Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ TAI NẠN LAO ĐỘNG 1. Khái niệm, nội dung, vai trò của pháp luật về trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động 1. Khái niệm pháp luật về trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động 1. Khái niệm người sử dụng lao động Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia nêu khái niệm “chủ sử dụng lao động” là “một cá nhân hay tổ chức có thuê mướn người lao động.
Người sử dụng lao động đề ra tiền công hay một mức lương cho công nhân viên để trả cho công việc hay sức lao động của họ” [26]. Theo khoản 2 Điều 3 BLLĐ năm 2012 NSDLĐ quy định NSDLĐ: “là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ” [32]. Theo quy định pháp luật lap động hiện nay, khái niệm NSDLĐ vẫn được giữ nguyên như khái niệm về NSDLĐ được quy định tại BLLĐ năm 2012, cụ thể tại khoản 2 Điều 3 BLLĐ năm 2019 quy định NSDLĐ là: “doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ” [32]. Đối với NSDLĐ là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là tổ chức), pháp luật lao động không quy định trực tiếp điều kiện chủ thể mà chỉ quy định tổ chức nào có thể trở thành NSDLĐ và đại diện theo pháp luật trong quan hệ lao động của các tổ chức này.
Theo quy định pháp luật, thẩm 11 quyền giao kết hợp đồng lao động được quy định như sau: đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là tổng giám đốc hoặc giám đốc doanh nghiệp; đối với hợp tác xã là chủ nhiệm hợp tác xã, đối với Liên hiệp hợp tác xã là giám đốc liên hiệp hợp tác xã; đối với cơ quan, tổ chức, chi nhánh, các văn phòng đại diện của quốc tế hoặc nước ngoài đống tại Việt Nam là người đứng đầu tổ chức đó (trưởng chi nhánh, trưởng văn phòng, trưởng văn phòng đại diện,.); đối với hộ gia đình là người trực tiếp sử dụng lao động. Đối với NSDLĐ là tổ chức, pháp luật quy định người có thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động có thể ủy quyền cho người khác để giao kết hợp đồng. Đối với NSDLĐ là cá nhân thì pháp luật lao động có quy định điều kiện chủ thể. Theo đó, NSDLĐ phải đủ 18 tuổi trở lên, có khả năng đảm bảo các điều kiện lao động và trả công lao động theo quy định của pháp luật.
NSDLĐ là cá nhân phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động với NLĐ mà không được ủy quyền cho người khác. Như vậy, từ những lập luận phân tích nêu trên tác giả đồng quan điểm với khái niệm NSDLĐ được BLLĐ năm 2019 hướng dẫn cụ thể NSDLĐ là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Khái niệm người lao động Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người. Thực chất lao động chính là quá trình kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người.
Lao động là yếu tố quyết định đối với sự phát triển của loài người. Con người tham gia vào quá trình này được gọi là người lao động. 12 Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia người lao động là “một người lao động, người làm công, người làm thuê, người thợ hay nhân công là người làm công ăn lương, đóng góp lao động và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ (người sử dụng lao động) và thường được thuê với hợp đồng làm việc (giao kèo) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được đóng gói vào một công việc hay chức năng” [26]. Theo quy định của pháp luật lao động hiện hành thì “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động” [33].
Do đó, để trở thành NLĐ, chủ thể của quan hệ lao động thì người đó phải có “khả năng lao động” thể hiện qua năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động. Năng lực pháp luật lao động của cá nhân là khả năng mà pháp luật quy định cho người lao động có quyền được làm việc, quyền hưởng lương, được bảo đảm các điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động,.và phải thực hiện những nghĩa vụ của mình trong quá trình lao động theo hợp đồng lao động đã giao kết. Năng lực hành vi lao động được xác định bởi các yếu tố có tính chất điều kiện là thể lực và trí lực. Tức là NLĐ phải có sức khỏe để thực hiện công việc theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động và khả năng nhận thức của họ phải đạt trình độ nhất định theo yêu cầu, và để có được sự nhất thức nhất định thì về mặt thời gian tương ứng, người lao động phải đạt một độ tuổi nhất định mà pháp luật lao động quy định là đủ 15 tuổi [33].
Như vậy, từ những phân tích nêu trên, tác giả thống nhất quan điểm khái niệm “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động”. Khái niệm tai nạn lao động 13 TNLĐ xuất hiện cùng với quá trình lao động sản xuất của con người có thể xảy ra ở mọi ngành nghề, mọi quốc gia. TNLĐ không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống, sức khỏe, thu nhập của bản thân NLĐ mà còn ảnh hưởng đến thân nhân của họ, ảnh hưởng đến doanh nghiệp đơn vị nơi NLĐ làm việc, ảnh hưởng đến sự phát triển của Nhà nước và xã hội. Một quốc gia, một xã hội, một doanh nghiệp, một gia đình chỉ thực sự phát triển đầy đủ về mọi mặt khi đảm bảo an sinh xã hội mà trong đó vấn đề TNLĐ được quan tâm.
Trong các văn bản luật Quốc tế không nêu ra một khái niệm cụ thể về TNLĐ, theo đó, tại Công ước số 121 về trợ cấp TNLĐ năm 1964 đã nêu rõ “mỗi nước thành viên phải đưa ra định nghĩa về “tai nạn lao động” và chỉ rõ các điều khoản trong định nghĩa” [42]. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, TNLĐ được hiểu là “Tai nạn bất ngờ xảy ra do lao động hay trong quá trình lao động, có thể gây tử vong hoặc gây cho cơ thể tổn thương hoặc một rối loạn chức năng vĩnh viễn hay tạm thời” [1, tr. Có rất nhiều loại TNLĐ: ngã, đụng dập, điện giật, cháy, bỏng, các trường hợp nhiễm hóa chất cấp tính do sự cố,… Có thể thấy cách định nghĩa này của Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam tập trung vào tính không lường trước của TNLĐ, hậu quả gây ra cho sức khỏe con người và nguyên nhân dẫn đến TNLĐ. Từ điển Sức khỏe môi trường và nghề nghiệp Lewis định nghĩa: “Tai nạn lao động là một sự kiện không được lập kế hoạch, không biết trước và không mong muốn có thể hoặc gây thiệt hại về thể chất và/hoặc phá hủy tài sản; hoặc bất kỳ sự kiện nào không mong muốn gây trở ngại hoặc cản trở quy trình sản xuất hoặc một quá trình” [24, tr.
Từ điển Lewis khi định nghĩa về TNLĐ đã tập trung vào ý chí của các chủ thể khi TNLĐ xảy ra “không mong muốn” và “không biết trước”, đồng thời cách định nghĩa này làm rõ hậu quả gây ra từ TNLĐ, có thể là thiệt hại cho con người hoặc tài sản, thiệt hại 14 này có thể là thiệt hại thực tế hoặc “đe dọa” gây thiệt hại, thiệt hại này tác động trực tiếp tới quá trình làm việc và sản xuất. Theo Giáo trình Luật lao động Việt Nam của Trường Đại học luật Hà Nội định nghĩa:“Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động” [47, tr. Theo giáo trình bảo hiểm xã hội của Trường Đại học Lao động – Xã hội thì: “Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra gây tác hại đến cơ thể người lao động do tác động của yếu tố nguy hiểm và có hại trong sản xuất” [45, tr. Trong các văn bản pháp luật của Việt Nam, cụ thể tại khoản 1 Điều 142 BLLĐ năm 2012 và khoản 8 Điều 3 Luật ATVSLĐ năm 2015 cũng đưa ra định nghĩa thống nhất về TNLĐ, theo đó: “TNLĐ là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho NLĐ, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động”.
Tuy nhiên, đến BLLĐ năm 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 thì chế định về TNLĐ không còn được quy định trong bộ luật này nữa nên trong BLLĐ năm 2019 không có định nghĩa như thế nào là TNLĐ. Có thể nói, mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về TNLĐ, nhưng khái niệm về TNLĐ đều có điểm chung, đó là những tai nạn xảy ra bất ngờ, con người không thể lường trước được, không biết được chính xác về thời gian và không gian; TNLĐ gắn với quá trình làm việc của NLĐ, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ lao động và tai nạn này phải để lại hậu quả hoặc làm chết người hoặc làm tổn thương, hoặc hủy hoại chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thể NLĐ. Điểm quan trọng nhất để phân biệt TNLĐ với tai nạn rủi ro là ở chỗ tai nạn đó có gắn liền với việc thực hiện công việc nhiệm vụ của NLĐ (bị tai nạn) hay không.