Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Trách nhiệm sản phẩm của nhà cung ứng hàng hóa theo pháp luật Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Lại Sơn Tùng, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Mai Thanh, chuyên ngành Luật kinh tế (mã số 9 38 01 07) tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Hà Nội, 2024).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong bối cảnh nền sản xuất hiện đại được tự động hóa và sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trách nhiệm sản phẩm (TNSP) được xác định là công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng (NTD) và xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh. Trong mối quan hệ với nhà cung ứng hàng hóa (CƯHH), NTD luôn ở vị thế yếu thế do tình trạng bất cân xứng thông tin và sự phân đoạn, tách rời của chuỗi sản xuất - phân phối - tiêu thụ, khiến NTD không thể kiểm soát chất lượng từ đầu vào đến lưu thông. Khi sản phẩm có khuyết tật phát sinh nguy cơ gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe và tính mạng, NTD khó nhận biết bằng hiểu biết thông thường.

Theo số liệu từ Báo cáo thường niên (2011–2023) của Ủy ban Cạnh tranh quốc gia (tiền thân là Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng), cơ quan này đã tiếp nhận, xử lý và giám sát 190 vụ việc thu hồi sản phẩm có khuyết tật. Thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam cho thấy nhiều nhà CƯHH chối bỏ trách nhiệm do thiếu chế tài xử phạt đủ mạnh; đồng thời các quy định pháp luật còn chồng chéo, chưa đầy đủ và thiếu tính khả thi.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: Các công trình khoa học trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận TNSP của chủ thể kinh doanh nói chung hoặc TNSP của nhà sản xuất nói riêng, chưa phân định rành mạch giữa TNSP của nhà sản xuất và TNSP của nhà CƯHH, đồng thời chưa có công trình nghiên cứu toàn diện, riêng biệt về TNSP của nhà CƯHH theo pháp luật Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những luận cứ khoa học và đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật nhằm đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về TNSP của nhà CƯHH ở Việt Nam.

Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan, đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, chỉ ra kết quả kế thừa và nhận diện khoảng trống nghiên cứu.
  2. Làm rõ những vấn đề lý luận về TNSP và lý luận pháp luật về TNSP của nhà CƯHH (khái niệm, đặc điểm, phân biệt với trách nhiệm xã hội và trách nhiệm của nhà sản xuất, nhu cầu điều chỉnh, nguồn và nội dung pháp luật).
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về TNSP của nhà CƯHH ở Việt Nam, nhận diện các hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.
  4. Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về TNSP của nhà CƯHH trong giai đoạn hiện nay.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Luận án giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu và ba giả thuyết nghiên cứu tương ứng:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: Những vấn đề lý luận cốt lõi gắn với TNSP của nhà CƯHH là gì? Nội dung pháp luật và nguồn pháp luật điều chỉnh TNSP của nhà CƯHH bao gồm những thành tố và cơ sở nào?
    • Giả thuyết 1: Lý luận về TNSP của nhà CƯHH còn bỏ ngỏ một số khía cạnh cốt lõi cũng như các thành tố pháp luật và nguồn pháp luật điều chỉnh TNSP của nhà CƯHH chưa được nhận diện một cách đầy đủ, toàn diện.
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh TNSP của nhà CƯHH đã đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đối với TNSP của nhà CƯHH trong mối quan hệ với NTD hay chưa?
    • Giả thuyết 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn tổ chức thực hiện TNSP của nhà CƯHH còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản và quyền lợi hợp pháp khác cho NTD khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa do nhà CƯHH cung ứng trên thị trường.
  • Câu hỏi nghiên cứu 3: Những phương hướng và giải pháp nào để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về TNSP của nhà CƯHH ở Việt Nam hiện nay?
    • Giả thuyết 3: Các luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về TNSP của nhà CƯHH ở Việt Nam hiện nay chưa được nghiên cứu đầy đủ gắn với mục tiêu điều chỉnh pháp luật; cần xác định các phương hướng và giải pháp cụ thể trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện pháp luật về TNSP của nhà CƯHH ở Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Nghiên cứu pháp luật về TNSP của nhà CƯHH dưới góc độ là một bộ phận của pháp luật bảo vệ QLNTD và pháp luật bồi thường thiệt hại (BTTH). TNSP của nhà CƯHH được nghiên cứu gắn với nhà phân phối (chủ thể trực tiếp cung cấp hàng hóa đến tay NTD), vai trò của nhà sản xuất được xem xét dưới góc độ chủ thể chịu trách nhiệm liên đới. Đối tượng của TNSP giới hạn ở sản phẩm hữu hình (hàng hóa có khuyết tật), không bao gồm sản phẩm dịch vụ.
    • Về không gian: Phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
    • Về thời gian: Từ khi ban hành Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đến năm 2024.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan hệ thống tài liệu trong nước và quốc tế theo ba nhóm vấn đề chính:

Nhóm vấn đề Các công trình và tác giả tiêu biểu Nội dung học thuật đã đạt được
Lý luận về TNSP và pháp luật TNSP Lê Hồng Hạnh (2010, 2013), Đoàn Tử Tích Phước (2009), Đinh Thị Mai Phương (2008), Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Nguyễn Văn Cương (2010), Nguyễn Thị Hải Hà (2010), Nguyễn Tiến Hùng (2020), Nguyễn Trường Ngọc (2022), Chu Đức Nhuận (2012); A. M. Polinsky & S. Shavell (2010), P. S. Dempsey (2014), S. Whittaker (2010), Frumer, Friedman & Sklaren, Marshall S. Shapo (1993), Zhen He & Hong Liu. Xác định TNSP là trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra, không phụ thuộc vào yếu tố lỗi (trách nhiệm nghiêm ngặt). Làm rõ các học thuyết nền tảng (bất cẩn, vi phạm nghĩa vụ bảo đảm, trách nhiệm nghiêm ngặt) và cấu trúc pháp luật TNSP.
Thực trạng và thực tiễn thi hành pháp luật Đặng Anh Đào (2008), Tăng Văn Nghĩa (2008), Phan Chí Hiếu (2010), Hồ Tất Thắng (2010), Trương Hồng Quang (2011, 2013), Nguyễn Minh Thư (2012), Nguyễn Hữu Phúc (2016), Ngô Thu Trang (2016), Nguyễn Thị Mai (2018), Phạm Thị Hạnh (2020), Nguyễn Thị Quế Anh & Nguyễn Bích Thảo (2020), Nguyễn Thị Phương Châm (2020). Phân tích quy định tại Luật Bảo vệ QLNTD 2010, Bộ luật Dân sự (BLDS); chỉ ra mâu thuẫn chứng minh lỗi giữa Điều 23 và Điều 42 Luật Bảo vệ QLNTD 2010; sự thiếu thống nhất giữa khái niệm "hàng hóa có khuyết tật" và "hàng hóa không bảo đảm chất lượng"; thực trạng NTD khó khôi phục quyền lợi qua tố tụng.
Phương hướng và giải pháp hoàn thiện Phạm Thị Phương Anh (2010), Đinh Thị Hồng Trang (2014), Nguyễn Minh Thư (2013), Nguyễn Trường Ngọc (2018, 2022), Nguyễn Tiến Hùng (2020), Chu Đức Nhuận (2012), Phạm Thị Hạnh (2020). Kiến nghị mở rộng chủ thể có quyền yêu cầu, hoàn thiện căn cứ miễn trừ TNSP (áp dụng trình độ khoa học kỹ thuật khách quan, học thuyết người trung gian), bổ sung chế tài thu hồi hàng hóa có khuyết tật và nâng cao năng lực cơ quan quản lý.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu cho thấy các nghiên cứu trước đây chưa thống nhất về việc TNSP có mở rộng cho dịch vụ hay không (trong khi luật của Philippines năm 1992 và Indonesia năm 1999 đã ghi nhận), chưa có định nghĩa hoàn chỉnh về nhà CƯHH và vẫn tranh luận về việc trách nhiệm bảo hành có thuộc nội hàm TNSP hay không. Đặc biệt, còn thiếu vắng công trình khoa học nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về cơ chế xác định TNSP riêng biệt cho nhà CƯHH trong mối quan hệ phân định với nhà sản xuất theo pháp luật Việt Nam. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng lý luận chuyên biệt về TNSP của nhà CƯHH và đề xuất các cơ chế quy kết trách nhiệm cụ thể ("trách nhiệm kế tiếp" và "trách nhiệm liên đới").


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án vận dụng năm lý thuyết và học thuyết pháp lý - kinh tế học nền tảng:

  1. Lý thuyết về sự bất cẩn (Negligence): Bắt nguồn từ án lệ Donoghue v. Stevenson (1932) tại Anh với phán quyết của thẩm phán Lord Atkin về nghĩa vụ quan tâm hợp lý (duty of care). Theo lý thuyết này, NTD phải chứng minh bốn yếu tố: (i) có nghĩa vụ quan tâm của chủ thể kinh doanh, (ii) có hành vi vi phạm nghĩa vụ, (iii) có thiệt hại thực tế, và (iv) có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại.
  2. Lý thuyết về sự vi phạm nghĩa vụ bảo đảm (Breach of Warranty): Phát triển từ các án lệ tại Hoa Kỳ như Guarino v. Mine Safety Appliance (học thuyết nguy hiểm mời gọi giải cứu) và Carpenter v. Donohoe (1964); được pháp điển hóa trong Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ (UCC) với ba hình thức: bảo đảm công khai, bảo đảm ngầm định về tính thương mại và bảo đảm ngầm định về tính phù hợp cho công dụng cụ thể.
  3. Lý thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt (Strict Liability): Hình thành từ án lệ Rylands v Fletcher (1868) tại Anh, được phát triển qua các phán quyết tại Hoa Kỳ như Escola v. Coca Cola Bottling Co of Fresno (1944) của thẩm phán Roger John Traynor và Indiana Harbor Belt Railroad v. American Cyanamid Co. (1990) của thẩm phán Richard Posner. Học thuyết loại bỏ yếu tố lỗi của chủ thể kinh doanh, giảm gánh nặng chứng minh cho NTD nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của bên bị thiệt hại.
  4. Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information Theory): Được xây dựng bởi George Akerlof (1970), Michael Spence (1973) và Joseph Stiglitz (1975). Lý thuyết luận giải sự chênh lệch thông tin giữa nhà CƯHH (chủ thể nắm giữ và kiểm soát thông tin sản phẩm) và NTD (chủ thể thiếu thông tin kỹ thuật), tạo cơ sở buộc nhà CƯHH phải chịu trách nhiệm pháp lý cao hơn.
  5. Lý thuyết về bảo vệ bên yếu thế: Xuất phát từ luật tư và pháp luật hợp đồng thế kỷ XIX, được thừa nhận rộng rãi trong cả hai hệ thống Common Law và Civil Law, nhằm thiết lập cơ chế pháp lý tái lập sự cân bằng lợi ích giữa NTD và thương nhân.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án thuộc nhóm nghiên cứu khoa học pháp lý định tính, sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp các quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để mổ xẻ các khái niệm lý luận, đánh giá quy phạm thực định và xây dựng hệ thống giải pháp.
  • Phương pháp hệ thống và phương pháp lịch sử: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 nhằm phân loại các dòng nghiên cứu học thuật theo tiến trình thời gian và xây dựng hệ thống khái niệm đồng bộ.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định pháp luật về TNSP của Việt Nam với các hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (Chỉ thị 85/374/EEC), Đức, Nhật Bản, Canada, Philippines và Indonesia để rút ra bài học lập pháp.
  • Phương pháp nghiên cứu tình huống (Case study): Phân tích các tranh chấp thực tế và các vụ việc thu hồi sản phẩm để nhận diện bất cập trong quy trình thực thi pháp luật tại Việt Nam.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn tư liệu nghiên cứu bao gồm:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: BLDS, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Luật Bảo vệ QLNTD (năm 2010 và các văn bản sửa đổi), Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Văn bản pháp luật quốc tế: UCC (Hoa Kỳ), Chỉ thị 85/374/EEC (EU), Luật Bảo vệ người tiêu dùng Indonesia 1999, Đạo luật người tiêu dùng Philippines 1992.
  • Báo cáo thống kê thực tiễn: Báo cáo thường niên giai đoạn 2011–2023 của Ủy ban Cạnh tranh quốc gia / Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng; các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp của Tòa án nhân dân các cấp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về TNSP trong và ngoài nước, phân định ba mảng nội dung lớn: lý luận TNSP, thực trạng pháp luật và giải pháp hoàn thiện. Tác giả chỉ ra các điểm đồng thuận học thuật về tính chất nghiêm ngặt của TNSP, đồng thời nhấn mạnh các vấn đề còn bỏ ngỏ như sự thiếu vắng khái niệm chuẩn xác về nhà CƯHH và cơ chế phân bổ trách nhiệm giữa nhà phân phối và nhà sản xuất. Chương này cũng thiết lập khung lý thuyết gồm năm học thuyết nền tảng (sự bất cẩn, vi phạm nghĩa vụ bảo đảm, trách nhiệm nghiêm ngặt, thông tin bất cân xứng, bảo vệ bên yếu thế) và ba câu hỏi nghiên cứu làm kim chỉ nam cho toàn bộ luận án.

Chương 2: Lý luận về trách nhiệm sản phẩm và lý luận pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của nhà cung ứng hàng hóa

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận chuyên sâu về TNSP của nhà CƯHH:

  • Khái niệm hàng hóa có khuyết tật (HHCKT): Luận án định nghĩa HHCKT là hàng hóa không bảo đảm an toàn, không đáp ứng nhu cầu hoặc không như mong đợi hợp lý của NTD, tiềm ẩn sự nguy hiểm bất hợp lý phát sinh từ khâu thiết kế, sản xuất hoặc do không cảnh báo/hướng dẫn đầy đủ, từ đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho NTD. Luận án phân loại khuyết tật thành ba dạng chính: khuyết tật thiết kế, khuyết tật sản xuất và khuyết tật cảnh báo/hướng dẫn (tiếp thị).
  • Bản chất và khái niệm TNSP của nhà CƯHH: Phân tích trách nhiệm pháp lý dưới cả hai góc độ: nghĩa tích cực (nghĩa vụ tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật, cảnh báo, thu hồi) và nghĩa tiêu cực (chế tài bồi thường thiệt hại và gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi). Luận án phân biệt rõ TNSP của nhà CƯHH với trách nhiệm bảo hành, trách nhiệm hợp đồng và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
  • Cơ chế quy kết trách nhiệm: Luận án xây dựng hai mô hình phân định trách nhiệm:
    1. Cơ chế trách nhiệm kế tiếp: Truy ngược chuỗi cung ứng từ nhà bán lẻ, nhà phân phối đến nhà sản xuất; trách nhiệm dừng lại ở chủ thể trực tiếp gây ra hoặc chịu trách nhiệm về khuyết tật tương ứng.
    2. Cơ chế trách nhiệm liên đới: Kích hoạt khi khuyết tật xuất hiện ở cả khâu sản xuất lẫn khâu cung ứng (vận chuyển, bảo quản, phân phối) và cùng dẫn đến thiệt hại cho NTD.

Chương 3: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của nhà cung ứng hàng hóa ở Việt Nam

Chương 3 khảo sát và đánh giá toàn diện các quy định thực định và thực tiễn áp dụng qua năm nội dung:

  • Xác định hàng hóa có khuyết tật: Chỉ ra sự thiếu đồng bộ giữa khái niệm "hàng hóa có khuyết tật" trong Luật Bảo vệ QLNTD và "hàng hóa không bảo đảm chất lượng" trong Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và BLDS, gây khó khăn cho việc xác định căn cứ phát sinh trách nhiệm.
  • Xác định tư cách chủ thể: Đánh giá quy định về các nhóm chủ thể CƯHH có nghĩa vụ bồi thường; phân tích thực trạng xác định trách nhiệm của nhà nhập khẩu, nhà bán buôn và nhà bán lẻ trong chuỗi cung ứng.
  • Cơ sở xác định trách nhiệm: Phân tích mâu thuẫn pháp lý giữa Điều 23 (áp dụng nguyên tắc trách nhiệm nghiêm ngặt không phụ thuộc lỗi) và Điều 42 Luật Bảo vệ QLNTD 2010 (buộc thương nhân phải chứng minh mình không có lỗi để thoát trách nhiệm), làm phát sinh bất cập trong phân bổ nghĩa vụ chứng minh.
  • Hình thức và phạm vi trách nhiệm: Đánh giá quy định về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật (với 190 vụ việc được giám sát từ 2011 đến 2023), nghĩa vụ cảnh báo, bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khỏe, tài sản và các hạn chế trong bồi thường thiệt hại gián tiếp, tổn thất tinh thần.
  • Thực trạng giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm: Đánh giá các phương thức thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án; chỉ ra rào cản tố tụng khiến NTD ít khởi kiện, sự vắng bóng của cơ chế khởi kiện tập thể hiệu quả và mức xử phạt hành chính chưa đủ sức răn đe.

Chương 4: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của nhà cung ứng hàng hóa ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ:

  • Phương hướng hoàn thiện: Quán triệt đường lối xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; cân bằng lợi ích giữa NTD và nhà CƯHH; nội luật hóa phù hợp với các cam kết và điều ước quốc tế.
  • Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
    1. Hợp nhất thuật ngữ "hàng hóa có khuyết tật" và "hàng hóa không bảo đảm chất lượng" thành một khái niệm duy nhất là "hàng hóa không bảo đảm an toàn" để thống nhất áp dụng trong BLDS, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và Luật Bảo vệ QLNTD.
    2. Pháp điển hóa quy tắc truy tìm chủ thể theo cơ chế "trách nhiệm kế tiếp" và cơ chế "trách nhiệm liên đới" trong chuỗi CƯHH.
    3. Mở rộng và làm rõ các loại thiệt hại được bồi thường, bao gồm tổn thất tinh thần và thiệt hại phát sinh đối với người thứ ba.
    4. Sửa đổi BLTTDS và Luật Bảo vệ QLNTD theo hướng thiết lập thủ tục tố tụng cho phép một NTD được đại diện cho nhóm nhiều NTD cùng khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do HHCKT.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi: Kiện toàn bộ máy cơ quan quản lý chuyên trách (Ủy ban Cạnh tranh quốc gia); tăng cường chế tài xử phạt vi phạm hành chính; hoàn thiện cơ chế phối hợp kiểm soát và cảnh báo hàng hóa khuyết tật liên ngành; đẩy mạnh công tác tuyên truyền và nâng cao năng lực tự bảo vệ của các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm lý luận về TNSP chuyên biệt của nhà CƯHH; phân định rành mạch nội hàm của TNSP với trách nhiệm bảo hành, trách nhiệm theo hợp đồng và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
  2. Xây dựng và luận giải khoa học mô hình xác định TNSP của nhà CƯHH theo hai cơ chế:
    • Trách nhiệm kế tiếp: Thực hiện việc truy ngược dòng lưu thông hàng hóa từ mắt xích tiếp xúc trực tiếp với NTD về mắt xích trước đó và dừng lại ở chủ thể có lỗi hoặc chủ thể chịu trách nhiệm kỹ thuật về khuyết tật.
    • Trách nhiệm liên đới: Kích hoạt khi khuyết tật của hàng hóa phát sinh đồng thời ở cả khâu sản xuất và khâu cung ứng lưu thông, buộc cả nhà sản xuất và nhà phân phối cùng liên đới chịu trách nhiệm bồi thường cho NTD.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp lập pháp

  1. Đánh giá có hệ thống thực trạng áp dụng pháp luật và chỉ ra các xung đột quy phạm giữa Luật Bảo vệ QLNTD 2010 với BLDS và Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa liên quan đến khái niệm khuyết tật và nghĩa vụ chứng minh lỗi.
  2. Đề xuất nhóm giải pháp lập pháp trọng tâm:
    • Thống nhất thuật ngữ lập pháp bằng việc sử dụng khái niệm "hàng hóa không bảo đảm an toàn".
    • Luật hóa nguyên tắc áp dụng trách nhiệm nghiêm ngặt đồng bộ, loại bỏ mâu thuẫn về nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức kinh doanh.
    • Bổ sung quy định tố tụng đặc thù cho phép một cá nhân đại diện cho tập thể người tiêu dùng khởi kiện nhà CƯHH chịu TNSP nhằm khắc phục sự yếu thế của NTD đơn lẻ trong tố tụng dân sự.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Về đối tượng sản phẩm: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở sản phẩm hàng hóa hữu hình, chưa mở rộng sang phạm vi sản phẩm dịch vụ vô hình (nội dung mới chỉ được pháp điển hóa tại số ít quốc gia như Philippines và Indonesia).
  • Về phân đoạn chủ thể: Trọng tâm nghiên cứu đặt vào nhà CƯHH với tư cách là nhà phân phối trung gian và bán lẻ trực tiếp đến tay NTD; vai trò của nhà sản xuất chỉ được phân tích ở khía cạnh liên đới và truy xét trách nhiệm kế tiếp.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng nghiên cứu TNSP đối với các loại hình hàng hóa đặc thù trong thời đại kinh tế số, internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI) và phương tiện tự hành (lái xe tự động).
  • Nghiên cứu khả năng mở rộng chế định trách nhiệm sản phẩm đối với lĩnh vực cung ứng dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ toàn diện quyền lợi của người tiêu dùng trong giai đoạn phát triển mới.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học để sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, BLDS và BLTTDS; hỗ trợ Ủy ban Cạnh tranh quốc gia xây dựng quy trình giám sát thu hồi hàng hóa có khuyết tật.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu chuyên khảo trong các chương trình đào tạo đại học và sau đại học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự và Tố tụng dân sự.
  • Cộng đồng doanh nghiệp và nhà cung ứng: Giúp các nhà phân phối, bán buôn, bán lẻ nhận diện rõ các rủi ro pháp lý, nghĩa vụ bảo đảm an toàn và thiết lập quy trình kiểm soát chất lượng hàng hóa, cảnh báo và thu hồi sản phẩm khuyết tật theo đúng quy định.
  • Người tiêu dùng và tổ chức xã hội: Cung cấp cơ sở pháp lý giúp NTD và các Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thực hiện quyền khiếu nại, yêu cầu bồi thường thiệt hại và khởi kiện khi quyền lợi bị xâm phạm.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt cơ chế "trách nhiệm kế tiếp" và "trách nhiệm liên đới" của nhà cung ứng hàng hóa như thế nào?

Luận án xác định hai cơ chế dựa trên nguồn gốc phát sinh khuyết tật:

  • Trách nhiệm kế tiếp: Quá trình truy tìm chủ thể chịu trách nhiệm được thực hiện bằng cách truy ngược lại con đường hàng hóa đi đến tay NTD (từ người bán lẻ, đại lý, nhà phân phối đến nhà sản xuất) và dừng lại ở chủ thể chịu trách nhiệm trực tiếp về khuyết tật tương ứng của hàng hóa.
  • Trách nhiệm liên đới: Được kích hoạt khi khuyết tật xuất hiện đồng thời ở cả công đoạn sản xuất lẫn công đoạn cung ứng (bảo quản, vận chuyển, đóng gói) và các khuyết tật này cùng gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho NTD. Khi đó, cả nhà sản xuất và nhà cung ứng đều phải liên đới bồi thường.

2. Tác giả đề xuất giải pháp gì đối với sự không thống nhất giữa các khái niệm hàng hóa trong luật hiện hành?

Tác giả đề xuất hợp nhất hai thuật ngữ "hàng hóa có khuyết tật" (trong Luật Bảo vệ QLNTD) và "hàng hóa không đảm bảo chất lượng" (trong Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và BLDS) thành một thuật ngữ duy nhất là "hàng hóa không bảo đảm an toàn". Giải pháp này giúp loại bỏ sự chồng chéo, tạo căn cứ pháp lý rõ ràng, thống nhất để xác định điều kiện phát sinh TNSP của nhà CƯHH.

3. Vì sao lý thuyết trách nhiệm nghiêm ngặt được chọn làm nền tảng cốt lõi của chế định trách nhiệm sản phẩm?

Lý thuyết trách nhiệm nghiêm ngặt loại bỏ yếu tố lỗi của chủ thể kinh doanh ra khỏi cấu thành trách nhiệm BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra. Việc áp dụng nguyên tắc này giúp giải phóng NTD khỏi nghĩa vụ chứng minh lỗi kỹ thuật phức tạp của nhà sản xuất/nhà cung ứng, qua đó bảo vệ hữu hiệu quyền lợi của bên yếu thế và phân bổ công bằng các rủi ro vốn có trong nền sản xuất - phân phối hiện đại.

4. Luận án đưa ra đề xuất cụ thể nào về mặt tố tụng để hỗ trợ người tiêu dùng khởi kiện nhà cung ứng?

Luận án kiến nghị bổ sung quy định pháp luật cho phép một cá nhân NTD có thể đại diện cho nhiều NTD cùng khởi kiện một vụ việc về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đối với nhà CƯHH chịu TNSP. Cơ chế đại diện khởi kiện này giúp giảm thiểu chi phí tố tụng, khắc phục tình trạng NTD hành động đơn lẻ và tăng cường hiệu quả bảo vệ quyền lợi tập thể trước các vi phạm diện rộng.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Lại Sơn Tùng là công trình khoa học chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống về trách nhiệm sản phẩm của nhà cung ứng hàng hóa theo pháp luật Việt Nam. Bằng việc kết hợp năm học thuyết nền tảng và phương pháp so sánh luật học, tác giả đã làm sáng tỏ bản chất pháp lý, xây dựng mô hình quy kết trách nhiệm kép ("kế tiếp" và "liên đới"), đồng thời chỉ rõ các bất cập trong hệ thống pháp luật thực định. Hệ thống giải pháp đề xuất bao gồm việc hợp nhất khái niệm "hàng hóa không bảo đảm an toàn", hoàn thiện nguyên tắc trách nhiệm nghiêm ngặt và bổ sung cơ chế đại diện khởi kiện tập thể, tạo cơ sở khoa học thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam.