phần mở đầu và kết luận nội dung chính gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm của người vận chuyển hàng không về những thiệt hại xảy ra đối với hành khách trong quá trình vận chuyển. Chƣơng 2: Pháp luật Việt Nam điều chỉnh trách nhiệm của người vận chuyển hàng không đối với những thiệt hại của hành khách trong quá trình vận chuyển. Chƣơng 3: Đánh giá quy định pháp luật về trách nhiệm của người vận chuyển đối với thiệt hại của hành khách trong quá trình vận chuyển và một số kiến nghị. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƢỜI VẬN CHUYỂN HÀNG KHÔNG VỀ NHỮNG THIỆT HẠI XẢY RA ĐỐI VỚI HÀNH KHÁCH TRONG QUÁ TRÌNH VẬN CHUYỂN 1.
Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm của ngƣời vận chuyển hàng không về những thiệt hại xảy ra đối với hành khách trong quá trình vận chuyển. Khái niệm trách nhiệm của ngƣời vận chuyển hàng không về những thiệt hại xảy ra đối với hành khách trong quá trình vận chuyển. Trách nhiệm của người vận chuyển hàng không về những thiệt hại xảy ra đối với hành khách trong quá trình vận chuyển là trách nhiệm dân sự và cụ thể hơn nữa là trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển. Trước khi tìm hiểu một cách cặn kẽ nội dung của trách nhiệm này cần phải hiểu rõ một số khái niệm liên quan đến phạm vi vấn đề sau đây: Thứ nhất, khái niệm trách nhiệm BTTH: theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trách nhiệm BTTH được BLDS năm 2005 quy định tại Điều 307 về trách nhiệm BTTH nói chung và chương XXI về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.
Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm trách nhiệm BTTH mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường… Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý đã cho thấy rằng mỗi người sống trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại. Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm BTTH là một hình thức của trách nhiệm dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.
Thứ hai, khái niệm người vận chuyển hàng không: người vận chuyển hàng không bao gồm người vận chuyển hàng không phát hành vận đơn hàng không và tất cả những người vận chuyển trực tiếp hoặc cam kết vận chuyển hàng hóa hoặc thực hiện bất kỳ các dịch vụ nào khác liên quan đến việc vận chuyển. Hay nói cách khác người vận chuyển hàng không là người xuất vé và tất cả các người vận chuyển hàng không vận chuyển và cam kết vận chuyển hành khách và hành lý của hành khách hoặc thực hiện hay cam kết thực hiện các dịch vụ khác liên quan đến việc vận chuyển bằng đường không đó. [18] Thứ ba, khái niệm hành khách: hành khách ở đây được hiểu là bất kỳ người nào, ngoại trừ tổ bay, được vận chuyển hoặc sẽ được vận chuyển trên tàu bay với sự đồng ý của người vận chuyển. Thứ tƣ, khái niệm hành lý: hành lý được hiểu là những vật phẩm, đồ dùng và tư trang của hành khách được xem là cần thiết hoặc thích hợp cho việc mang, sử dụng, cho sự thoải mái hoặc tiện lợi trong chuyến đi.
Trừ khi được xác định khác đi, hành lý bao gồm hành lý ký gửi và hành lý xách tay của hành khách. Trong đó, hành lý ký gửi là hành lý của hành khách được chuyên chở trong tàu bay mà người vận chuyển chịu trách nhiệm bảo quản và xuất thẻ hành lý; hành lý xách tay là bất kỳ hành lý nào của hành khách không phải là hành lý ký gửi. Hành lý xách tay được phép mang theo lên cabin máy bay cùng với hành khách và do hành khách tự bảo quản trong suốt chuyến đi. Liên 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan đến khái niệm hành lý còn có khái niệm về thẻ hành lý; vé hành lý; hành lý miễn cước; hành lý tính cước và vé.
Cụ thể: - Thẻ hành lý: là chứng từ do người vận chuyển ban hành cho các mục đích: nhận biết hành lý; xác định hành trình của hành lý; xác định tính chất, trạng thái của hành lý; là cơ sở để hành khách khiếu nại hãng vận chuyển khi có bất thường xảy ra đối với hành lý. - Vé hành lý: là phần của vé hành khách và hành lý có liên quan đến việc vận chuyển hành lý ký gửi của hành khách. - Hành lý miễn cước: là lượng hành lý mà hành khách được phép mang theo không phải trả tiền cước phí vận chuyển và hành lý phải tuân thủ các điều kiện và giới hạn được nêu trong qui định của người vận chuyển. - Hành lý tính cước: là lượng hành lý vượt quá mức hành lý miễn cước cho phép.
Hành khách phải trả cước phí cho số hành lý vượt quá này theo phương thức nêu trong qui định của người vận chuyển. - Vé: là chứng từ được mang tên “vé hành khách và hành lý ký gửi” do người vận chuyển hoặc người thay mặt người vận chuyển xuất và bao gồm điều kiện hợp đồng và các bị chú cùng các tờ vận chuyển và tờ hành khách ở trong đó. Thứ năm, khái niệm hàng hóa: hàng hóa là bất kỳ thứ gì được chuyên chở trên máy bay ngoại trừ bưu kiện, hành lý ký gửi hoặc hành lý xách tay mà người vận chuyển chịu trách nhiệm bảo quản và xuất vận đơn hàng không (AWB=Air Waybill) (Theo định nghĩa của The Air Cargo Tariff Rules – TACT – April 1999 issue 48 của IATA). Vận đơn hàng không là chứng từ dành cho việc vận chuyển hàng hóa.
Tất cả hàng hóa được vận chuyển, tất cả những kiện hàng nào được để trên máy bay dù được trả cước hay không trả cước đều phải có vận đơn hàng không kèm theo.[18] 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ sáu, khái niệm tư trang của hành khách: tư trang là những vật dụng mà hành khách mang theo lên khoang hành khách và được hành khách tự bảo quản cùng với hành lý xách tay ví dụ như tiền, vàng, giấy tờ tùy thân… Ngoài những khái niệm trên tác giả cũng thấy cần thiết phải làm rõ cụm từ “trong quá trình vận chuyển” tức thời hạn trách nhiệm là điều khoản quy định trách nhiệm của người vận chuyển về mặt thời gian và không gian. Theo đó, đối với hành lý và hàng hóa giai đoạn được vận chuyển bằng tầu bay ở đây bao gồm toàn bộ thời gian mà hành lý và hàng hóa nằm trong sự bảo quản của người vận chuyển không kể nó ở tại sân bay, trên tầu bay, hay trong trường hợp tầu bay hạ cánh ở ngoài sân bay hoặc ở bất kỳ nơi nào khác. Việc vận chuyển bằng tầu bay không bao gồm việc vận chuyển bằng đường bộ, đường biển, hay đường sông, nhưng nếu việc vận chuyển đó là việc thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng không, nhằm mục đích lấy hàng, giao hàng hay chuyển tải, thì bất kỳ thiệt hại nào cũng được coi là xảy ra trong khi vận chuyển hàng không. Đối với hành khách, người vận chuyển phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại thân thể của họ xảy ra trên tầu bay hay trong toàn bộ phạm vi hoạt động nhằm lấy khách và trả khách.
Hoạt động nhằm lấy khách và trả khách phải được hiểu là từ thời điểm hành khách bước ra sân đậu để lên tầu bay (hoạt động lấy khách) và từ thời điểm hành khách bước ra khỏi tầu bay cho đến khi ra khỏi sân đậu (hoạt động trả hành khách); hoặc từ thời điểm hành khách bước ra khỏi đường ống để vào nhà ga (trả khách), trừ khi người vận chuyển có cam kết đặc biệt. Đặc điểm trách nhiệm của ngƣời vận chuyển hàng không đối với những thiệt hại của hành khách trong quá trình vận chuyển. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trách nhiệm của người vận chuyển hàng không đối với những thiệt hại của hành khách trong quá trình vận chuyển cũng là một loại trách nhiệm dân sự nên nó cũng có những đặc điểm chung của trách nhiệm dân sự là do luật dân sự điều chỉnh; luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng; được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước; được cấu thành bởi các yếu tố lỗi, hành vi vi phạm, thiệt hại thực tế, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại xảy ra…Đồng thời trong phạm vi là trách nhiệm của người vận chuyển hàng không nó cũng mang những đặc điểm riêng biệt sau: Thứ nhất, trách nhiệm của người vận chuyển hàng không được điều chỉnh bởi các công ước quốc tế về vận chuyển hàng không, luật hàng không dân dụng và các văn bản liên quan. Trong các văn bản này vấn đề trách nhiệm của người vận chuyển hàng không đối với thiệt hại của hành khách trong quá trình vận chuyển được quy định khá cụ thể, ví dụ như vấn đề về thời hạn trách nhiệm; cơ sở của trách nhiệm hay giới hạn trách nhiệm… Thứ hai, vận chuyển hàng không có thể xảy ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia nhưng cũng có thể xảy ra ở nhiều lãnh thổ nên khi phát sinh tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của người vận chuyển hàng không vấn đề cơ quan nào thuộc quốc gia lãnh thổ nào có thẩm quyền xem xét cũng là một vấn đề phức tạp và thường được luật pháp mỗi quốc gia quy định rất cụ thể để tránh phát sinh tranh chấp hay mâu thuẫn về thẩm quyền nó khác với những loại trách nhiệm đơn thuần chỉ do luật quốc gia điều chỉnh.
Thứ ba, Do đặc tính của việc vận chuyển trên không nên khách hàng của người vận chuyển phải tuân thủ những quy định rất nghiêm ngặt khi sử dụng dịch vụ vận chuyển này. Vì vậy việc xác định lỗi trong trách nhiệm của người vận chuyển hàng không thường rất chặt chẽ và là cơ sở quan trọng để người vận chuyển được miễn giảm trách nhiệm của mình khi có thiệt hại xảy ra với hành khách. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.