Chương 1: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng trong pháp luật bảo vệ người tiêu dùng; 9 Chương 2: Quy định pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng ở Việt Nam và thực tiễn thi hành ở tỉnh Bắc Giang; Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng tại tỉnh Bắc Giang. 10 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI NGƢỜI TIÊU DÙNG TRONG PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƢỜI TIÊU DÙNG 1. Khái quát về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với ngƣời tiêu dùng 1. Khái quát về quan hệ tiêu dùng Về bản chất, quan hệ tiêu dùng không phải quan hệ thương mại được điều chỉnh bởi Luật Thương mại mà là quan hệ dân sự được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự, cho dù quan hệ này có chủ thể là thương nhân và mục đích tham gia vào các quan hệ tiêu dùng là để thỏa mãn các nhu cầu về lợi ích vật chất (quan hệ tài sản) trong đó có mục đích lợi nhuận của thương nhân.
Giống như các quan hệ pháp luật dân sự khác, về cơ bản, quan hệ pháp luật tiêu dùng được thiết lập đảm bảo các nguyên tắc cơ bản đã được đề cập tại Bộ luật Dân sự năm 2015 cụ thể: - Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản. - Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng. - Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.
- Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. - Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự. Quan hệ tiêu dùng có những đặc điểm sau: 11 Thứ nhất, về chủ thể: Chủ thể của quan hệ tiêu dùng bao hàm hai chủ thể cơ bản là chủ thể thụ hưởng hàng hóa, dịch vụ (sau đây gọi chung là “Người tiêu dùng”) và chủ thể cung ứng hàng hóa, dịch vụ. - Chủ thể thứ nhất: Người tiêu dùng.
Tại Việt Nam, khái niệm NTD đã được quy định trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999 và tiếp tục được ghi nhận trong Luật BVQLNTD năm 2010. Khoản 1 Điều 3 Luật BVQLNTD 2010 quy định: Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức. Như vậy, người tiêu dùng chính là đối tượng sử dụng và tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cuối cùng của quá trình sản xuất; NTD tồn tại dưới các hình thức là: cá nhân, nhóm các thành viên hoặc một tổ chức; NTD đại diện cho yếu tố “cầu” của thị trường, bên cạnh cung. Bởi vậy, người tiêu dùng là chủ thể quyết định số lượng và các hình thức sản phẩm và hàng hóa lưu thông trên thị trường.
So với pháp luật của nhiều nước trên thế giới, pháp luật bảo vệ NTD của Việt Nam đã có sự mở rộng hơn về đối tượng được bảo vệ. Rất nhiều nước trên thế giới chỉ chấp nhận NTD là cá nhân thì tại Việt Nam, các tổ chức mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cũng được coi là NTD. Bên cạnh đó, NTD không nhất thiết phải là người mua hàng trực tiếp để sử dụng vào mục đích sinh hoạt cá nhân mà có thể là người thụ hưởng gián tiếp hàng hóa, dịch vụ do người khác mua. Ví dụ: bố mua máy vi tính cho con trai học tập, người con trai được coi là người tiêu dùng sản phẩm.
Theo pháp luật bảo vệ NTD, bên được hưởng sự ưu tiên so với chủ thể luật dân sự khác trong giao dịch với doanh nghiệp là NTD bởi trong quan hệ tiêu dùng, họ có nhiều yếu thế hơn ví dụ như thiếu thông tin về hàng hóa, dịch vụ, yếu thế về khả năng đàm phám khi giao kết hợp đồng, yếu thế về khả năng chịu rủi ro phát sinh trong quá trình tiêu dùng. Do đó, việc xác định chủ thể nào là NTD, chủ thể nào là đối tượng được bảo vệ của pháp luật bảo vệ NTD có vai trò vô cùng quan trọng dưới góc độ pháp lý. Thứ hai, về mục đích sử dụng hàng hóa, dịch vụ: 12 Hầu hết các nước quy định việc NTD mua hàng hóa, dịch vụ phải nhằm mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cho cá nhân mà không phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc các hoạt động nghề nghiệp. Một ngoại lệ khi Hàn Quốc quy định mục đích sử dụng hàng hóa dịch vụ, bao gồm cho tiêu dùng cá nhân và sản xuất.
Việc mua các sản phẩm phục vụ tiêu dùng nhằm bán lại (ví dụ: mua vải từ các đầu mối rồi về bán lẻ), hoặc chế biến thành sản phẩn để bán (ví dụ: mua trứng vịt tươi từ trại nuôi, đem muối sau đó đem bán thành phẩm trứng muối) không được coi là hành vi tiêu dùng. Bên cạnh đó, như đã nói ở trên, NTD có thể không có quan hệ trực tiếp với nhà cung cấp mà có thể là người thụ hưởng gián tiếp hàng hóa, dịch vụ do người khác mua, được tặng cho, cấp phát. Ví dụ: chồng mua tặng vợ một dây chuyền vàng, như vậy vợ được nhận quà không tham gia giao dịch mua bán nhưng vẫn là người tiêu dùng. Như vậy, người tiêu dùng không tham gia vào chuỗi phân phối hàng hóa, dịch vụ, chỉ đóng vai trò là điểm cuối cùng và mục tiêu của chuỗi phân phối, đồng thời tạo cơ sở phân biệt quan hệ pháp luật tiêu dùng với các quan hệ pháp luật thương mại khác.
Thứ ba, về phương diện tự do khế ước: Từ nền công nghiệp hóa phát triển dẫn đến khả năng sản xuất và cung cấp sản phẩm dịch vụ ra thị trường một cách liên tục và hàng loạt. Từ đó, các doanh nghiệp thiết lập nên những quy tắc bán hàng thống nhất, tiêu chuẩn hóa các điều khoản của các hợp đồng mua bán và áp dụng chung trong các giao dịch với nhiều NTD. Tuy nhiên, những điều kiện chung này lại được soạn trước bởi các cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ dùng để ký kết với nhiều khách hàng khác nhau nên thường mang lại nhiều rủi ro và thiệt thòi về lợi ích cho NTD. Bởi lẽ, NTD không được tham gia đàm phán về những điều khoản có trong nội dung của loại hợp đồng này và do đó, những bất cập càng có nhiều cơ hội gia tăng.
Ví dụ: việc sử dụng hợp đồng mẫu mang lại nhiều thiệt thòi cho NTD; hàng hóa không được cung cấp đầy đủ thông tin về tính năng sử dụng hay yêu cầu an toàn. - Chủ thể thứ hai: Người kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. 13 Luật BVQLNTD 2010 đã định nghĩa cụ thể: Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm: thương nhân theo quy định của Luật thương mại và cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh. Như vậy, theo quy định của Luật BVQLNTD 2010, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ có thể là thương nhân và cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh.
Theo quy định tại khoản 1 điều 6 Luật Thương mại 2005: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh”. Khái niệm “doanh nghiệp” được quy định tại khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 là một tổ chức có tên riêng và tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích để sinh lợi.4 Từ đó, ta có thể nhận thấy, mọi doanh nghiệp đều là thương nhân vì đều có đăng ký kinh doanh. Còn một số thương nhân lại không phải là doanh nghiệp như hộ kinh doanh, hợp tác xã.
Khái niệm thương nhân có nội hàm rộng hơn và bao hàm khái niệm doanh nghiệp.5 Bên cạnh đó, doanh nghiệp là một tổ chức và có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Vì vậy, khái niệm doanh nghiệp được đề cập đến trong luận văn này là một thương nhân, không phải là một cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh. Doanh nghiệp ở đây là một tổ chức cung ứng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường một cách độc lập, mang 4 https://luatminhkhue.vn/cac-loai-hinh-doanh-nghiep.aspx (ngày truy cập 20/3/2023) 5 https://luatduonggia.vn/phan-biet-khai-niem-thuong-nhan-doanh-nghiep-va-chu-the-kinh-doanh/ (ngày truy cập 20/3/2023) 14 danh nghĩa của chính mình và vì lơi ích của bản thân mình và mang tính nghề nghiệp thường xuyên. Khái niệm trách nhiệm của doanh nghiệp với ngƣời tiêu dùng Trong Từ điển Tiếng Việt, trách nhiệm được hiểu theo hai nghĩa như sau: nghĩa thứ nhất: phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả; nghĩa thứ hai: sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của họ, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả.
Điểm chung của cả hai cách định nghĩa trên là đều xem xét trách nhiệm gồm hai thành phần cơ bản: một là những việc phải làm như là bổn phận, nhiệm vụ; hai là sự cam kết đối với kết quả sau khi thực hiện bổn phận, nhiệm vụ và chịu trách nhiệm đối với kết quả đó.