Luận văn: Trầm cảm và khả năng ứng phó của học sinh dân tộc thiểu số

Luận văn thạc sĩ phân tích hiểu biết về trầm cảm và khả năng ứng phó của học sinh dân tộc thiểu số, đưa ra kết quả và khuyến nghị quan trọng.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

106
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Hiểu biết về trầm cảm ở học sinh dân tộc thiểu số

Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến đang ảnh hưởng ngày càng nhiều đến học sinh dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Theo nghiên cứu từ Đại học Quốc Gia Hà Nội, tỷ lệ học sinh thiểu số mắc trầm cảm cao hơn đáng kể so với học sinh kinh tế đô thị. Việc thiếu hiểu biết về các triệu chứng trầm cảmnguyên nhân gây ra trầm cảm là một rào cản lớn trong việc phát hiện sớm bệnh. Học sinh dân tộc thiểu số thường đối mặt với nhiều thách thức về mặt kinh tế, xã hội và tâm lý, khiến họ dễ bị trầm cảm hơn. Ngoài ra, sự thiếu hụt các dịch vụ tâm lý học lâm sàng ở vùng sâu, vùng xa cũng làm trầm trọng thêm tình hình này.

1.1. Khái niệm và đặc điểm trầm cảm

Trầm cảm được định nghĩa là một rối loạn tâm thần được đặc trưng bởi tâm trạng buồn bã kéo dài, mất hứng thú với các hoạt động và cảm giác vô giá trị. Theo DSM-5, triệu chứng trầm cảm bao gồm mất ngủ, cơ nhân mệt mỏi, khó tập trung và suy nghĩ tiêu cực. Ở học sinh thiểu số, những biểu hiện này còn phức tạp hơn do ảnh hưởng của yếu tố văn hóađiều kiện sống khó khăn.

1.2. Tỷ lệ trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên

Các nghiên cứu quốc tế cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở thanh thiếu niên tăng lên 15-20% trong những năm gần đây. Tại Việt Nam, học sinh dân tộc thiểu sốtỷ lệ mắc bệnh cao hơn do áp lực học tập, phân biệt xã hộikhó khăn kinh tế. Những con số này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức về sức khỏe tâm thần trong cộng đồng thiểu số.

II. Các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở học sinh thiểu số

Nhiều yếu tố liên quan đến trầm cảm ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của học sinh dân tộc thiểu số. Các yếu tố kinh tế-xã hội như đói nghèo, thiếu tiếp cận dịch vụ giáo dục chất lượngphân biệt xã hội là những nguyên nhân chính. Áp lực học tập, lo lắng về tương laicảm giác cô lập cũng góp phần tăng nguy cơ mắc trầm cảm. Ngoài ra, yếu tố gia đình như bạo lực, thiếu thốn cũng là nguyên nhân gây ra trầm cảm đáng chú ý. Hiểu rõ những yếu tố gây trầm cảm này là bước đầu để phát triển chiến lược can thiệp hiệu quả.

2.1. Yếu tố kinh tế và xã hội

Điều kiện kinh tế khó khănnguyên nhân chính dẫn đến trầm cảm ở học sinh thiểu số. Học sinh phải đi làm thêm để kiếm sống, giảm thời gian học tập và nghỉ ngơi. Phân biệt xã hộikỳ thị dân tộc còn tồn tại khiến học sinh cảm thấy bị cô lập. Thiếu hụt nguồn lực trong trường học tại các vùng thiểu số cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm thần.

2.2. Yếu tố học tập và áp lực

Áp lực học tập là một yếu tố liên quan đến trầm cảm đáng kể. Học sinh dân tộc thiểu số phải vượt qua khó khăn về ngôn ngữ, khác biệt văn hóachương trình giáo dục không phù hợp. Kỳ vọng gia đình cao cùng với lo lắng về bỏ học tạo thêm áp lực tâm lý. Những học sinh này thường phải học mà không có hỗ trợ tâm lý hoặc dịch vụ tư vấn học tập.

III. Khả năng ứng phó với trầm cảm của học sinh thiểu số

Khả năng ứng phó là những chiến lược mà học sinh dân tộc thiểu số sử dụng để đối phó với tình trạng trầm cảm. Nghiên cứu cho thấy hiểu biết về trầm cảm càng cao thì khả năng ứng phó càng tốt. Tuy nhiên, nhiều học sinh thiểu số còn thiếu hiểu biết về các biện pháp tự giúp hiệu quả. Các hoạt động tự giúp mình như thể dục thể thao, hoạt động xã hộikỹ năng quản lý căng thẳng là những cách ứng phó hiệu quả. Ngoài ra, sự hỗ trợ từ gia đình, bạn bènhà trường đóng vai trò quan trọng trong khả năng ứng phó của học sinh.

3.1. Các biện pháp tự giúp hiệu quả

Các hoạt động tự giúp mình (self-help) bao gồm thể dục thể thao đều đặn, duy trì sở thích cá nhânthực hành thiền hoặc yoga. Giao tiếp xã hội với bạn bè và gia đình giúp giảm cảm giác cô lập. Học sinh cần được hướng dẫn về kỹ năng quản lý cảm xúckỹ năng đối phó với áp lực. Tự chăm sócduy trì lối sống lành mạnh là những yếu tố quan trọng.

3.2. Hỗ trợ từ gia đình nhà trường và cộng đồng

Sự hỗ trợ từ gia đình là nền tảng của khả năng ứng phó hiệu quả. Nhà trường cần cung cấp dịch vụ tư vấn tâm lýcác chương trình hỗ trợ học sinh. Cộng đồng địa phương nên tổ chức các hoạt động hỗ trợ sức khỏe tâm thầnnâng cao nhận thức về trầm cảm. Các thầy cô giáo được đào tạo về nhận biết triệu chứng trầm cảm có thể phát hiện sớmcan thiệp kịp thời.

IV. Giải pháp can thiệp và hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số

Để giải quyết vấn đề trầm cảmhọc sinh dân tộc thiểu số, cần một cách tiếp cận toàn diện. Nâng cao hiểu biết về trầm cảm trong cộng đồng thông qua các chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần là bước quan trọng. Nhà trường cần tuyển dụng nhân viên tâm lý học lâm sàngcung cấp dịch vụ tư vấn. Chính sách giáo dục cần được điều chỉnh để giảm áp lựchỗ trợ học sinh thiểu số. Các tổ chức xã hội nên phối hợp với cộng đồng địa phương để tổ chức các hoạt động hỗ trợ. Cuối cùng, nghiên cứu tiếp tục về trầm cảm ở học sinh thiểu số là cần thiết để cải tiến chiến lược can thiệp.

4.1. Các chương trình giáo dục sức khỏe tâm thần

Các chương trình giáo dục nên được thiết kế phù hợp với bối cảnh văn hóa của học sinh dân tộc thiểu số. Nội dung giáo dục cần nhấn mạnh về nhận biết triệu chứng trầm cảm, nguyên nhâncách ứng phó. Nhà trường nên mời các chuyên gia tâm lý để giảng dạytư vấn cho học sinh. Các hoạt động tương tác giúp học sinh hiểu biết sâuáp dụng kiến thức vào cuộc sống.

4.2. Xây dựng hệ thống hỗ trợ bên trong và ngoài nhà trường

Nhà trường cần thành lập đội ngũ hỗ trợ bao gồm giáo viên chủ nhiệm, nhân viên y tếtâm lý học viên. Đường dây nóng để tư vấn tâm lý nên được thiết lập cho học sinh. Ngoài nhà trường, cộng đồng địa phươngcác tổ chức xã hội cần cung cấp dịch vụ tâm lý miễn phí hoặc giá rẻ. Chương trình hỗ trợ gia đình giúp cha mẹ hiểu rõ hơn về sức khỏe tâm thần con em họ.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CO SỞ LÝ LUẬN VÈ HIÉU BIẾT VÈ TRÀM CẢM VÀ KHẢ NĂNG ỦNG PHÓ CỦA HỌC SINH DÂN Tộc THIẾU SỐ r > 1. Tỗn quan vân đê nghiên cứu 1. Tồng quan nghiên cứu về tỷ lệ trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên Trên thế giới có gần 15% trẻ trong độ tuổi 10-19 mắc rối loạn tâm thần, chiếm 13% gánh nặng bệnh tật toàn cầu ở nhóm tuổi này (WHO, 2021). Năm 2016, gần 20% trẻ em ở Hoa Kỳ từ 2-8 tuổi (chiếm 17.4%) được chẩn đoán mắc rối loạn tâm thần, hành vi hoặc phát triển (Cree và cộng sự, 2018).

Trong năm 2018-2019, khoảng 15% trẻ vị thành niên từ 12-17 tuổi trải qua giai đoạn trầm cảm nặng, 37% có cảm giác buồn bã hoặc tuyệt vọng dai dắng và gần 20% báo cáo ràng họ đã cân nhắc việc tự tử (Bitsko và cộng sự, 2022). Một nghiên cứu do Cơ quan Quản lý Tài nguyên và Dịch vụ Y tê (Health Resources and Services Administration - HRSA) thực hiện cho thấy, từ năm 2016 đến năm 2020, số trẻ em từ 3-17 tuổi được chẩn đoán mắc rối loạn trầm cảm đã tăng 27% (Lebrun-Harris và cộng sự, 2022). Tỷ lệ trầm cảm nặng được ước tính là khoảng 2% ở trẻ em và 4% đến 8% ở vị thành niên (Cree và cộng sự, 2018). Các bé trai và bé gái trước tuồi vị thành niên đều bị ảnh hưởng bởi tình trạng này như nhau, nhung ở vị thành niên, trầm cảm phố biến ở các bé gái hơn các bé trai.

Đối với các bé gái vị thành niên từ 12-17 tuồi, số ca trầm cảm đã gia tăng mạnh mè và liên tục kể tù năm 2009. Tuổi tác và mức độ nghèo đói ảnh hưởng đến khả năng trẻ em được điều trị rối loạn lo âu, trầm cảm hoặc các vấn đề về hành vi (Ghandour và cộng sự, 2019). Tại Hoa Kỳ ước tỉnh khoảng 2,7 triệu trẻ em từ 3-17 tuổi được chẩn đoán (khoảng 4.4%) trầm cảm trong giai đoạn 2016-2019, tỷ lệ trẻ “Từng được chẩn đoán mắc trầm cảm trong độ tuổi từ 6-17 tuổi tăng từ 8% trong năm 2007 lên 8. Trong đó có r •> \ khoảng 1/5 sô trẻ từ 12-17 tuôi (20.9%) đà từng trải qua giai đoạn trâm cảm nghiêm trọng (Bitsko, 2022).

Ớ trẻ em và vị thành niên, nguy cơ có các triệu chứng trầm cảm 13 và rối loạn trầm cảm cao hơn được tìm thấy đối với một số nhóm dân tộc thiểu số Hoa Kỳ (Merikangas và cộng sự, 2010; Wagstaff và Polo, 2012). Kết quả nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy trẻ em dân tộc thiếu số có nguy cơ mắc trầm cảm (14.92%) cao hơn đáng kế so với trẻ em người Hán (11.61%) ở khu vực nông thôn (Mi Zhou và cộng sự, 2018). Ngoài ra, có sự gia tăng các giai đoạn trầm cảm nặng ở thanh thiếu niên ở tất cả các nhóm dân tộc và nơi cư trú. Từ năm 2008 đến 2019, tỷ lệ trẻ từ 12-17 tuổi mắc giai đoạn trầm cảm nặng được điều trị trong 12 tháng qua và thống kê theo dân tộc cho thấy ở trẻ em da trắng không phải gốc Tây Ban Nha tỷ lệ đã tăng từ 43.

Vào năm 2020, tỷ lệ ở vị thành niên Da trắng không phải gốc Tây Ban Nha là 49.1% và tỷ lệ ở vị thành niên gốc Tây Ban Nha là 37% (Bitsko và cộng sự, 2022). Từ năm 2009 đến 2019, tại các khu vực ngoại thành tỷ lệ vị thành niên từ 12-17 tuổi ở giai đoạn trầm cảm nặng được điều trị trong 12 tháng qua đã tăng từ 34. Ờ các khu vực không phải trung tâm, tỷ lệ này đã tăng từ 37. Tại các khu vực đô thị lớn ở trung tâm, tỷ lệ đã tăng từ 32.

Một báo cáo tống quan về tỷ lệ trầm cảm ở học sinh ở Tran đã hệ thống và phân tích tống hợp trong 51 nghiên cứu với mẫu gồm 537144 người tham gia. Báo cáo này chỉ ra rằng tỷ lệ trầm cảm ở học sinh Iran là 37%. Trong đó, tỷ lệ trầm cảm ở học sinh nữ là 45% và ở học sinh nam là 28%. Tỷ lệ trầm cảm nhẹ, trung bình và nặng ở học sinh lần lượt là 31%, 18% và 11%.

Ngoài ra, tỷ lệ trầm cảm ở học sinh tiểu học là 12%, học sinh trung học cơ sở là 32%, học sinh trung học phố thông là 47% và học sinh dự bị đại học là 46% (Karimi và cộng sự, 2021). Các nghiên cứu được thực hiện ở Uganda, Malaysia và Nigeria đều đưa ra tỷ lệ trầm cảm ở trẻ em tương đối giống nhau. Năm 2016, nghiên cứu ở Uganda trên 519 học sinh vị thành niên ở 4 trường trung học ở quận Mukono, Uganda. Hình thức chăm sóc của 4 trường đó là: trường nội trú hồn hợp (nam và nữ); trường ngoại trú (hỗn hợp nam và nữ); trường nội trú dành cho nữ; và trường nội trú dành cho nam.

Trong số HS tham gia nghiên cứu, có 301 (58%) bé trai và 218 (42%) bé gái ở độ tuổi 14-16. Trong số 519 người tham gia được sàng lọc bằng Bảng kiểm kê trầm cảm 14 ở trẻ em (Children’s Depression Inventory - CDI), 109 trẻ (21%) có các triệu chứng trầm cảm đáng kế. Trong số những người tham gia được đánh giá bằng cả Bảng kiểm kê trầm cảm ở trẻ em - CDI và Bảng Phỏng vấn thần kinh quốc tế phiên bản thu gọn dành cho trẻ em và trẻ vị thành niên phiên bản 2.0 (Mini International Neuro- Psychiatric Interview for Children and Adolescents 2.0 - MINI-KID) (n = 484), tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm là 2. Trong mẫu này, có 15 trẻ (3.1 %) cho biết chúng đang có ý định tự tủ’ (Nalugya-Sserunjogi và cộng sự, 2016).

Khảo sát Sức khỏe và Bệnh tật Quốc gia (National Health and Morbidity Survey - NHMS) đà tiến hành khảo sát sức khoe vị thành niên trên toàn quốc do Bộ Y tế Malaysia thực hiện năm 2017. Đối tượng kháo sát là HS trong độ tuổi 13-17 tuổi là người DTTS. Có 8 230 người tham gia nghiên cứu và các nội dung được sừ dụng để phân tích. Kết quả chỉ ra rằng tỷ lệ học sinh mắc trầm cảm chiếm 21.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá mức độ phổ biến và mối tương quan của các triệu chứng trầm cảm trong số trẻ vị thành niên đang đi học ở một huyện vùng nông thôn phía tây nam Nigeria có tống cộng 1713 HS tham gia nghiên cứu đến từ 4 trường tư thực và 3 trường công lập, với phần lớn (72.4%) đến tù' các trường trung học công lập, trong đó chưa đến một nửa số người tham gia là trẻ nam 766 (44.9%) HS ở nhóm tuổi vị thành niên sớm (10-13 tuổi), 200 (11.7%) HS ở nhóm tuổi vị thành niên muộn (17-19 tuổi). Điểm PHQ-9 trung bình là 5 và mức độ phổ biến của các triệu chứng phù hợp với rối loạn trầm cảm là 21. Tuy nhiên, cũng có nhiều nghiên cứu đưa ra kết quả có tỷ lệ trẻ trầm cảm thấp hơn. Nghiên cứu ở một vùng nông thôn phía Tây Nam Nigeria vào năm 2018 trên tổng số học sinh của sáu trường trung học là 1771 bao gồm 1104 HS THCS và 667 HS THPT.

Ớ nghiên cứu này, tác giả sử dụng Bảng điều tra sức khỏe người bệnh - dành cho vị thành niên (Patient Health Questionnaire-Adolescents - PHQ-A). Kết quả chỉ ra rằng tỷ lệ trầm cảm trong tổng số người tham gia nghiên cứu là 16. Trong đó nhóm trên 15 tuổi có tỷ lệ mắc trầm cảm cao hơn (23.1%) so với nhóm 13 - 15 tuổi (13. Trẻ vị thành niên nữ có tỷ lệ mắc trầm cảm cao hơn (19.9%) so với nam (12.

HS ở trường công lập có tỷ lệ mắc trầm cảm 15 cao hơn (18%) so với HS ở trường tư thục (14. Một nghiên cứu cắt ngang năm 2012 về trầm cảm và các yếu tố liên quan ở HS THPT tỉnh Nonthaburi, Thái Lan. Có tồng số 479 HS tham gia đến từ 6 trường học, trong có 67.2% người tham gia khảo sát là nữ. Nghiên cúư thu được kết quả với tỷ lệ trầm cảm là 14.

Một nghiên cứu khác ở Hàn Quốc cũng cho tỷ lệ trầm cảm ở trẻ vị thành niên tương tự như các nghiên cứu trên. Trong số 1991 HS tham gia nghiên cứu, có 271 HS báo cáo trầm cảm, chiếm tỷ lệ 13. Mặt khác, kết quả nghiên cứu có tỷ lệ trầm cảm cao hơn so với các nghiên cúư trên được thực hiện ở Nepal, Quatar, Malaysia và Iran. Nghiên cứu về tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở vị thành niên THPT ở Pokhara Metropolitan, Nepal với tổng số khách thể tham gia là 312 HS.

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trầm cảm cao ở HS, với hơn 2/5 (44.2%) HS mắc trầm cảm.3%) số học sinh được ghi nhận mắc trầm cảm nhẹ và 18,9% số HS biểu hiện trầm cảm nặng (Bhattarai và cộng sự, 2020). Một nghiên cứu khác ở Quatar vào năm 2017 trên tổng số 797 người tham gia. Có gần 1/3 HS ở các trường của Quatar mắc trầm cảm, chiếm 34. Điều này phù hợp với nhiều nghiên cứu quốc tế được thực hiện ở vị thành niên như trong nghiên cứu của Malaysia, cho thấy tỷ lệ trầm cảm là 39.7% (Osborn và cộng sự, 2020) và nghiên cứu của Iran cho tỷ lệ trầm cảm là 31.

Trẻ nữ có nhiều khả năng mắc trầm cảm hơn trẻ nam (Kaabi và cộng sự, 2017). Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt giữ tỳ lệ trầm cảm ở trẻ vị thành niên có thế là do sự khác biệt trong công cụ sàng lọc. Như là Thang đánh giá trầm cảm Beck (Beck's Depression Inventory - BDĨ) được sử dụng ở Nigeria (Karimi và cộng sự, 2021) và Thang đánh giá Trầm cám, Lo âu, Càng thẳng phiên bản rút gọn (Depression Anxiety and Stress Scale-21 - DASS-21) trong một nghiên cứu ở Malaysia (Cheah và cộng sự, 2021), ở Uganda sử dụng Bảng kiểm kê trầm cảm ở trẻ em - (Children’s Depression Inventory - CDI và Bảng Phỏng vấn thần kinh quốc tế thu gọn dành cho trẻ em và trẻ vị thành niên phiên bản 2.0 (Mini International Neuro-Psychiatric 16 Interview for Children and Adolescents 2. Sự khác biệt có thể do kích thước mẫu hoặc sự khác biệt về vàn hóa giữa các quốc gia khác nhau.

Theo Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1, tỷ lệ mắc 10 rối loạn tâm thần phổ biến trong năm 2014 là 14.2%, trong đó riêng rối loạn trầm cảm chiếm 2. Tỷ lệ tự sát trong năm 2015 là 5. Ở mẫu sinh viên miền núi 20-28 tuổi là người dân tộc thiểu có tỷ lệ rối loạn trầm cảm chiếm 8.72%, với mẫu dân tộc ít người ở trường nội trú tuồi từ 14-19 có tỷ lệ trầm cảm là 23.33% và có liên quan nhiều đến sức ép học tập (Trần Viết Nghị, Nguyễn Văn Siêm, 2002).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ