CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE TRÁCH NHIEM DÂN SỰ LIÊN DOI BOI THUONG THIET HAI NGOÀI HỢP DONG 1. Khái niệm trách nhiệm dân sự va trách nhiệm dan sự liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 1. Khai niệm trách nhiệm dân sự Trong giao dịch dân sự, nghĩa vụ bao gồm nghĩa vụ tài sản và nghĩa vụ không là tài sản. Nghĩa vụ tài sản tất nhiên phát sinh từ các vẫn đề liên quan trực tiếp đến tài sản và quyền sở hữu tài sản.
Còn nghĩa vụ không phải là tài sản bao việc thực hiện và không thực hiện công việc (công việc có thể liên quan hoặc không liên quan đến tài sản tuy nhiên bản chất của nghĩa vụ này đặt trọng tâm vào công việc có định không quan trọng vấn đề về tài sản). Có thê đánh giá, BLDS quy định về nghĩa vụ đã tạo nền tảng pháp lý để cá nhân, cơ quan áp dụng pháp luật giải quyết các vấn đề liên quan đến nghĩa vụ dân sự một cách thống nhất, ở cả góc độ lý luận và thực tiễn. Bên cạnh nghĩa vụ, “trách nhiệm” cũng là một nội dung thuộc quan hệ pháp luật dân sự, tuy vậy, khác với nghĩa vụ dân sự được quy định một cách khá chi tiết, thì TNDS lại chưa có được một khái niệm pháp lý hoàn chỉnh. Theo từ điển tiếng Việt, trách nhiệm nghĩa là “phu rách, gánh vác công việc và nhận mọi hậu quả của công việc ay” [39, tr.
Tu dinh nghia trén, TNDS có thé hiểu là một loại trách nhiệm pháp lý, là hậu quả bat lợi mà bên vi phạm nghĩa vụ dân sự phải gánh chịu. Trong trường hợp chủ thể trong giao dịch dân sự không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ do các bên thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, chủ thể có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm với chủ thé là bên có quyền. TNDS mà họ phải chịu có thé là việc bắt buộc thực hiện nghĩa vụ hoặc buộc phải khắc phục, sửa chữa thiệt hại, hay phải chịu những hậu quả bat lợi về vật chất, tinh thần do không thực hiện 10 hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Người có nghĩa vụ phải chịu sự cưỡng chế đối với hành vi trái pháp luật.
Chính sự cưỡng chế này đã tạo điều kiện cho quan hệ pháp luật dân sự ngày càng phát triển, góp phần ngăn chặn những hậu quả xấu có thé xảy ra, nhằm bao đảm 6n định trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong quan hệ dân sự. Quyền của chủ thé trong TNDS sẽ phat sinh khi việc nghĩa vụ không thực hiện đúng như thoả thuận hoặc quy định của pháp luật. Đó có thể là việc đến thời hạn thực hiện các nghĩa vụ nhưng chủ thể có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng. Nếu không có bất kỳ thiệt hại nào xảy ra, người có quyên chỉ có thể yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng nghĩa vụ đã giao kết hoặc theo quy định của pháp luật.
Tuy vậy, nếu việc vi phạm này kéo theo một thiệt hại nhất định (thê chất và tinh thần) thì còn phát trách nhiệm phải BTTH. Nhưng, vấn đề này không phải là tuyệt đối, trong nhiều trường hợp nhất định, dù vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ nhưng người có nghĩa vụ không phát sinh TNDS. Về mặt bản chất, TNDS là một loại trách nhiệm pháp lý nên mang những đặc trưng chung của trách nhiệm pháp lý, bao gồm: (i) là hình thức cưỡng chế của Nhà nước, áp dụng đối với những chủ thé có vi phạm pháp luật; (ii) được thực hiện bởi co quan Nhà nước có thâm quyên, sử dụng một số chế tài nhất định do luật định hoặc người vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bat lợi. Mặc dù là một van đề pháp lý chưa được pháp luật định nghĩa, TNDS được nhiều tác giả nghiên cứu, phân tích và đưa ra một số quan điểm khác nhau về khái niệm TNDS, cụ thé như sau: Quan điểm 1: “TNDS là một loại chế tài được áp dụng đối với nguoi vi phạm pháp luật dan sự kéo theo sự tước đoạt quyên hoặc áp đặt nghĩa vụ bổ sung doi với người vi phạm nhằm phục hoi tình trạng ban đầu về tài sản, nhân thân cho người bị vi phạm ` [1, tr.
11 Quan điểm 2: “TNDS là biện pháp cưỡng chế được áp dung đối với người đã có hành vi xâm phạm đến các quyên và lợi ích hợp pháp khác, nhằm buộc người vi phạm phải thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải bồi thường thiệt hại nhằm bôi dap tổn thất và phục hồi các quyên và lợi ích hợp pháp của người bị xâm phạm ” [18, tr. Tác giả đồng ý theo quan điểm thứ hai. Có thể nhận định, khái niệm về TNDS theo quan điểm nay đã bao hàm, chứa đựng day đủ các đặc điểm của TNDS, từ ngữ trong khái niệm này dé hiểu, người đọc dé tiếp cận và nắm bắt vấn đề cần diễn đạt khi nói đến TNDS. Từ khái niệm đưa ra có thê đánh giá, TNDS và nghĩa vụ dân sự là hai khái niệm pháp lý có mối liên hệ gần gũi.
Do đó, về mặt khoa học pháp lý, quy định pháp luật và trên thực tiễn, chủ thé áp dụng pháp luật khó có thể phân biệt đâu là TNDS, đâu là nghĩa vụ dân sự, dẫn đến có sự nhằm lẫn giữa hai khái niệm này. Nghĩa vụ dân sự nói chung là một quan hệ pháp luật thuộc lĩnh vực dân sự, trong đó, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện một nội dung nhất định với các bên tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự đó. Nghĩa vụ dân sự bao hàm toàn bộ các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực dân sự. Nói cách khác, trong đa phần các quan hệ dân sự, các chủ thé tham gia phải thực hiện các nghĩa vu khác nhau dựa trên sự thoả thuận giữa các bên hoặc do pháp luật định.
Dựa vào các quan điểm về TNDS vừa trình bày, có thé nhận thay TNDS cũng là một dạng nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, đây là một dạng nghĩa vụ có điều kiện, TNDS chỉ phát sinh khi có các sự việc, sự kiện phát sinh. Đó có thé là việc chủ thé có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ, thực hiện không day đủ hoặc không thực hiện nghĩa vụ hoặc cũng có thể là các sự việc, sự kiện phát sinh gây ra các thiệt hại nhất định cho một chủ thê khác. Ngoài ra, các nghĩa vụ dân sự có thể tuỳ nghi thực hiện phụ thuộc vào sự thoả thuận của các chủ thể, nhưng TNDS lại là một nghĩa vụ mang tính bắt buộc.
Khi các sự việc, sự kiện trên xảy ra, chủ thé sẽ ngay lập tức gánh chịu một hậu quả bat lợi, đó có thé là 12 các nghĩa vụ do sự thoả thuận của các chủ thể hoặc do pháp luật quy định, và nghĩa vụ này bắt buộc chủ thể phải thực hiện. Vì vậy, TNDS thường được coi là một biện pháp cưỡng chế pháp lý, nhưng về mặt bản chất, đây vẫn là một dạng nghĩa vụ trong lĩnh vực dân sự. Từ những đặc trưng pháp lý và cơ sở lý luận trên, TNDS được định nghĩa như sau: TNDS là việc bắt buộc chủ thể phải gánh chịu một hậu quả bat lợi do những xử sự trai pháp luật của mình gây nên mà lẽ ra ho không phải chịu nếu họ không có sự vi phạm pháp luật, hoặc theo quy định của pháp luật buộc chủ thể phải gánh chịu. Khái niệm trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Liên đới BTTH là một trong những nội hàm khái niệm cua TNDS liên đới.
Tuy nhiên, chưa có quy định nào về khái niệm và nội dung của TNDS liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Như vậy hai khái niệm về TNDS liên đới và nghĩa vụ dân sự liên đới có giống nhau về bản chất hay không? Nội dung của hai vấn đề này có đồng nhất với nhau hay khác biệt nhau như thé nào? Dé trả lời cho những câu hỏi này, TNDS liên đới cần được xem xét trong mối quan hệ với các khái niệm pháp lý khác. Theo Từ dién tiếng Việt, liên đới là “có sự ràng buộc lẫn nhau (thường về mặt trách nhiệm)” [38, tr.567], hay liên đới là “đính chùm với nhau, cùng chịu, cùng nhau gánh chịu” [3§, tr. Như vậy, “liên doi” nhẫn mạnh yếu tố ràng buộc lẫn nhau, cùng chung chịu trách nhiệm và không có sự phân biệt giữa các chủ thể.
TNDS liên đới là một loại trách nhiệm pháp lý mà các chủ thể có trách nhiệm phải cùng nhau gánh chịu trách nhiệm và có sự ràng buộc lẫn nhau. Tuy nhiên, pháp luật chưa có một định nghĩa pháp lý về trách nhiệm liên đới hay TNDS liên đới, mặc dù thuật ngữ liên đới được sử dụng khá phổ biến trong các quy định của pháp luật. Từ khái niệm liên đới trong Từ điển tiếng Việt kết hợp với nội dung về khái niệm TNDS đã trình bày ở phần trên, 13 tác giả xây dựng khái niệm về TNDS liên đới như sau: TNDS liên đới là một loại TNDS do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyên có thể yêu cau bat cứ ai trong số những người có trách nhiệm thực hiện một phan hay toàn bộ trách nhiệm. Trong thực tiễn, khi phát sinh TNDS liên đới, các quy định về nghĩa vụ dân sự liên đới sẽ được áp dung dé giải quyết các van dé.
Dù thuộc bat kỳ lĩnh vực nao quan hệ giữa các chủ thể luôn không thể tránh khỏi những thiệt hại không đáng có, việc phát sinh thiệt hại vô hình chung sẽ tạo ra những hậu quả bat lời cho ít nhất một bên tham gia quan hệ. Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị thiệt hại, một hệ thống quy định pháp luật được hình thành, từ đó đảm bảo được sự 6n định trong xã hội, nhịp sống xã hội được giữ vững, đó cũng chính là vai trò quan trọng của chế định liên quan đến BTTH. BTTH có thể coi là một trong những chế định xuất hiện sớm nhất trong dòng chảy lịch sử lập pháp dân sự của nước ta. Ngay từ các Bộ luật của các triều đại phong kiến, các quy định về BTTH đã được đề cập tương đối cụ thể, tuy nhiên trong thời điểm này chưa có sự phân định rõ rang giữa TNDS cá biệt hay TNDS liên đới.
Chăng hạn, Điều 466 của Quốc triều hình luật hay Bộ luật Hồng Đức có quy định về BTTH ngoài việc đã chịu các hình phạt khi có hành vi đánh nhau: x4 “.