CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VE CHAT THAI NGUY HAI VÀ TRÁCH NHIEM CUA CHỦ NGUON THAI CHAT THAI NGUY HAI 1.1 Khai quát về chat thải nguy hai 111 Khái niệm chất thải nguy hại Thuật ngữ “chất thải nguy hại” (Hazardous wastes) xuất hiện vào những năm 70 của thế ki XX và được đưa vào các văn bản pháp lý của Mỹ và các nước Châu Au một vài năm sau đó.3 Luật bảo tồn và phục hồi tài nguyên Mỹ năm 1976 đã đưa ra một định nghĩa khác về CTNH như sau: “C7NH là chất thải (ở dang ran, bán rắn, lỏng và khí) có khối lượng, nông độ hoặc các tinh chat vật ly, hóa học, lay nhiễm mà khi xử ly, vận chuyển, thải bỏ hoặc bằng những cách quản lý khác có thể gây ra nguy hiểm hay tiếp tục tăng nguy hiểm hoặc lam tăng đáng kể số tử vong, hoặc làm mat khả năng phục hồi sức khỏe cua người bệnh `” Theo Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc thì: “CTNH la những chất thải (không ké chất thai phóng xạ) có hoạt tính hoá học, có tính độc hại, cháy nổ, ăn mòn gây nguy hiểm hoặc có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe con người hay môi trường khi ton tại riêng lẻ hoặc tiếp xúc với các chất thải khác ”.^ Một sô định nghĩa khác như Luật BVMT của Canada có đưa ra, CTNH là những chất và do bản chất và tính chất của chúng có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người hoặc môi trường và tính chất này yêu cầu các kỹ thuật xử lý đặc biệt dé loại bỏ hoặc giảm đặc tính nguy hại của nó. Có thê thấy Canada đặt ra hai tiêu chí để xác định CTNH là: ¡. CTNH phải là chất thải có kha năng gây nguy hại cho môi trường hay sức khỏe con người; ii. CTNH là loại chất thải đòi hỏi những yêu cầu kỹ thuật nhất định cho việc loại bỏ khả năng gây nguy hại của chúng.
Nhìn chung các định nghĩa về CTNH ở các nước hay các tổ chức quốc tế đều có nội dung tương tự đó là tính độc hại của nó đối với môi trường và sức khỏe con người. Tại Việt Nam định nghĩa về CTNH xuất hiện lần đầu tiên tại Quy chế quản lý CTNH, ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QD- TTg ngày 16 tháng 7 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi tắt là Quy chế quản lý CTNH). Tại Khoản 2 Điều 3 của Quy chế này có quy định: “C7NH là chất thải có chứa các chất hoặc hop chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dé nổ, làm ngộ độc, dé ăn mòn, dé lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác), hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người ”. Cả hai định nghĩa đêu này có cách tiêp 3 Miljokonsulterna.
Hazardous wastes management, Nykoping, Sweden a 4 Lê Huy Bá (chủ biên) (2006) Độc học môi trường, tập 2 phán chuyên dé, Nxb Đại học quoc gia thành phô Ho Chi Minh, Thành phô Ho Chí Minh, trang 767 10 cận khá tương đồng với quan điểm của UNEP khi không cho rằng chất thải phóng xạ có thuộc danh mục các CTNH. Định nghĩa CTNH được chỉnh sửa va được ghi nhận tại Luật BVMT 2014 như sau: “CTNH là chất thải chứa yếu tô độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dé no, dé ăn mòn, dé lay nhiễm, gây ngô độc hoặc đặc tính nguy hại khác ”.Š Theo đó, định nghĩa nay được xây dựng bằng cách liệt kê những đặc tính nguy hại của CTNH tuy có chút khác biệt về mặt câu chữ nhưng cũng đã phần nào khái quát được những đặc điểm chung của CTNH.2 Đặc điểm của chất thải nguy hại Mặc dù có những khác biệt nhất định về ngôn từ và cách diễn đạt tuy nhiên các định nghĩa nêu trên về CTNH cho thấy những dấu hiệu đặc trưng sau dé nhận biết CTNH: Thứ nhất: CTNH mang đây đủ những dau hiệu đặc trưng của chất thải. Chất thải tồn tại dưới dạng vật chất ở dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí hoặc các dạng khác. Những chất phi vật chất không thê được coi là chất thải.
Vật chất đó bị chủ sở hữu thải bỏ hoặc bị buộc phải thải bỏ. Nói cách khác, các dạng vật chất được coi là chất thải khi người chủ sở hữu hay sử dụng chúng thải bỏ một cách chủ động theo ý chí của họ, hoặc phải thải bỏ một cách bị động theo ý chí của Nhà nước, không sử dụng nó vào bat kỳ mục dich nào khác. Nguồn gốc phát sinh ra chất thải là từ các hoạt động của con người. Đó là các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt và các hoạt động khác.
Thứ hai: CTNH có chứa một trong các đặc tính gây nguy hại. Đặc tính dé gây phản ứng: Đặc tính này đòi hỏi trong chat thải phải chứa một hoặc nhiều chất dé phan ứng. Nó có thé dé dàng gây nỗ hoặc phóng thích khói, hơi mù, khí độc hại. khi chúng tiếp xúc với nước hay các dung môi.
Đặc tính dé cháy: Loại CTNH mang đặc tinh này thường có chứa chất dé bốc cháy. Nó có thé dé dang gây nồ hoặc phóng thích khói, hơi mù, khí độc hại. khi chúng tiếp xúc với nước hay các dung môi. Đặc tinh dé ăn mòn: Chất ăn mòn là các chất thực hiện phan ứng oxy hoá khử rat mạnh với nguyên vật liệu kim loại hoặc chứa kim loại.
Đặc tính dễ gây độc hại: Chất gây độc hại là chất có tính độc hại hoặc gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và tính mang của con người thông qua ăn uống thực phâm có chứa chúng hoặc hít thở, hap thụ chúng. 5 Khoản 13, Điều 3, Luật bảo vệ môi trường 2014 5 Nguyễn Văn Phương (2006), Mộứ số van dé về khái niệm chất thải, Tạp chí Luật học 10/2006, Hà Nội, trang 40 II v. Chất có tính phóng xạ. CTNH mang đặc tính này thường là loại chất thải được sản sinh ra từ quá trình sản xuất năng lượng hạt nhân, các hoạt động quân sự hay các hoạt động về y học.” Thứ ba: CTNH có thé gây tác động nguy hại cho môi trường và/hoặc sức khỏe con Người.
Điều này có nghĩa là, khi chất thải có mang một trong các đặc tính gây nguy hại mà đặc tính ấy có thể chỉ gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng môi trường, hay chỉ gây tác động nguy hại cho sức khỏe con người, hoặc gây tác động nguy hại đồng thời cho cả hai đối tượng đó đều được xác định là CTNH. Quan điểm này cũng hoàn toàn phù hợp với mục tiêu BVMT mà tat cả các quốc gia trên thế giới đều theo đuổi. BVMT không chi hướng tới bảo vệ sức khỏe con người mà còn bảo vệ chất lượng môi trường sống cho các hệ động thực vật sống khác, bảo vệ tất cả các yếu tố tạo thành môi trường.3 Nguôn gốc của chất thải nguy hại Các loại CTNH phát sinh từ hoạt động sinh hoạt động sinh hoạt của con người thường là những đồ vật đã qua sử dụng mà thường ngày chúng ta không dé ý. Theo thống kê trên thé giới, đặc biệt là ở những nước phát triển, khi nhu cầu của cuộc sống càng cao thì số lượng và chủng loại của các thành phần nguy hại càng nhiều.
e_ Quá trình phát sinh chat thải nguy hại từ hoạt động công nghiệp Hau hết các ngành công nghiệp đều phát sinh CTNH. Số lượng CTNH chiếm tỉ trong lớn thuộc về các ngành công nghiệp chính như sau: Sản xuất hóa chất và được phẩm; Tinh chế kim loại; Các sản phẩm xăng và than đá; Sản xuất và chế biến kim loại; Sản xuât cao su và chât dẻo. Tùy theo từng loại hình công nghiệp và cách thức quản lí ngăn ngừa ngay từ ban đầu mà quá trình sinh ra CTNH từ hoạt động công nghiệp sẽ khác nhau. Các ngành sản xuất thiết bị và máy móc, các sản phâm điện, điện tử và các sản phâm kim loại khác cũng đạt mức tăng trưởng khá mạnh nhưng đồng thời chúng cũng là những nguồn phát sinh CTNH đáng kế.
Đó là một điểm chung của ngành sản xuất đồ điện và điện tử là các hoạt động công nghiệp, đặc biệt đối với các sản phẩm điện tử, chủ yếu là lắp ráp. Các ngành công nghiệp sản xuất và lắp rap ô tô là những nguồn phát sinh CTNH đáng kẻ. e Quá trình phát sinh chat thải nguy hại từ hoạt động y tế Các thành phần nguy hại điển hình chủ yếu phát sinh từ các hoạt động phẫu thuật người, động vật xét nghiệm bao gôm các bộ phận cơ thê và các tô chức nội tạng; các vật 7 Trịnh Thị Thanh - Nguyễn Khắc Kinh (2005), Quản lý chất thải nguy hại, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, trang 10 12 nhọn sắc va dê gãy có tiép xúc với máu, mủ trong quá trình mô xẻ; các chat lỏng sinh học hoặc giây thâm đã sử dụng trong y tê, nha khoa; các gạc, bong băng có máu, mủ của bệnh nhân; các loại ông nghiệm nuôi cây vi trùng trong các phòng xét nghiệm hoặc các loại thuốc hết hạn sử dụng. e Quá trình phát sinh chat thải nguy hai từ các hoạt động khác Ngoài các nguồn phát sinh chính như đã nêu ở trên, còn có một lượng không nhiều bùn cặn chứa kim loại nặng từ các trạm xử lý nước thải công nghiệp, tro thải từ quá trình thiêu đốt CTNH; cặn từ các bồn chứa dau, các loại bao bì đựng hóa chất bảo vệ thực vật cũng như dư lượng của thuốc bảo vệ thực vật.
114 Phân loại chất thải nguy hại Trên thế giới, hiện có một số tiêu chí phân loại CTNH chủ yếu sau: - Hệ thống phân loại theo nguồn chung: Nhằm xác định trách nhiệm quan ly chat thải. Thí dụ: Chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải do hoạt động thương mại. - _ Hệ thống phân loại theo quá trình của nguồn thải: Cho biết nhiều về phế thải và phương thức dé quan lý nó. Thí dụ: Can của quá trình trưng cất anilin (nguồn cụ thể), chất thai từ việc sản xuất thuốc (nguồn không cụ thé).
- _ Hệ thống phân loại CTNH theo nhóm ngành. Đây là hệ thống phân loại sử dung tiêu chuẩn phân loại công nghiệp làm thành tô cơ bản. Cách phân loại này có thé giúp dự đoán được tổng lượng phát thải đối với một khu vực hay một cơ sở công nghiệp. Tuy nhiên, cách phân loại này sẽ hạn chế khi được áp dụng cho một khu vực có nhiều hoạt động công nghiệp trên cùng một địa điểm, nên có thé dẫn đến tình trạng “die đoán hai lân ”.Š Ở Việt Nam, theo thông tư 36/2015/TT-BTNMT do Bộ tài nguyên môi trường ban hành ngày 30 tháng 06 năm 2015 về quản lý CTNH.