CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CUA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đang dần trở thành mối quan tâm chung của quốc tế, của các quốc gia và của đa số các doanh nghiệp trên thế giới. Vì vậy, nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) cũng nhận được sự quan tâm rất lớn của giới học thuật trong hàng chục thập kỉ qua.
Có rất nhiều nghiên cứu về CSR nói chung và mối quan hệ giữa việc thực hiện CSR với kết quả hoạt động của doanh nghiệp, với sự trung thành và gắn bó của người lao động. Một số nghiên cứu thì tập trung tìm hiểu mối quan hệ giữa việc thực hiện CSR với giá trị thương hiệu và lòng trung thành của khách hàng. Có thé ké đến một số nghiên cứu như sau: Mathew (2006) bàn về tầm quan trọng của CSR trong doanh nghiệp như: Các quy định kinh doanh toàn cầu mới- sự hiểu biết của công ty về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, thực hành CSR đáp ứng lý thuyết quản tri toàn cầu và mạng lưới chính sách công cộng toàn cầu. Collier và Esteban (2007) tìm hiểu mối quan hệ giữa CSR và sự cam kết của nhân viên.
Hai tác giả này đã tổng hợp và phân tích các kết quả nghiên cứu lý thuyết cũng như nghiên cứu thực nghiệm trước đây về CSR, động lực và sự cam kết của nhân viên để chỉ ra rằng hiệu quả của các hoạt động CSR phụ thuộc vào mức độ tham gia của nhân viên mà trong khi mức độ tham gia nay thì lại chịu ảnh hưởng của các yêu tố hoàn cảnh và nhận thức của NLĐ. Theo Collier và Esteban, tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp xuyên quốc gia phải chịu trách nhiệm về những quy tắc ứng xử đạo đức của họ mà còn phải chịu trách nhiệm về ảnh hưởng của nó gây ra cho các bên liên quan hiện tại và các thế hệ tương lai. Vì vậy, CSR muốn được thực thi có hiệu quả thì doanh nghiệp cần thúc đây và tạo được sự cam kết của nhân viên. Sự cam kết này sẽ rất quan trọng khi doanh nghiệp hoạt động trong các bối cảnh văn hóa khác nhau.
Ngoài ra, cũng theo hai tác giả này, nếu doanh nghiệp chỉ có bản tuyên bố sứ mệnh và bộ quy tắc ứng xử thôi thì vẫn chưa đủ mà cần khiến những quy tắc đạo đức đó được ngắm sâu vào văn hóa của doanh nghiệp cũng như ngắm vào tâm trí và trái tim của mọi thành viên trong doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) lần đầu tiên được thực hiện trong ngành du lịch vào cuối những năm 1990 bởi các tập đoàn khách sạn quốc tế. Nhiều chuỗi khách sạn quốc tế đã tích hợp các biện pháp CSR, chăng hạn như Marriott International với chương trình "Spirit to Serve Our Communities" hoặc "Street Children" của NH Hoteles. Ngày nay, nhiều chuỗi khách sạn xuất bản các báo cáo CSR hàng năm trên các trang web của họ (ví dụ như Accor, Hilton Hotel Tổng công ty, Khách san Inter Continental, Khách sạn NH, Banyan Tree, Club Méditerranée.
Một loạt các công cụ tự nguyện hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động CSR. Điều này bắt đầu với việc thiết lập nguyên tắc CSR trong tầm nhìn của công ty, dựa vào sự hỗ trợ của ban quản lý và nhân viên. Các chương trình CSR hoặc các quy tắc ứng xử, chang hạn như chương trình Khách Sạn Trái Dat của Accor Hotels, các cuộc thi dành cho các hoạt động du lịch sinh thái và có trách nhiệm với xã hội như EcoTrophea, giải thưởng môi trường quốc tế của Hiệp hội Du lịch Đức (DRV). Các biện pháp CSR của các doanh nghiệp du lịch bao gồm việc sử dụng có trách nhiệm tài nguyên tự nhiên và văn hoá; giảm thiểu ô nhiễm và chất thải; bảo tồn cảnh quan, đa dạng sinh học và di sản văn hoá; công băng và có trách nhiệm đối với nhân viên, nhà cung cấp và khách; sử dụng hợp ly các sản phẩm va dich vụ địa phương; cũng như sự tham gia và hợp tác với cộng đồng địa phương để nâng cao chất lượng cuộc sông của người dân địa phương.
Rachel Dodds và Marion Joppe (2005) trong báo cáo của mình đã chỉ ra rằng ngành du lịch trên toan thế giới hiện có 760 triệu người và tài khoản tương đương một phần mười việc làm trên toàn cầu. Ở hầu hết các nước, đặc biệt là các nước có thu nhập thấp, du lịch được xem là một lựa chọn khả thi cho tăng trưởng kinh tế, nhưng những thực tiễn du lịch không bền vững hiện nay có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ và phúc lợi của môi trường và cộng đồng. Ở nhiều nước thu nhập thấp du lịch có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế và du lịch đường dài đang phát triển tại tốc độ nhanh nhất (tăng gấp đôi từ năm 1997-2001). Trong hầu hết các ngành công nghiệp, các tiêu chuẩn và thực tiễn về CSR đã được xây dựng dé đáp ứng với áp lực bên ngoài.
Tuy nhiên trong du lịch, việc sử dụng các quy tắc ứng xử và chứng nhận không phô biến rộng rãi và không dựa trên các thỏa thuận quốc tế tiêu chuan. Khó có thé khái quát hóa về CSR mà không cần xem xét bối cảnh trong đó du lịch bền vững hoạt động, nhu cầu của nó và cũng đánh giá nhiều chương trình chứng nhận, quy tắc ứng xử và thực tiễn tốt nhất trong ngành tìm hiểu mối quan hệ giữa CSR và sự cam kết của nhân viên. Hai tác giả này đã tong hợp và phân tích các kết quả nghiên cứu lý thuyết cũng như nghiên cứu thực nghiệm trước đây, kết luận 3 điểm như sau. Thứ nhất, có rất ít nhu cầu đối với du lịch bền vững, cần phải nghiên cứu thêm dé xác định xem các sản phẩm hay dịch vụ có thé được chuyển đổi dé bao gồm tính bền vững hơn hay không.
Nếu người tiêu dùng và ngành công nghiệp được định hướng bởi giá cả thì cần phải suy nghĩ lại về chiến lược bao gồm tính bền vững trong phạm vi hiện tại cấu trúc chi phí. Thứ hai, còn ít các báo cáo, chứng nhận về sự thành công hay sự cô găng thực hiện của các doanh nghiệp kinh doanh du lich. Cần tiếp tục phát triển khái niệm chứng nhận quốc tế cho ngành du lich bao gồm (môi trường, xã hội, văn hoá.) theo dõi và báo cáo liên tục. Thứ ba, CSR có thê giúp giải quyết một số các vấn đề mà du lịch phải đối mặt với việc thúc đây các hoạt động du lịch bền vững, tuy nhiên, ngành công nghiệp cần kêu gọi cả sự tham gia và hỗ trợ của chính phủ nếu muốn tăng sự sức ảnh hưởng của CSR.
Chính phủ cần có những biện pháp để hỗ trợ và trấn an các nhà đầu tư trong ngành du lịch rằng chính phủ sẽ hỗ trợ và khuyến khích quản lý và phát triển du lịch bền vững, đây là động lực và cam kết dé những người làm việc trong ngành cũng như các khách hang sử dung sam phẩm dich vụ hiểu rằng hiệu quả của các hoạt động CSR phụ thuộc quan trọng vào mức độ tham gia của họ. Nhóm tác gia Andrea Ettinger, Sonja Grabner-Krauter, Ralf Terlutter (2018) dua ra ba cach tiép cận xem xét việc thực hiện CSR của các khách sạn bao gồm thông tin công bố hoạt động CSR trên trang web của họ, cách khách hàng nhận xét về cam kết CSR của khách sạn trong đánh giá trực tuyến và cách khách sạn phản hồi các đánh giá trực tuyến. Các chiến lược truyền thông CSR , phản hồi và sự tham gia của các bên liên quan của Morsing và Schultz (2006) đã được sử dụng làm khung khái niệm. Nhóm tác giả dựa trên trên mẫu của 47 khách sạn được chứng nhận bởi CSR của Áo, nghiên cứu đầu tiên đã khám phá mức độ khách sạn liên lạc các hoạt động CSR với các bên liên quan thông qua trang web của họ.
Nghiên cứu thứ hai đã phân tích 1383 đánh giá trực tuyến của khách hàng về cùng một khách sạn trên TripAdvisor® liên quan đến tài liệu tham khảo CSR. Nghiên cứu thứ ba phân tích phản ứng của khách sạn đối với các đánh giá trực tuyến. Kết quả cho thấy các vẫn đề môi trường và quan hệ nhà cung cấp nhận được sự quan tâm cao nhất từ các khách sạn và đánh giá của khách hàng. Quan hệ nhân viên ít được truyền đạt và giải quyết trong các bài đánh giá.
Ba nghiên cứu khám phá các cơ hội để tăng cường tích hợp các bên liên quan trong các chiến lược truyền thông và cam kết của CSR. Nghiên cứu này đã chỉ ra các bằng chứng cho thấy việc thực hiện các công việc truyền thông liên quan đến CSR trên webside và các công cụ online như các trang web đánh giá du lịch có tác dụng rất lớn đến việc nhìn nhận của khách hàng về các khách sạn nhỏ, mang lại lợi ích lớn cho bản thân doanh nghiệp cũng như động lực thúc đây các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lưu trú cam kết thực hiện CSR. đúng VỚI gia tri mang lại. Tinh hình nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, vẫn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) đã được biết đến từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX.
Ké từ đó đến nay có rất nhiều bài nghiên cứu về CSR. Tuy nhiên, những nghiên cứu về CSR chưa mang tính hệ thống. Những nghiên cứu về CSR được công bố chính thức trên các tạp chí chuyên ngành hay báo cáo của các tổ chức phi chính phủ, có một số bai viết về CSR cũng được đăng tải trên các tạp chí điện tử, diễn đàn về CSR chưa được hệ thông, và chat lọc lại thành những bài học cho các doanh nghiệp làm tài liệu tham khảo. Các bài viết chủ yếu hướng đến việc làm rõ phạm trù CSR và chỉ ra những lợi ích của CSR đối với doanh nghiệp ở góc độ lý luận.
Những công trình nghiên cứu về CSR nội bộ và sự hài lòng của nhân viên còn rất ít.