BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TUÂN THU- CUONG CHE- GIAM SAT TRONG KIEM SOAT 0 NHIEM MOI TRUONG Có xem xét thực tiễn vi phạm va xử ly vi phạm pháp luật môi trường của Công ty Vedan Việt Nam (DE TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CAP TRUONG) [PHÒNG | a ;40Q. — Chi nhiệm đề tài: TS. VŨ THU HẠNH Bộ môn Luật Môi trường HÀ NOI - 2010 MỤC LỤC T rang | Phan thú nhất | Báo cáo tông quan 2 Phan thir hai Bao cao chuyén dé 64 Chuyên dé 1 Những van dé lý luận về Tuân thủ- Cưỡng chế- Giám sat} 65 trong KSÔN môi trường. Chuyên đề 2 Mối quan hệ giữa Tuân thủ- Cưỡng chế- Giám sát trong| 7l KSÔN môi trường với các lĩnh vực khác có liên quan.
Chuyên đề 3 Đánh giá thực trạng pháp luật về Tuân thủ trong KSÔN môi |_ 77 trường. Chuyên đề 4 Đánh giá thực tiễn Tuân thủ pháp luật trong KSON môi| 85 trường. Chuyên đề 5 Đánh giá thực trạng pháp luật về Cưỡng chế trong KSON| 92 môi trường. Chuyên đề 6 Đánh giá thực tiễn Cưỡng chế trong KSÔN môi trường.
108 Chuyên đề 7 Đánh giá thực trạng pháp luật về Giám sát trong KSÔN môi | 121 trường. Chuyên đề 8 Đánh giá thực tiễn pháp ly về Giám sát trong KSON môi | 133 trường. Chuyên đề 9 Một số van đề về tổ chức bộ máy liên quan đến Tuân thủ-| 141 Cưỡng chế- Giám sát trong KSÔN môi trường. Chuyên đề 10 Kinh nghiệm của một số quốc gia khác về Tuân thủ- Cưỡng | 153 chê- Giám sat trong KSON môi trường.
Phụ lục 160 TL tham khao 164 CAC TU VIET TAT —— BVMT| Bao vé môi trường BTTH | Bồi thường thiệt hại CBM| Cam kết bảo vệ môi trường CSMT | Cảnh sát môi trường PMC| Đánh giá chiến lược môi trường ĐTM| Đánh giá tác động môi trường KSÔN | Kiểm soát ô nhiễm KCN | Khu công nghiệp Phần thứ nhất BAO CAO TONG QUAN A. PHAN MỞ DAU 1. Tinh cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Việt Nam đang trong quá trình day mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Những thành tựu về phát triển kinh tế là đáng ghi nhận, song những tác động tiêu cực đến môi trường cũng đã bộc lộ khá rõ nét.
Tình trạng vi phạm pháp luật BVMT nói chung, vi phạm các quy định pháp luật về KSÔN môi trường nói riêng đang có chiều hướng gia tăng về số lượng, phức tạp về tính chất, gây nhiều bất bình trong dư luận. Điều này bắt nguồn từ việc tuân thủ pháp luật về môi trường không nghiêm, hoạt động cưỡng chế thi hành pháp luật về môi trường gặp nhiều khó khăn, bế tắc do sự hạn chế của các quy định về xử lý vi phạm pháp luật môi trường, cũng như công tác giám sát việc thực thi pháp luật môi trường đạt kết quả thấp do thiếu các thiết chế phù hợp. Tình trạng vi phạm pháp luật môi trường của Công ty Vedan và những vướng mắc trong quá trình xử lý vụ việc của các cơ quan Nhà nước có thâm quyền là một ví dụ điển hình của những hạn chế trong việc Tuân thủ- Cưỡng chế- Giám sát trong lĩnh vực này. Do vậy việc nghiên cứu sự bat cập của các quy định pháp luật về Tuân thủ- Cưỡng chê- Giám sát trong KSON môi trường cũng như những vướng mặc nảy sinh trên thực tế là việc làm có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Tình hình nghiên cứu đề tài Tuân thủ - Cưỡng chế - Giám sát luôn là những nội dung trọng yếu trong mỗi lĩnh vực pháp lý, song trong lĩnh vực môi trường, sự quan tâm nghiên cứu những nội dung trên chưa thực sự tương xứng. Hiện mới chỉ có dé tài “Định lượng hoá khung hình phạt các lội phạm về môi trường" do Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thực hiện năm 2001 (Trong khuôn khổ Dự án SEMA, do SIDA tài trợ) được xem là công trình nghiên cứu chuyên sâu về cưỡng chế hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật môi trường, song đáng tiếc là loại trách nhiệm pháp lý này chưa có điều kiện áp dụng một cách rộng rãi tại Việt Nam nên giá trị thực tiễn của công trình này không nhiều. Các bài báo về tình hình vi phạm pháp luật môi trường nói chung, của Công ty Vedan nói riêng trong thời gian qua đặc biệt chiếm ưu thế về số lượng, song lại chỉ dừng ở mức cung cấp thông tin mà không được xem là có giá tri về mặt nghiên cứu khoa học. Trong các tài liệu nước ngoài có sử dụng tiếng Anh, “Tudn thủ - Cưỡng chế - Giám sát” được dịch nguyên nghĩa từ các thuật ngữ “Compliance- Enforcement- Monitoring”, có một số ấn phẩm có liên quan như: Compendium of summaries of judicial decisions in environment related cases (Trích yêu tóm tắt các quyết định của toà an trong các vụ có liên quan đến môi trường, do Chương trình Môi trường Hợp tác Nam á (SACEP) và Chương trình Môi trường của Liên Hợp quốc - UNEP thực hiện năm 2001).
Tuy nhiên, công trình này chủ yếu tóm lược các kết quả xử lý các vụ việc về môi trường mà không phải là công trình nghiên cứu chuyên sâu về Tuân thủ- Cưỡng chế- Giám sát. Phương pháp nghiên cứu Dẻ tài sử dụng các phương pháp phân tích và khái quát hóa: phương pháp chuyên gia; phương pháp điều tra xã hội học, nghiên cứu, thu thập và kế thừa các kết quả đã có. Phương pháp mô hình hoá cũng được sử dụng để làm tăng tính hiện đại, khoa học của các kết quả nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu của đề tài Mục đích của việc nghiên cứu là làm sáng tỏ những van dé lý luận về Tuân thủ- Cưỡng chế- Giám sát trong lĩnh vực môi trường; đánh giá thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn pháp lý về Tuân thủ- Cưỡng chế- Giám sát trong lĩnh vực nay’, lam co sở cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về Tuân thủ- Cưỡng chế- Giám sát trong lĩnh vực môi trường.
Kết quả nghiên cứu sẽ trực tiếp phục vụ việc giảng dạy môn học Luật môi trường. Phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu, đánh giá việc Tuân thủ- Cưỡng chế- Giám sát trong KSÔN môi trường chủ yêu từ khía cạnh pháp luật thực định và thực tiễn pháp lý tại Việt Nam, đông thời có tham khảo kinh nghiệm quốc tê về vân đê này. Nội dung nghiên cứu: - Nghiên cứu những van dé lý luận về Tuân thủ- Cưỡng chế- Giám sát trong KSON môi trường. - Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn pháp lý của việc Tuân thủ- Cưỡng chê- Giám sát trong KSON môi trường ở Việt Nam trong thời gian qua.
- Đề xuất các giải pháp góp phan hoàn thiện các van dé pháp lý về Tuân thủ- Cưỡng chê- Giám sát trong KSON môi trường. ' Thông qua việc xem xét vụ vi phạm pháp luật môi trường của Công ty Vedan. TÓM TAT NOI DUNG I. NHUNG VAN DE LY LUAN VE TUAN THU- CUGNG CHE- GIAM SAT TRONG KIEM SOAT O NHIEM (KSON) MOI TRUONG 1.
KSON môi trường và những nội dung chính của KSÔN môi trường KSON môi trường (Environmental Pollution Control) là tổng hợp các hoạt động, biện pháp, cách thức và công cụ nhăm phát hiện, loại trừ, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường; phòng ngừa ô nhiễm môi trường: khắc phục, xử lý hậu quả do ô nhiễm môi trường gây nên. Khái niệm KSON môi trường được dùng trước hết dé phân biệt với khái niệm bảo tồn đa dang sinh học (DDSH). Trong khoa học môi trường, bảo vệ môi trường (BVMT) được chia thành hai (02) mảng rõ rệt: mảng nâu và mảng xanh. Các hoạt động có liên quan đến KSÔN được gọi là mảng nâu” (brown), còn các hoạt động liên quan đến bảo tồn đa dang sinh học được gọi là mảng xanh (green).
Cơ cau tô chức và bộ máy quản lý nhà nước về môi trường cũng được phân định theo hướng này. Tổng cục Môi trường (Bộ TN&MT) hiện có 10 đơn vị hành chính trong đó có Cục Kiểm soát ô nhiễm và Cục Bảo tồn đa dạng sinh học. Khái niệm KSÔN môi trường còn được dùng để phân biệt với khái niệm quản lý nhà nước về môi trường. So với quản lý nhà nước về môi trường, KSÔN môi trường cùng có chung mục đích, đó là nhằm phát hiện sớm những biểu hiện của ô nhiễm môi trường dé kịp thời có biện pháp phòng ngừa, khống chế không dé 6 nhiễm môi trường xảy ra.
Nói cách khác, KSÔN và quản lý nhà nước về môi trường đều là quá trình con người chủ động ngăn chặn các tác động xấu từ các hoạt động phát triển kinh tế- xã hội đến môi trường (nhưng nếu vì những lí do nào đó mà ô nhiễm môi trường vẫn xảy ra thì quản lý nhà nước về môi trường và KSÔN môi trường đều tập trung vào các hoạt động xử lý, khắc phục hậu quả, phục hồi, làm sạch lại môi trường). Tuy nhiên, từ khía cạnh chủ thé va cách thức kiểm soát cho thấy, KSON môi trường có phạm vi chủ thể kiểm soát, đối tượng kiểm soát và cách thức kiểm soát rộng hơn so với quản lý nhà nước về môi trường. Cụ thể là: Thứ nhát, chủ thé của KSÔN môi trường không chỉ là nhà nước (thông qua hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường) mà là các doanh nghiệp, các cộng đồng dân cư, các hiệp hội nghề nghiệp, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Nói cách khác, KSON môi trường không chi là trách nhiệm của nhà nước mà là trách nhiệm của toàn xã hội, trách nhiệm của toàn dân; Thứ hai.
KSÔN môi trường không chỉ được thực hiện bằng các công cu, biện pháp mệnh lệnh, hành chinh- luôn được xem là công cụ thiết yếu dé nhà nước quản lý môi trường mà còn được thực hiện đồng bộ bởi các biện pháp, công cụ kinh tế, kĩ thuật, các ? Một sô tài liệu gọi là mảng xám, giải pháp công nghệ, các yếu tố xã hội và yêu tô thị truong., trong đó yếu tố thị trường, yêu tô công luận và tác động xã hội đang được sử dụng ngày một nhiêu. Ngược lại, từ khía cạnh nội dung pháp lý thì KSÔN môi trường có phạm vi hẹp hơn so với nội dung quản lý nhà nước vê môi trường. Theo đó, KSÔN môi trường thường tập trung vào các hoạt động chính sau đây: Mot /à, thu thập. quản lý và cung cap các thông tin về môi trường, bao gồm các hoạt động quan trắc môi trường, xây dựng và quản lý thông tin, cơ sở dit liệu về KSON, tổ chức đánh gia, dự báo tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường.