Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Việc nghiên cứu về đề tài trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nói chung và gây ONMTN nói riêng đã được thực hiện dưới nhiều góc độ và nhiều cấp độ nghiên cứu khác nhau. Các công trình nghiên cứu đã xây dựng thành công hệ thống lý thuyết, hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh làm cơ sở lý luận của việc ban hành, thực hiện và hoàn thiện các qui định pháp luật điều chỉnh vấn đề BTTH đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nói chung và gây ONMTN nói riêng. Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN, cũng như phân tích, so sánh qui định pháp luật các quốc gia về trách nhiệm dân sự về BTTH về môi trường.
Các công trình đó có thể được sắp xếp thành những nhóm sau: (i) các nghiên cứu về các vấn đề lý luận chung về trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ONMTN, (ii) các nghiên cứu về thực trạng pháp luật về BTTH đối với hành vi gây ONMTN, (iii) các nghiên cứu về thực tiễn thi hành các qui định của pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật về BTTH đối với hành vi gây ONMTN. Các nghiên cứu lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường nước 1. Các nghiên cứu lý luận về môi trường nước, ô nhiễm môi trường nước và hành vi gây ô nhiễm môi trường nước Khi thực hiện nghiên cứu về trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng, rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những lập luận để luận giải các khái niệm cơ bản của trách nhiệm BTTH đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường như: khái niệm môi trường, khái niệm ô nhiễm môi trường, khái niệm hành vi gây ô nhiễm môi trường, khái niệm BTTH đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường. Về khái niệm môi trường, trong Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam” (2013), tác giả 8 Nguyễn Thị Tố Uyên chỉ ra rằng xung quanh khái niệm môi trường, hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau của các nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới.
Cụ thể, tác giả giới thiệu năm khái niệm cơ bản và phổ biến về môi trường trong đó có quan điểm thứ năm đưa ra định nghĩa về môi trường theo qui định tại Luật bảo vệ môi trường năm 2014: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.” Khái niệm này cũng được tiếp cận trong đề tài nghiên cứu khoa học “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây nên tại Việt Nam” do Bộ môn Luật Môi trường Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức thực hiện vào năm 2007. Quan điểm về khái niệm môi trường trước đó cũng đã được tác giả Bùi Đức Hiển trình bày trong Luận văn Thạc sĩ “Những vấn đề pháp lý về xác định thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay” (2010) và tác giả Nguyễn Ngọc Anh Đào trong Luận án Tiến sĩ “Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay” (2013). Tiếp cận khái niệm môi trường trong mối liên hệ với tội phạm, tác giả Nguyễn Hữu Hòa, trong Luận án Tiến sĩ “Các tội phạm về môi trường ở Việt Nam: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” (2019) nhìn nhận môi trường là tất cả những gì xung quanh con người, bao gồm không khí, nước, đất đai, sông hồ, rừng núi, biển cả, thế giới sinh vật. Khái niệm môi trường mà tác giả Nguyễn Hữu Hòa đưa ra có nét tương đồng với khái niệm môi trường theo quy định tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 cũng đưa ra khái niệm môi trường theo hướng liệt kê các thành phần của môi trường.
Thu hẹp nội dung của khái niệm môi trường, các tác giả Nguyễn Quốc Hùng và Lê Thị Thúy Phương đã đưa ra các khái niệm tài nguyên nước và môi trường nước. Trước hết, trong Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về phòng chống và khắc phục ô nhiễm nguồn nước – Thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình” (2017), tác giả Nguyễn Quốc Hùng nhận định tài nguyên nước của một lãnh thổ là toàn bộ lượng nước có trong lãnh thổ đó mà con người có thể khai thác, sử dụng được, xét cả về mặt lượng và chất, cho sinh hoạt và sản xuất, trong hiện tại và tương lai. Tác giả Lê Thị Thúy 9 Phương, khái niệm môi trường nước được đề cập tới trong Luận văn Thạc sĩ “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do doanh nghiệp gây ONMTN theo qui định của pháp luật Việt Nam” (2019) được hiểu là môi trường mà những cá thể tồn tại, sinh sống và tương tác qua lại đều bị ảnh hưởng và phụ thuộc vào nước. Môi trường nước có thể bao quát trong một lưu vực rộng lớn hoặc chỉ chứa trong một giọt nước.
Khác với những khái niệm về môi trường được các học giả Việt Nam đưa ra, hai học giả I Made Arya Utama và I Nengah Suharta, trong bài viết “The challenges of water pollution: Enforcement of water pollution control” (Những thách thức của ô nhiễm nguồn nước: Thực thi việc kiểm soát ô nhiễm nguồn nước) (2018), Hasanuddin Law Review, Vol. 4 Issue 1, đã đúc kết một khái niệm về môi trường mang tính khái quát cao. Cụ thể, hai tác giả này cho rằng môi trường là sự thống nhất, toàn vẹn của không gian với mọi sự vật, sức mạnh, trạng thái và những sinh vật sống, bao gồm con người và các hành vi, có sức ảnh hưởng tới tự nhiên, sự sống còn của đời sống, sự thịnh vượng của con người và của những loài sinh vật sống khác. Cũng xem xét khái niệm môi trường với sự sống, các tác giả G.
Sanches Fernades và F.L Pacheco, trong bài viết “A legal framework with scientific basis for applying the ‘polluter pays principle’ to soil conservation in rural watersheds in Brazil” (Khung pháp lý với cơ sở khoa học để áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền nhằm bảo tồn đất tại các đường phân thủy thuộc khu vực nông thôn tại Brazil) (2017), Land Use Policy, Volume 66, định nghĩa môi trường là tập hợp các điều kiện, qui luật, sự ảnh hưởng và tương tác về vật lý, hóa học và sinh học, là nơi nuôi dưỡng và duy trì sự sống dưới mọi hình thức. Cuối cùng, tác giả Hassan Abiodun Mazeedah với công trình nghiên cứu “Problem of proof and causation in environmental litigation in Nigeria” (Vấn đề về chứng cứ và mối quan hệ nhân quả trong tố tụng về môi trường tại Nigeria) (2018) xác định môi trường là sự kết hợp của các yếu tố có mối quan hệ qua lại tạo nên bối cảnh, môi trường xung quanh và điều kiện sống của cá nhân và của xã hội như chúng vốn có và như chúng được cảm nhận. Về khái niệm ô nhiễm môi trường, trước hết, theo tác giả Shahidul Islam, ô nhiễm có nghĩa là sự thay đổi của các đặc tính vật lý hoặc sinh học của không khí, 10 nước hoặc đất, bao gồm sự thay đổi về nhiệt độ, mùi vị, độ đục hoặc mùi hoặc bất kỳ đặc điểm nào khác của chúng hoặc sự thải ra bất kỳ chất lỏng, khí, rắn, phóng xạ hoặc các chất khác vào không khí, nước hoặc đất hoặc bất kỳ yếu tố nào của môi trường gây hại cho không khí, nước hoặc đất, gây bất lợi cho sức khỏe cộng đồng, an toàn hoặc phúc lợi hoặc đối với hoạt động sinh hoạt, thương mại, công nghiệp , nông nghiệp, giải trí hoặc các hoạt động khác, đối với hệ sinh thái bao gồm vật nuôi, động vật hoang dã, chim, cá, thực vật hoặc các dạng sinh vật sống khác. Chất gây ô nhiễm môi trường có nghĩa là bất kỳ chất rắn, lỏng hoặc khí có thể có hoặc có xu hướng gây hại cho môi trường và bao gồm nhiệt, tiếng ồn và các tia có hại.
(“Legal issues of river pollution through industrial effluents” - Các vấn đề pháp lý về ô nhiễm sông do nước thải công nghiệp (2011), Eastern University Journal, Vol. Còn theo tác giả Bùi Kim Hiếu trong Luận án Tiến sĩ “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra ở Việt Nam hiện nay”, năm 2015 [24] Tác giả cho rằng, ô nhiễm môi trường là hiện tượng thay đổi của các thành phần môi trường như đất, nước, không khí theo hướng tiêu cực, không phù hợp với các tiêu chuẩn môi trường được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, gây ảnh hưởng xấu tới con người và sinh vật Trong công trình nghiên cứu “Problem of proof and causation in environmental litigation in Nigeria” (Vấn đề về chứng cứ và mối quan hệ nhân quả trong tố tụng về môi trường tại Nigeria) (2018), tác giả Hassan Abiodun Mazeedah nhận định môi trường bị coi là ô nhiễm khi các thành phần và điều kiện của môi trường bị thay thế một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ những hoạt động của con người khiến cho việc khai thác và sử dụng các tài nguyên môi trường trở nên khó khăn hơn. Ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và môi trường theo nhiều cách khác nhau như gây tổn hại tới sức khỏe của con người thông qua những tạp chất hóa học có trong không khí, thức ăn, nước uống; gây tổn hại tới các loài thực vật, động vật, đất và nguồn nước; gây ra khói bụi là ảnh hưởng tới chất lượng không khí; ô nhiễm trong một thời gian dài gây thương tổn nghiêm trọng tới sức khỏe con người trong một số trường hợp đặc biệt. Một quan điểm khác về ô nhiễm tới từ hai tác giả I Made Arya Utama và I Nengah Suharta trong bài viết “The 11 challenges of water pollution: Enforcement of water pollution control” (Những thách thức của ô nhiễm nguồn nước: Thực thi việc kiểm soát ô nhiễm nguồn nước) (2018), Hasanuddin Law Review, Vol.
4 Issue 1, đã định nghĩa ô nhiễm môi trường là sự xâm nhập hoặc đưa các sinh vật, các chất, năng lượng hoặc các thành phần khác vào môi trường bởi các hoạt động của con người, dẫn đến việc vượt quá tiêu chuẩn chất lượng môi trường đã được qui định.