa, và các nhóm khác. Số lượng và giá trị sử dụng của mỗi nhóm phản ánh mô hình bệnh tật và nhu cầu lâm sàng của bệnh viện, giúp đánh giá tính phù hợp của danh mục thuốc với thực tế.

IV. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn của phân tích danh mục thuốc

Nghiên cứu phân tích danh mục thuốc của Trần Thị Luân có ý nghĩa thiết yếu trong quản lý dược bệnh viện hiện đại. Kết quả phân tích ABC/VEN cung cấp cơ sở khoa học cho Hội đồng thuốc và điều trị để điều chỉnh danh mục thuốc, loại bỏ những loại thuốc ít sử dụng và bổ sung những loại thiết yếu. Phương pháp này giúp tối ưu hóa chi phí dược, đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, giảm phát sinh, lãng phí, và nâng cao hiệu quả kinh tế của bệnh viện. Đồng thời, việc phân tích cơ cấu thuốc theo các tiêu chí khác nhau giúp đánh giá độ phù hợp với mô hình bệnh tật và các quy định của Bộ Y tế.

4.1. Lợi ích trong quản lý tồn kho thuốc

Phân tích ABC cho phép bệnh viện áp dụng các chiến lược quản lý tồn kho khác nhau cho từng nhóm thuốc. Nhóm A cần kiểm kê thường xuyên, B kiểm kê định kỳ, C kiểm kê ít thường xuyên. Điều này giúp giảm chi phí lưu kho, tránh hết hàng những loại thuốc quan trọng, và tối ưu hóa quản lý danh mục thuốc của bệnh viện.

4.2. Cơ sở cho quyết định chiến lược dùng thuốc

Kết quả phân tích của Trần Thị Luân cung cấp bằng chứng khoa học cho các quyết định về cơ cấu danh mục thuốc, lựa chọn biệt dược gốc hay generic, và sử dụng thuốc nhập khẩu. Các kiến nghị dựa trên dữ liệu thực tế giúp cải thiện chất lượng điều trị, đảm bảo an toàn dược cho bệnh nhân, và tuân thủ các văn bản pháp luật của Bộ Y tế về quản lý dược.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Danh mục thuốc 1. Khái niệm danh mục thuốc Danh mục thuốc (DMT) theo một cách khái quát và đơn giản nhất có thể hiểu là danh sách tập hợp các loại thuốc. Đối với một cơ sở y tế xác định và trong một khoảng thời gian xác định thì DMT của cơ sở là danh sách tập hợp các loại thuốc của cơ sở trong một khoảng thời gian xác định.

Tuy nhiên, việc xác định DMT như vậy chưa phản ánh hết bản chất và các vấn đề nảy sinh trong quá trình sử dụng thuốc như sử dụng thuốc có đúng bệnh hay không; thuốc có đầy đủ và luôn sẵn có theo nhu cầu điều trị hay không. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), DMT được định nghĩa: là một danh sách tập hợp những loại thuốc cần thiết thoả mãn nhu cầu khám chữa bệnh, phù hợp với mô hình bệnh tật (MHBT), kỹ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính của từng cơ sở y tế và khả năng chi trả của người bệnh. Những thuốc này trong phạm vi không gian, thời gian, trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật nhất định luôn sẵn có với số lượng cần thiết, chất lượng đảm bảo, dạng bào chế thích hợp, giá cả phải chăng. Khái niệm DMT của WHO đề cập đến các nội dung cơ bản của thuốc như sau: - Là một danh sách tập hợp tất cả các loại thuốc thỏa mãn nhu cầu khám, chữa bệnh của cơ sở xác định (phạm vi không gian); trong khoảng thời gian xác định (phạm vi thời gian); - Các thuốc có trong danh sách phù hợp với mô hình bệnh tật của cơ sở; - Thuốc có đặc tính kỹ thuật phù hợp với trình độ kỹ thuật điều trị và bảo quản của cơ sở, dạng bào chế thích hợp; - Giá cả của thuốc phải chăng, phù hợp với khả năng chi trả của cơ sở và người bệnh.

Như vậy, khái niệm DMT của WHO là khá toàn diện đề cập đến hầu hết các vấn đề liên quan đến thuốc từ mua sắm, bảo quản, sử dụng điều trị và khả năng thanh toán,. Khái niệm này cho thấy DMT không đơn thuần chỉ là một 3 danh sách tập hợp các loại thuốc chung chung. Phân loại danh mục thuốc - Trong chu trình cung ứng thuốc với 4 giai cơ bản: lựa chọn; mua sắm; tồn trữ, cấp phát và sử dụng. Bốn giai đoạn này có mối quan hệ mật thiết với nhau, sự kết thúc của giai đoạn này là tiền đề của giai đoạn tiếp theo [1].

Trong cả bốn giai đoạn của chu trình cung ứng thuốc đều thấy xuất hiện DMT. Dựa vào sự phân chia các giai đoạn của chu trình cung ứng thuốc thì DMT thuốc cũng có các loại sau: - DMT lựa chọn (hay DMT tổng quát): đây là danh sách tập hợp các loại thuốc có trên thị trường có thể mua sắm. Hay có thể hiểu đây là danh sách tất cả các thuốc đang hoặc sẽ lưu hành trên thị trường (trong khu vực) mà cơ sở có khả năng mua sắm được trong khoảng thời gian xác định. - DMT mua sắm: từ DMT có sẵn cơ sở tiến hành lựa chọn các thuốc phù hợp với khả năng điều trị, bảo quản và nhu cầu sử dụng tập hợp các thuốc này lại và xây dựng lên DMT mua sắm và tiến hành mua sắm.

Đây là DMT của quá trình mua sắm. - DMT điều trị: sau khi thực hiện mua sắm cơ sở sẽ ban hành DMT hiện có của cơ sở sẵn sàng sử dụng trong thăm khám và điều trị. Có thể xác định đây là DMT đang có. - DMT sử dụng (hay DMT đã sử dụng): sau khi sử dụng thuốc trong một khoảng thời gian xác định thì danh sách tập hợp các thuốc đã sử dụng trong quá trình thăm khám, điều trị thực tế được xác lập và có thể gọi là DMT sử dụng.

Như vậy, tương ứng với mỗi giai đoạn của chu trình cung ứng thuốc thì sẽ có một loại DMT tương ứng.Có thể nói DMT là kết quả của mỗi giai đoạn của chu trình cung ứng. Cũng giống như các giai đoạn của chu trình cung ứng thuốc, các DMT cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, DMT này vừa là kết quả vừa là tiền đề để hình thành lên DMT tiếp theo. Trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi tiến hành khảo sát về DMT sử dụng. Danh mục thuốc sử dụng Trong một khoảng thời gian xác định, cơ sở y tế sử dụng thuốc vào trong quá trình thăm khám và điều trị, kết thúc khoảng thời gian này chúng ta có thể tập hợp tất cả các thuốc đã sử dụng lại hình thành lên một danh sách các thuốc đã sử dụng.

Nên, DMT sử dụng có thể hiểu là một danh sách tập hợp tất cả các thuốc đã sử dụng trong một khoảng thời gian xác định. Hay DMT sử dụng là kết quả của quá trình sử dụng thuốc trong một khoảng thời gian xác định. Một số đặc điểm của DMT sử dụng khác với các DMT khác: - Các thuốc trong danh mục là các thuốc đã được sử dụng thực tế; - Mỗi loại thuốc trong danh mục có thể xác định được chính xác số lượng, giá trị dùng để thăm khám, phòng và điều trị bệnh; - Thông thường DMT sử dụng phù hợp với MHBT; trình độ, kỹ thuật điều trị, khả năng bảo quản thuốc của cơ sở; - Phản ánh tương đối chính xác thực trạng sử dụng thuốc của cơ sở y tế. Về vai trò của DMT sử dụng: DMT sử dụng có một vai trò to lớn đó là là cơ sở cơ bản để xây dựng nên DMT mua sắm cho giai đoạn tiếp theo trong quá trình hoạt động của cơ sở y tế.

Như vậy, DMT sử dụng là kết quả của quá trình sử dụng thuốc của cơ sở vào trong việc thăm khám, phòng và điều trị bệnh tại cơ sở trong một khoảng thời gian xác định. Việc nghiên cứu phân tích DMT sử dụng cho các nhà quản lý thấy được một cách tổng quát các vấn đề sử dụng thuốc tại cơ sở của mình: thuốc sử dụng đã hợp lý chưa (?); những bất cập gì còn tồn tại trong quá trình sử dụng (?); những loại thuốc nào, nhóm thuốc nào tiềm ẩn những vấn đề đáng quan tâm trong quá trình sử dụng thuốc (?);. đồng thời có thể cung cấp một số giải pháp khắc phục các vấn đề tồn tại. Vì vậy, việc phân tích DMT sử dụng có một vai trò to lớn nhằm góp phần nâng cao chất lượng cung ứng thuốc cho cơ sở được nghiên cứu.

Trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi thực hiện phân tích thực trạng DMT xuất kho (DMT sử dụng) tại bệnh viện quận 2 để có cái nhìn khái quát nhất về thực trạng sử dụng thuốc tại bệnh viện. Các phương pháp tổng quát phân tích tình hình sử dụng thuốc Theo tổ chức Y tế thế giới, có 3 phương pháp chính để làm rõ các vấn đề sử dụng thuốc tại bệnh viện mà HĐT&ĐT nên thường xuyên sử dụng, đó là: - Thu thập thông tin ở mức độ cá thể: những dữ liệu này được thu thập từ người không kê đơn để có thể xác định được những vấn đề xung quanh liên quan đến sử dụng thuốc. Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là thường không có đủ thông tin để có thể điều chỉnh thuốc sử dụng phù hợp với chẩn đoán. - Các phương pháp định tính: như tập trung thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu vấn đề và bộ câu hỏi sẽ là những công cụ hữu ích để xác định nguyên nhân của vấn đề sử dụng thuốc.

- Các phương pháp tổng hợp dữ liệu: phương pháp này liên quan đến các dữ liệu tổng hợp mà không phải trên từng cá thể, và dữ liệu có thể thu thập dễ dàng. Phương pháp xác định liều, phân tích ABC và phân tích VEN. Những phương pháp này sẽ được sử dụng để xác định các vấn đề lớn liên quan đến sử dụng thuốc. Trong số các phương pháp trên, phân tích danh mục thuốc gồm phân tích ABC và phân tích VEN là giải pháp hữu ích và cần được áp dụng để xác định các vấn đề lớn liên quan đến sử dụng thuốc.

Phương pháp phân tích này sẽ trở thành công cụ cho HĐT&ĐT quản lý danh mục thuốc [2][5]. Để phân tích DMT được sử dụng tại bệnh viện thường sử dụng các phương pháp sau: 1. Phương pháp phân tích nhóm điều trị * Khái niệm: là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc của các nhóm điều trị [5]. * Vai trò và ý nghĩa: - Giúp xác định các nhóm điều trị có lượng tiêu thụ, chi phí cao nhất.

- Trên cơ sở thông tin về mô hình bệnh tật (MHBT), xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý, xác định những thuốc bị lạm dụng hoặc mức 6 tiêu thụ không mang tính đại diện. - Giúp HĐT&ĐT lựa chọn các thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và lựa chọn thuốc cho các liệu pháp điều trị thay thế [2]. * Các bước thực hiện: - Sử dụng dữ liệu thống kê chi phí sử dụng, phần trăm chi phí của từng thuốc sử dụng trên tổng chi phí sử dụng thuốc toàn cơ sở - Phân loại nhóm điều trị cho từng thuốc: phân loại này có thể dựa vào phân loại trong Danh mục thuốc thiết yếu của WHO hoặc theo các tài liệu tham khảo khác như hệ thống phân loại Dược lý - Điều trị của hiệp hội Dược thư bệnh viện của Mỹ (AHFS) hoặc hệ thống phân loại Giải phẫu - Điều trị - Hóa học (ATC) của W11O,…Trong đề tài này chúng tôi phân tích nhóm điều trị theo Thông tư 30/2018/TT-BYT Ban hành và hướng dẫn về thực hiện danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quỹ bảo hiểm y tế thanh [6], và Thông tư 05/2015/TT-BYT, ngày 17/03/2015 của Bộ Y tế Ban hành Danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế [7] - Tổng hợp chi phí, phần trăm chi phí các thuốc trong mỗi nhóm thuốc, từ đó xác định tình hình kê đơn thuốc thực tế đang tập trung vào những nhóm thuốc nào thông qua việc xác định nhóm điều trị nào chiếm chi phí lớn nhất. - Đối chiếu với mô hình bệnh tật, từ đó phân tích đánh giá tính hợp lý của mối tương quan giữa các nhóm thuốc sử dụng trong điều trị và mô hình bệnh tật thực tế tại bệnh viện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ