Phần mở đầu, giới thiệu lý do chọn đề tài, xác định mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, từ đó đưa ra những dự kiến đóng góp của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận, tổng quan các nghiên cứu liên quan về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội và mối quan hệ của công bồ thông tin trách nhiệm xã hội đối với hiệu suất doanh nghiệp, từ đó phát triển xây dựng giả thuyết nghiên cứu ở thị trường Việt Nam. Chương 3: Xây dựng các mô hình nghiên cứu liên quan dé xác định tác động của công bồ thông tin trách nhiệm xã hội đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Chương 4: Thảo luận về các kết quả nghiên cứu thực hiện sau khi chạy các mô hình Chương 5: Kết luận và kiến nghị cho các doanh nghiệp, công ty kiểm toán và các bên liên quan.
CƠ SỞ LÝ LUẬN, TONG QUAN NGHIÊN CỨU VA XÂY DỰNG GIA THUYET NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu 2. Hiệu quả hoạt động kinh doanh Mỗi doanh nghiệp, don vi sản xuất kinh doanh hoạt động trong nền kinh tế thị trường, dù là hoạt động dưới bất kỳ hình thức sở hữu nào (Doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp Nhà nước), nhìn chung trong dai hạn đều nhằm mục tiêu bao trùm là tăng trưởng bền vững và mở rộng quy mô (Schobera & Kuhn, 2006). Dé thực tế hóa các mục tiêu đó, trong ngắn han và trung hạn doanh nghiệp cần xây dựng một chiến lược sản xuất kinh doanh hiệu quả và củng cố vị thế của mình trên sân chơi nước nhà cũng như quốc tế.
Do vậy, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh luôn là công cụ các công ty quan tâm, nghiên cứu và tìm phương pháp hiệu chỉnh dé tối đa hóa. Theo nhà triết học, kinh tế học người Anh, Adam Smith (1776), ông quan niệm rằng: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, doanh thu tiêu thụ hàng hóa” (Kinh tế thương mại dịch vụ, nhà xuất bản Thống kê, 1998). Cách tiếp cận này đã đồng nhất hiệu quả hoạt động với chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động dựa trên số lượng sản phẩm hàng hóa tiêu thụ đầu vào nhưng lại bỏ qua sự tác động đáng ké của yếu tổ chi phí về các nguồn lực sản xuất. Nhà kinh tế học Manfred Kuhn nghiên cứu và cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của phần kết quả và phần tăng thêm của chỉ phí” (Schobera & Kuhn, 2006).
Quan điểm nay phan nào kế thừa va khắc phục được mặt hạn chế trong quan điểm của Adam Smith khi chỉ rõ được mối quan hệ tương đối giữa kết quả sản xuất và chỉ phí tiêu hao. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa xem xét đến chỉ phí và kết quả ban đầu nên chỉ đánh giá được một phần mà không phải toàn bộ hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 17 Tại Việt Nam, để phục vụ cho công tác nghiên cứu và hoạt động thực tiễn của cá nhân, tổ chức, các tác giả Việt đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc đưa ra những quan điểm về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngô Đình Giao (1997) đã từng viết trong cuốn Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp: “Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp cũng như các nguồn lực của nền kinh tế để thực hiện các mục tiêu đã đề ra.” Theo nghiên cứu của tác giả Trương Bá Thanh (2009), ông cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh.
Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của mỗi doanh nghiệp”. Với một cách tiếp cận khác thì cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế-xã hội tổng hợp để lựa chọn các phương án hoặc các quyết định trong quá trình hoạt động thực tiễn ở mọi lĩnh vực kinh doanh và tại mọi thời điểm. Bất kỳ các quyết định cần đạt được phương án tốt nhất trong điều kiện cho phép, giải pháp thực hiện có tính cân nhắc, tính toán chính xác phù hợp với sự tất yéu của quy luật khách quan trong từng điều kiện cụ thể”. (Đỗ Hoàng Toàn, 1994) Nhìn chung những quan điểm trên đều chỉ ra rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh là chỉ tiêu phản ánh mức độ thu lại được kết quả tương ứng với nguồn lực phải bỏ ra.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đồng ý với cách tiếp cận của tác giả Đỗ Hoàng Toàn (1994). Như vậy, khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa sự tối ưu hóa các phương án sử dụng nguồn lực và sự tối thiêu hóa chỉ phí bỏ ra trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh 18 Mặc dù hiệu quả hoạt động công ty là mối quan tâm trung tâm nhưng thực tế sự đồng nhất ý kiến về định nghĩa và cách đo lường của nó vẫn chưa được chứng minh (Devinney & Yip, 2010). Đánh giá hoạt động của công ty dường như là một khái niệm da chiều bao gồm các thành phan lý thuyết và kinh nghiệm khác nhau.
Vì vậy, nghiên cứu của Ferreira và Otley (2009) hay Giovannoni và Pia Maraghini (2013) khuyến khích thay vì chỉ tập trung vào các khía cạnh cụ thể của hoạt động của doanh nghiệp, các học giả nên áp dụng nhiều cách tiếp cận toàn diện và sáng tạo hơn. Theo Melnyk và cộng sự (2014) khi tìm hiểu về sự phù hợp của phép đo lường hiệu suất hoạt động và quản trị doanh nghiệp, trong thế giới đầy biến động ngày nay, những thay đổi trong môi trường kinh doanh hoặc chiến lược công ty có thể tạo ra nhu cầu chuyên đôi các thước đo hoạt động. Thực tế, nhiều tác giả tiếp tục áp dụng các phép đo hiệu suất truyền thống, nơi mà tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) (Zaid, Wang, Abuhijleh, Issa, & Saleh, 2020), ty suat sinh lời trên vốn chu sở hữu (ROE) (Anh, 2020) và tỷ suất sinh lời trên doanh thu (PBT) (Aggarwal, P., 2016) dường như là những đại lượng phổ biến nhất được các học giả lựa chọn. Đặc biệt, nhiều bài nghiên cứu đã kết hợp sử dụng thước đo ROA và ROE đề đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong nước và quốc tế (Khatib, 2021), (Shen, Fu, Pan, & Yu, 2020).
ROA, được định nghĩa là thu nhập ròng chia cho tổng tài sản trong cùng kỳ tài chính, cho thấy lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh được tạo ra từ việc đầu tư tài sản (Epps & Cereola, 2008) và hợp nhất lợi nhuận với hiệu quả hoạt động của công ty. ROA là thước do tài chính được sử dụng phổ biến (Kim Y. , 2005) và đại diện cho kha năng hoạt động thực tiễn của một doanh nghiệp (Ponmu, 2008). ROE, được định nghĩa là thu nhập ròng chia cho tổng vốn chủ sở hữu trong cùng kỳ tài chính, cho thấy lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh từ việc tối ưu hóa khoản đầu tư từ các cô đông.
ROE cũng là một thước đo tài chính đáng tin cậy và hữu ích cho các bên liên quan khi đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty trong cả ngắn hạn và dài hạn (Brealey & Myers, 2000). 19 Vì vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng ROA và ROE là thước đo hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2022. Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR: Corporate Social Responsibility) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự đảm bảo của doanh nghiệp về việc đóng góp cho sự phát triển bền vững, thông qua nhiều hoạt động nhằm cải tiến chất lượng cuộc sống của người lao động, của cộng đồng và của toàn xã hội theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như vì sự phát triển chung của xã hội. Trách nhiệm xã hội đề cập đến sự mong đợi của xã hội về trách nhiệm pháp lý, kinh tế, đạo đức và từ thiện đối với xã hội (Carroll, 1979).
Theo Davis và Blomstrom (1975) (Davis, 1975), trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là nghĩa vụ mà các doanh nghiệp thực hiện với mục đích bảo vệ và nâng cao phúc lợi của xã hội hay còn được coi là tăng lợi ích cho doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội giúp doanh nghiệp tối đa hóa tác động tích cực của doanh nghiệp đối với xã hội nhằm đáp ứng và thậm chí vượt quá sự mong đợi của pháp luật, đạo đức và công chúng (Clarkson, 1995). Các thập niên 1970 được coi là thập kỷ mà CSR thực sự được chú ý (Kalva, 2016). Những tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội đã đặt ra đáng ké thách thức đối với các công ty trong việc thực hành CSR ở các nước đang phát triển các nước châu Á trong đó có Việt Nam.
Phạm vi của trách nhiệm xã hội là một chuỗi liên tục và phân loại trách nhiệm xã hội thành bốn loại gồm trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm từ thiện (Caroll, 1991). Đầu tiên, một công ty dự kiến sẽ đáp ứng trách nhiệm kinh tế của mình. Thật vậy, mục đích chính của một doanh nghiệp là tạo ra và duy trì lợi nhuận doanh nghiệp bền vững bang cách tạo ra và cung cấp các sản phẩm và dich vụ cần thiết cho xã hội. Nhiệm vụ thiết yếu thứ hai cần có của một công ty là trách nhiệm pháp lý.
Khi các doanh nghiệp hoạt động trong ranh giới pháp lý và được bảo vệ bởi biên giới quốc gia, họ phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định do chính phủ tương ứng đặt ra và phải minh bạch với công chúng cũng như với các bên liên quan. Mặt khác, trách nhiệm 20 đạo đức của một công ty, chăng hạn như các sự kiện hỗ trợ xã hội, có thể được coi là một tập hợp các lý tưởng mà nếu tuân theo sẽ tạo ra thặng dư xã hội, nhưng không bắt buộc. Cuối cùng, một công ty được kỳ vọng sẽ thực hiện trách nhiệm tự nguyện của mình, nghĩa là tham gia vào các hoạt động từ thiện như hỗ trợ tiền tệ cho những người có hoàn cảnh khó khăn trong xã hội.