Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học đề tài "Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phạm Anh Thắng tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2023), chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số 9 38 01 07), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Minh Đức và TS. Nguyễn Thanh Lý.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Hoạt động đưa người lao động (NLĐ) đi làm việc ở nước ngoài là một bộ phận gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và nguồn nhân lực của Việt Nam. Chủ trương này được khẳng định qua các văn kiện của Đảng như Chỉ thị số 41/CT-TW ngày 22/9/1998 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 16-CT/TW ngày 8/5/2012 của Ban Bí thư và Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 12/12/2022 của Ban Bí thư. Kể từ khi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 có hiệu lực từ ngày 01/7/2007, lĩnh vực này đã đạt được những bước phát triển rõ rệt:
- Hiện có khoảng 600.000 lao động Việt Nam làm việc tại hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, hàng năm chuyển về lượng kiều hối từ 2,5 đến 3 tỷ USD.
- Từ năm 2014 đến nay, số lượng lao động xuất cảnh luôn vượt 100.000 người/năm, riêng năm 2022 đạt gần 150.000 người.
- Số doanh nghiệp hoạt động dịch vụ (DNDV) được cấp phép tăng từ dưới 150 đơn vị trước khi có Luật năm 2006 lên hơn 500 doanh nghiệp.
Tuy nhiên, sau hơn 10 năm thi hành Luật năm 2006, thực tiễn bộc lộ nhiều điểm bất cập: quy định pháp luật chưa bao quát hết mọi đối tượng đi làm việc ở nước ngoài; chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe; một số nội dung chưa tương thích với pháp luật của quốc gia tiếp nhận và các luật chuyên ngành mới; thủ tục hành chính còn nặng tính "xin - cho"; tình trạng doanh nghiệp lách luật, thiếu trách nhiệm với NLĐ, tỷ lệ lao động vi phạm hợp đồng hoặc trốn ra ngoài cư trú bất hợp pháp còn cao. Việc Quốc hội thông qua Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2022) thay thế Luật năm 2006 đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về trách nhiệm pháp lý của DNDV dưới góc độ Luật Kinh tế.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là cung cấp các luận chứng khoa học và thực tiễn nhằm đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm pháp lý của DNDV đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể gồm:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước để xác định khoảng trống tri thức.
- Xây dựng và làm rõ cơ sở lý luận về trách nhiệm pháp lý của DNDV đưa người đi lao động ở nước ngoài.
- Nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia để rút ra bài học cho Việt Nam.
- Phân tích thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lý của DNDV, chỉ ra những bất cập.
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của DNDV trong giai đoạn từ năm 2007 đến nay.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án xác lập 3 câu hỏi nghiên cứu và 3 giả thuyết nghiên cứu tương ứng:
- Câu hỏi nghiên cứu 1: Lý luận về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người đi lao động đi làm việc ở nước ngoài bao gồm những vấn đề gì?
- Giả thuyết nghiên cứu 1: Hiện nay khái niệm về NLĐ đi làm việc ở nước ngoài và trách nhiệm pháp lý của DNDV chưa được xác định rõ ràng, thống nhất giữa văn bản pháp luật quốc tế và văn bản pháp luật quốc gia, cũng như giữa các đạo luật. Khung lý luận về trách nhiệm pháp lý của DNDV chưa được hệ thống toàn diện trên các khía cạnh: trách nhiệm pháp lý đối với NLĐ, đối với Nhà nước đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài, đối với nước tiếp nhận và các chủ thể trung gian khác; các khía cạnh dân sự, hành chính, hình sự chưa được nghiên cứu toàn diện.
- Câu hỏi nghiên cứu 2: Thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài như thế nào?
- Giả thuyết nghiên cứu 2: Khuôn khổ pháp lý bảo vệ NLĐ Việt Nam hình thành từ các điều ước quốc tế còn bộc lộ hạn chế do tính chất "khung" hoặc sự giới hạn về phạm vi điều chỉnh; hệ thống pháp luật Việt Nam còn chồng chéo, thiếu đồng bộ và thiếu cụ thể. Trên phương diện thực tiễn, xuất hiện nhiều vướng mắc trong việc thực thi, nhất là trước tác động của thiên tai, đại dịch COVID-19.
- Câu hỏi nghiên cứu 3: Cần có những giải pháp gì để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài?
- Giả thuyết nghiên cứu 3: Bảo đảm quyền của NLĐ đòi hỏi phải có các giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh có điều kiện của DNDV, đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi qua tuyên truyền, hỗ trợ cơ sở giáo dục nghề nghiệp và tăng cường sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, quy định của pháp luật Việt Nam và quốc tế, thực tiễn thi hành và các báo cáo tổng kết liên quan đến trách nhiệm pháp lý của DNDV đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian: Tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành và số liệu thực tiễn chủ yếu từ năm 2013 đến thời điểm hoàn thành luận án (2023), có dẫn chiếu các mốc thời gian lịch sử trước đó từ năm 2007.
- Về không gian: Nghiên cứu thực trạng tại Việt Nam và kinh nghiệm pháp luật của 6 quốc gia châu Á (Philippines, Thái Lan, Indonesia, Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc).
- Về nội dung: Luận án tiếp cận dưới góc độ chuyên ngành Luật Kinh tế, tập trung chủ yếu vào trách nhiệm dân sự của DNDV trong mối quan hệ với NLĐ, Nhà nước, bên nước ngoài tiếp nhận và chủ thể trung gian; đồng thời phân tích trách nhiệm hành chính và hình sự để đảm bảo tính toàn diện.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành ba nhóm chính:
| Nhóm nghiên cứu | Các tác giả, công trình và năm công bố | Nội dung trọng tâm đã đạt được |
|---|---|---|
| 1. Nhóm nghiên cứu về lý luận | - Piyasiri Wickramasekera (2002) - IOM Seoul (2005 - Chương trình EPS Hàn Quốc) - ADB (2006 - Workers remittance Flows in Southeast Asia) - Alan Winters, Terrie Walmsley, Zhen Kun Wang, Roman Grynberg (2002 - Liberalising Labour Mobility Under the GATS) - Nguyễn Lương Trào (1993 - Luận án TS Kinh tế) - Nguyễn Xuân Hưng (2015 - Luận án TS Kinh tế) - Bùi Ngọc Thanh (2020) - Nguyễn Văn Quân (2018), Lê Ngọc Thạnh (2018), Trần Thị Hoàng Yến (2015) |
- Phân tích di cư lao động quốc tế, dòng kiều hối, tự do hóa dịch chuyển lao động theo GATS. - Phân tích XKLĐ như hoạt động kinh tế, yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước. - Nghiên cứu lý luận chung về trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. |
| 2. Nhóm nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn | - Nguyễn Thị Hoàng Lan (2013 - Luận án TS Kinh tế) - Đề tài cấp Bộ do TS. Hoàng Kim Ngọc làm chủ nhiệm (2013) - Doãn Thị Mai Hương (2017) - Gia Linh (2021 - Thị trường trong đại dịch COVID-19) - Trần Minh Tuấn (2012) - Bùi Thị Thùy Nhi (2016), Dương Lê Vân (2021), Phan Thị Thu Hà (2020), Trần Minh Chương, Nguyễn Thị Kim Ánh, Đặng Hồng Vương (2021) |
- Đánh giá tác động của khủng hoảng kinh tế 2008 và đại dịch COVID-19 đến thị trường XKLĐ. - Tổng kết 5 năm thi hành Luật năm 2006, chỉ ra kẽ hở trong cấp phép, quản lý vốn ký quỹ ngân hàng. - Phân tích thực trạng thị trường Đông Nam Á, Nhật Bản, Đông Bắc Á và các địa phương (Quảng Bình, Bình Định). |
| 3. Nhóm nghiên cứu về giải pháp | - Trần Thị Thu (2006 - Sách chuyên khảo) - Trần Văn Hằng (1996 - Luận án TS Kinh tế) - Nguyễn Tiến Dũng (2010 - Luận án TS Kinh tế) - Bùi Sỹ Tuấn (2011 - Luận án TS Kinh tế) - Phan Thị Thu Hà (2020), Hà Thị Minh Đức (2018), Phạm Hùng Cường (2016), Dương Lê Vân (2017) |
- Đề xuất đổi mới cơ chế quản lý nhà nước, đa dạng hóa thành phần kinh tế tham gia XKLĐ. - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bồi dưỡng tay nghề, mở rộng thị phần lao động kỹ năng. - Hoàn thiện chính sách xúc tiến thị trường lao động tại Hàn Quốc, ASEAN. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
- Phần lớn các công trình trước đây tiếp cận hoạt động xuất khẩu lao động dưới góc độ kinh tế học, quản lý kinh tế hoặc quản lý nhà nước, chưa xây dựng khung lý luận chuyên sâu về trách nhiệm pháp lý của DNDV dưới góc độ Luật Kinh tế.
- Các công trình pháp lý trước đó chủ yếu căn cứ vào Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 (đã hết hiệu lực). Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên đặt trọng tâm phân tích, so sánh các quy định mới của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020.
- Luận án giải quyết khoảng trống trong việc phân tích thực trạng thực hiện trách nhiệm pháp lý của DNDV giai đoạn 2013-2023, đánh giá cụ thể các vướng mắc phát sinh trong bối cảnh đại dịch COVID-19 và đề xuất giải pháp lập pháp, hành chính tương thích với các cam kết quốc tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Học thuyết Mác - Lênin về hàng hóa sức lao động và thị trường lao động: Sức lao động là hàng hóa đặc biệt gắn liền với con người; việc mua bán sức lao động không tách rời quyền sở hữu khỏi người lao động, người sử dụng lao động chỉ có quyền sử dụng trong thời gian xác định và phải tôn trọng các quyền con người của NLĐ.
- Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Information Asymmetry Theory): Được vận dụng để giải thích sự chênh lệch về khả năng tiếp cận thông tin, năng lực tài chính và vị thế pháp lý giữa DNDV và NLĐ, giữa DNDV với đối tác tiếp nhận nước ngoài và với cơ quan quản lý nhà nước, từ đó chứng minh sự cần thiết phải có các quy định bắt buộc về công khai thông tin, ký quỹ và bảo lãnh.
- Tư tưởng và chuẩn mực quốc tế về quyền con người: Dựa trên các nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử và bảo vệ quyền lợi của người lao động di trú theo Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ (ICRMW) cùng các công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).
- Lý thuyết về trách nhiệm pháp lý: Luận án tiếp cận trách nhiệm pháp lý theo hướng là một "liên hệ, ràng buộc pháp lý" (vinculum juris) giữa các chủ thể. Theo nghĩa này, trách nhiệm pháp lý là nghĩa vụ, bổn phận tích cực mà DNDV phải thực hiện để đảm bảo quyền của các bên liên quan, chứ không chỉ thu hẹp ở nghĩa thụ động là gánh chịu chế tài cưỡng chế khi có hành vi vi phạm pháp luật.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính chuyên ngành luật học:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để phân tích nội dung các đạo luật, điều ước quốc tế, văn bản chỉ đạo của Đảng và tổng hợp các báo cáo thực tiễn.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Đánh giá trách nhiệm pháp lý của DNDV trong mối quan hệ tổng thể giữa hệ thống pháp luật lao động, dân sự, hành chính, thương mại và pháp luật quốc tế.
- Phương pháp so sánh luật: Nghiên cứu, đối chiếu mô hình pháp luật điều chỉnh DNDV của 6 quốc gia (Philippines, Thái Lan, Indonesia, Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc) để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: Đối chiếu quy định của Luật năm 2006 và Luật năm 2020 với số liệu thực tế về doanh nghiệp, lao động xuất cảnh, tranh chấp và xử phạt vi phạm hành chính để đánh giá hiệu lực thi hành.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Hiến pháp, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Giá năm 2012, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 và năm 2020.
- Các điều ước quốc tế: Công ước ICRMW của Liên hợp quốc, các công ước và khuyến nghị của ILO, các hiệp định song phương và thỏa thuận lao động (như chương trình EPS của Hàn Quốc).
- Báo cáo thống kê chính thức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Quản lý lao động ngoài nước giai đoạn 2013-2022.
- Báo cáo nghiên cứu của các tổ chức quốc tế: IOM, ADB, WB, IMF, WEF.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này thực hiện tổng hợp có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước xoay quanh ba trục nội dung: lý luận về di cư lao động và trách nhiệm DNDV; thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động XKLĐ; các giải pháp quản lý nhà nước và hoàn thiện chính sách. Trên cơ sở đó, tác giả xác định các khoảng trống nghiên cứu, xây dựng 3 câu hỏi nghiên cứu, 3 giả thuyết nghiên cứu và xác lập khung cơ sở lý thuyết (học thuyết hàng hóa sức lao động, lý thuyết bất cân xứng thông tin, học thuyết quyền con người và lý thuyết ràng buộc pháp lý vinculum juris).
Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người đi lao động ở nước ngoài
Chương 2 tập trung phân tích các khái niệm nền tảng và nội hàm lý luận:
- Khái niệm NLĐ đi làm việc ở nước ngoài: Phân tích sự chuyển biến từ khoản 1 Điều 3 Luật năm 2006 sang khoản 1 Điều 3 Luật năm 2020 ("là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên cư trú tại Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật này"). Đối chiếu với Công ước ICRMW, khái niệm trong luật Việt Nam thuộc phạm trù "lao động di trú có giấy tờ" (documented migrant worker) và hẹp hơn khái niệm lao động di trú nói chung. NLĐ phải đáp ứng đủ điều kiện về năng lực pháp luật lao động, năng lực hành vi lao động (thể lực và trí lực, độ tuổi từ đủ 18 tuổi, hoàn thành giáo dục định hướng, không thuộc diện bị cấm/hoãn xuất cảnh).
- Khái niệm và đặc điểm của DNDV: DNDV đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài là doanh nghiệp được thành lập hợp pháp, kinh doanh ngành nghề đầu tư có điều kiện. Hoạt động của DNDV mang ba đặc điểm riêng biệt: (1) Chức năng chính là tổ chức đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (từ tuyển chọn, đào tạo, quản lý đến thanh lý hợp đồng và hỗ trợ tái hòa nhập); (2) Tham gia vào thị trường mua bán hàng hóa sức lao động quốc tế có tính cạnh tranh cao; (3) Thường xuyên thiết lập quan hệ trực tiếp với nhiều chủ thể đa dạng (Nhà nước, NLĐ, bên nước ngoài tiếp nhận, chủ thể trung gian).
- Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm pháp lý của DNDV: Được định nghĩa là sự ràng buộc pháp lý giữa DNDV với các chủ thể liên quan, theo đó doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện hành vi, cam kết nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Trách nhiệm pháp lý mang ba đặc điểm: do Nhà nước quy định trong các văn bản pháp luật đa ngành (dân sự, hành chính, hình sự, lao động); luôn gắn liền với chuỗi hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài; chịu sự tác động đồng thời của thể chế Việt Nam và thể chế nước tiếp nhận lao động.
- Nội dung trách nhiệm pháp lý: Gồm trách nhiệm pháp lý đối với người lao động (cung cấp thông tin, đào tạo, ký hợp đồng, bảo vệ quyền lợi, bồi thường thiệt hại), trách nhiệm pháp lý đối với Nhà nước (tuân thủ điều kiện giấy phép, ký quỹ, báo cáo, nộp thuế), và trách nhiệm pháp lý đối với bên tiếp nhận/trung gian (thực hiện hợp đồng cung ứng, thẩm định tư cách đối tác).
- Kinh nghiệm quốc tế: Luận án khảo sát mô hình điều chỉnh pháp luật của 6 quốc gia châu Á:
- Philippines: Quản lý chặt chẽ thông qua cơ quan quản lý lao động ngoài nước (POEA), áp dụng quy định liên đới chịu trách nhiệm giữa công ty phái cử và bên sử dụng lao động nước ngoài.
- Thái Lan, Indonesia, Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc: Áp dụng các quy định về quỹ bảo vệ lao động di cư, chuẩn hóa hợp đồng cung ứng, quy định mức trần chi phí dịch vụ và chế tài rút giấy phép đối với doanh nghiệp vi phạm.
- Bài học cho Việt Nam: Hoàn thiện cơ chế liên đới trách nhiệm, minh bạch hóa chi phí, bảo đảm vốn ký quỹ và xây dựng quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước hiệu quả.
Chương 3: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài và thực tiễn thực hiện
Chương 3 đi sâu rà soát các quy định của Luật năm 2006, Luật năm 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành:
- Thực trạng quy định pháp luật: Phân tích hệ thống quy chuẩn về điều kiện thành lập doanh nghiệp, điều kiện cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ (vốn pháp định, tiền ký quỹ, bộ máy chuyên trách, cơ sở vật chất phục vụ bồi dưỡng định hướng); trách nhiệm giao kết hợp đồng dịch vụ và hợp đồng lao động; quy định về tiền dịch vụ, tiền đặt cọc; trách nhiệm bảo hộ công dân và giải quyết rủi ro.
Số liệu tổng hợp thực trạng hoạt động đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài:
- Tổng số lao động đang làm việc ở nước ngoài: ~600.000 người (>40 quốc gia/vùng lãnh thổ)
- Lượng kiều hối hàng năm: 2,5 - 3,0 tỷ USD
- Quy mô xuất cảnh hàng năm (giai đoạn từ 2014 đến nay): >100.000 người/năm (năm 2022 đạt kỷ lục gần 150.000 người)
- Số lượng doanh nghiệp dịch vụ được cấp phép: >500 doanh nghiệp (tăng từ <150 doanh nghiệp trước năm 2007)
- Thực tiễn thực hiện: Giai đoạn từ năm 2013 đến 2023 ghi nhận sự gia tăng quy mô thị trường nhưng đồng thời phát sinh nhiều sai phạm thực tế:
- Doanh nghiệp thu tiền dịch vụ, tiền môi giới vượt mức trần quy định;
- Tình trạng doanh nghiệp ủy quyền hoặc để chi nhánh, văn phòng đại diện, cá nhân trung gian không có chức năng tuyển chọn lao động trái phép để trục lợi;
- Công tác đào tạo kỹ năng nghề và giáo dục định hướng còn mang tính hình thức;
- Thiếu trách nhiệm phối hợp giải quyết khi NLĐ bị chủ sử dụng lao động nước ngoài ngược đãi, nợ lương, hoặc gặp rủi ro dịch bệnh trong giai đoạn COVID-19.
- Đánh giá kết quả và hạn chế:
- Kết quả: Khung pháp luật ngày càng tiệm cận chuẩn mực quốc tế; Luật năm 2020 đã bãi bỏ tiền thế chấp của doanh nghiệp, quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm, bảo vệ tốt hơn quyền của NLĐ.
- Hạn chế và nguyên nhân: Nhiều quy định còn thiếu đồng bộ với Bộ luật Dân sự và Bộ luật Lao động; chế tài xử phạt vi phạm hành chính chưa đủ sức răn đe; cơ chế phối hợp kiểm tra, hậu kiểm giữa các cơ quan quản lý nhà nước (Lao động, Công an, Thuế, Ngoại giao) còn lỏng lẻo; nhận thức pháp luật của một bộ phận NLĐ và doanh nghiệp còn hạn chế.
Chương 4: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài
Chương 4 đưa ra hệ thống phương hướng và giải pháp cụ thể:
- Nhu cầu và yêu cầu hoàn thiện pháp luật: Phải đảm bảo ba yêu cầu cốt lõi: (1) Tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất trong hệ thống pháp luật; (2) Hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, DNDV và NLĐ; (3) Đảm bảo tính công khai, minh bạch và khả thi.
- Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
- Hoàn thiện quy định về trách nhiệm giữa DNDV với NLĐ: Quy định cụ thể nghĩa vụ minh bạch thông tin hợp đồng, chuẩn hóa nội dung giáo dục định hướng; quy định rõ trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại khi đối tác nước ngoài vi phạm hợp đồng lao động; hoàn thiện quy chế quản lý và hoàn trả tiền ký quỹ, tiền dịch vụ.
- Hoàn thiện quy định về trách nhiệm của DNDV đối với Nhà nước: Hoàn thiện điều kiện cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép; siết chặt quản lý chi nhánh và văn phòng đại diện; chuẩn hóa chế độ báo cáo điện tử và cơ sở dữ liệu lao động di cư quốc gia.
- Hoàn thiện quy định về trách nhiệm đối với bên tiếp nhận và trung gian: Quy định chặt chẽ điều kiện ký kết hợp đồng cung ứng lao động; nghiêm cấm và xử lý việc sử dụng trung gian trái phép; thiết lập cơ chế giám sát thực thi hợp đồng tại nước tiếp nhận.
- Hoàn thiện quy định xử lý vi phạm hành chính: Tăng mức phạt tiền, áp dụng hình thức phạt bổ sung như đình chỉ hoạt động có thời hạn, tước giấy phép vĩnh viễn đối với hành vi thu phí vượt mức, lừa đảo, bỏ mặc lao động ở nước ngoài.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:
- Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các điểm mới của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020.
- Tăng cường liên kết, hỗ trợ đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nhằm nâng cao chất lượng tay nghề và ngoại ngữ cho NLĐ trước khi xuất cảnh.
- Tăng cường vai trò hỗ trợ, quản lý và thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm khung lý luận về trách nhiệm pháp lý của DNDV đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài. Tác giả đã phân tích và chuẩn hóa khái niệm NLĐ làm việc ở nước ngoài, khái niệm DNDV và bản chất trách nhiệm pháp lý tiếp cận theo hướng mối quan hệ ràng buộc pháp lý (vinculum juris).
- Xây dựng cấu trúc trách nhiệm pháp lý đa chiều của DNDV trên ba mối quan hệ cơ bản: quan hệ với NLĐ, quan hệ với Nhà nước và quan hệ với bên tiếp nhận/tổ chức trung gian; đồng thời chỉ ra sự đan xen giữa trách nhiệm dân sự, hành chính và hình sự.
- Phân tích tác động qua lại giữa thể chế pháp lý của quốc gia xuất khẩu lao động và quốc gia tiếp nhận đối với việc thực thi trách nhiệm của doanh nghiệp.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp
- Luận án tổng hợp, phân tích toàn diện thực trạng quy định pháp luật Việt Nam, làm rõ sự chuyển biến từ Luật năm 2006 sang Luật năm 2020; chỉ ra những điểm còn bất cập, mâu thuẫn giữa luật chuyên ngành với hệ thống pháp luật chung.
- Đánh giá bức tranh thực tế về hoạt động của hơn 500 DNDV trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2023, nhận diện chính xác các hành vi vi phạm phổ biến (thu phí trái phép, buông lỏng quản lý, lách luật qua trung gian).
- Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung các nghị định hướng dẫn thi hành Luật năm 2020, sửa đổi quy định xử phạt vi phạm hành chính, và các giải pháp thực thi đồng bộ giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động Việt Nam ở nước ngoài.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Luận án tiếp cận chủ yếu dưới góc độ chuyên ngành Luật Kinh tế, tập trung trọng tâm vào các quan hệ và trách nhiệm dân sự, kinh doanh dịch vụ của DNDV; các khía cạnh liên quan đến tố tụng tư pháp quốc tế phức tạp hoặc chế tài hình sự chuyên sâu chỉ được đề cập ở mức độ phối hợp để đảm bảo tính toàn diện.
- Dữ liệu thực tiễn và số liệu thống kê được luận án tập trung khảo sát chủ yếu từ năm 2013 đến giai đoạn đầu áp dụng Luật năm 2020 (năm 2022-2023); chưa thể đo lường hết toàn bộ tác động thực tế lâu dài của các văn bản dưới luật mới ban hành.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Nghiên cứu cơ chế tài phán quốc tế và hợp tác tư pháp quốc tế trong giải quyết các tranh chấp lao động ngoài nước có sự tham gia của DNDV.
- Đánh giá tác động định lượng toàn diện của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 sau một chu kỳ thực thi dài hạn (5-10 năm).
- Nghiên cứu cơ chế ứng dụng chuyển đổi số và dữ liệu lớn (Big Data) trong việc kiểm soát dòng tài chính, chi phí dịch vụ và quản lý rủi ro đối với lao động di cư.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở khoa học để Quốc hội, Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (trực tiếp là Cục Quản lý lao động ngoài nước) hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật, chính sách quản lý doanh nghiệp phái cử và các điều ước quốc tế song phương/đa phương về lao động.
- Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ: Giúp người quản lý doanh nghiệp nhận diện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý, rủi ro pháp lý trong hoạt động ký kết hợp đồng, tuyển chọn, đào tạo và xử lý tranh chấp, từ đó xây dựng định hướng kinh doanh tuân thủ pháp luật.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu của giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Lao động, Quan hệ quốc tế và Quản lý công.
- Người lao động: Cung cấp kiến thức pháp lý cơ bản giúp NLĐ nhận biết quyền và nghĩa vụ của mình, nhận diện các hành vi sai phạm của doanh nghiệp trung gian để tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án tiếp cận khái niệm "trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp dịch vụ" theo trường phái lý thuyết nào?
Luận án tiếp cận khái niệm "trách nhiệm pháp lý" theo trường phái xem trách nhiệm là mối liên hệ, ràng buộc pháp lý (vinculum juris) giữa các chủ thể. Theo đó, trách nhiệm pháp lý được hiểu là nghĩa vụ, bổn phận tích cực mà DNDV phải thực hiện theo cam kết và theo luật định nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của các bên liên quan (NLĐ, Nhà nước, bên tiếp nhận), chứ không chỉ thu hẹp ở nghĩa thụ động là gánh chịu chế tài cưỡng chế sau khi có hành vi vi phạm.
2. Định nghĩa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong Luật năm 2020 có điểm gì mới so với Luật năm 2006 được luận án phân tích?
Luật năm 2006 định nghĩa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước tiếp nhận. Đến khoản 1 Điều 3 Luật năm 2020, điều kiện được chuẩn hóa rõ ràng hơn: "NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên cư trú tại Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật này". Luận án chỉ ra rằng quy định này làm rõ độ tuổi tối thiểu (từ đủ 18 tuổi), gắn với điều kiện cư trú tại Việt Nam và phân loại họ thuộc nhóm "lao động di trú có giấy tờ" (documented migrant worker) theo chuẩn mực Công ước ICRMW.
3. Luận án đã khảo sát kinh nghiệm pháp luật của những quốc gia nào để rút ra bài học cho Việt Nam?
Luận án nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp và mô hình quản lý doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài của 6 quốc gia châu Á có cơ cấu lao động tương đồng: Philippines, Thái Lan, Indonesia, Pakistan, Ấn Độ và Trung Quốc. Trong đó, mô hình của Philippines với cơ chế quy trách nhiệm liên đới giữa công ty dịch vụ trong nước và chủ sử dụng lao động nước ngoài được phân tích như một bài học kinh nghiệm quan trọng.
4. Quy mô của thị trường đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được văn bản ghi nhận qua những số liệu nào?
Theo số liệu thống kê trong luận án, hiện có khoảng 600.000 lao động Việt Nam đang làm việc tại hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, chuyển về lượng kiều hối từ 2,5 đến 3 tỷ USD mỗi năm. Liên tục từ năm 2014 đến thời điểm nghiên cứu, số lượng lao động xuất cảnh luôn vượt 100.000 người/năm, năm 2022 đạt kỷ lục gần 150.000 người. Số lượng DNDV được cấp phép đã tăng từ dưới 150 doanh nghiệp (trước Luật năm 2006) lên hơn 500 doanh nghiệp.
5. Luận án đề xuất những yêu cầu cơ bản nào khi hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp dịch vụ?
Luận án xác định việc hoàn thiện pháp luật phải đáp ứng ba yêu cầu cốt lõi: (1) Đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất với toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế; (2) Đảm bảo hài hòa lợi ích giữa ba chủ thể: Nhà nước, DNDV và NLĐ; (3) Đảm bảo tính công khai, minh bạch trong các quy trình cấp phép, thu phí dịch vụ và xử lý vi phạm.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Phạm Anh Thắng đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài. Bằng việc phân tích sâu sắc các quy định của Luật năm 2006 và Luật năm 2020 cùng các dữ liệu thực tế giai đoạn 2013-2023, công trình đã chỉ ra những bất cập, kẽ hở pháp lý và hạn chế trong công tác quản lý. Các giải pháp lập pháp và thực thi được luận án đề xuất mang tính hệ thống, góp phần hoàn thiện khung pháp luật chuyên ngành Luật Kinh tế và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi cho người lao động Việt Nam tại thị trường quốc tế.