Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, việc hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm của cải cách hành chính. Một văn bản quy phạm pháp luật chỉ thực sự phát huy hiệu lực điều chỉnh khi phản ánh đúng nhu cầu khách quan của đời sống, bảo đảm tính khả thi và nhận được sự đồng thuận của xã hội. Trong cơ chế đó, cơ quan truyền thông giữ vai trò là thiết chế kết nối hai chiều giữa Nhà nước và công dân: vừa đưa chủ trương, dự thảo chính sách đến với người dân, vừa tiếp nhận và phản ánh ý kiến đóng góp, phản biện xã hội trở lại các cơ quan lập pháp, hành pháp.

Thực tiễn xây dựng pháp luật thời gian qua cho thấy công tác thông tin, truyền thông dự thảo chính sách còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn; một số quy định khi ban hành thiếu tính đồng thuận hoặc chưa dự liệu hết tác động xã hội do thiếu thông tin đa chiều từ khâu soạn thảo. Trước yêu cầu đổi mới công tác lập pháp theo tinh thần các Nghị quyết của Đảng và quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đề tài "Trách nhiệm của cơ quan truyền thông trong quy trình xây dựng pháp luật" được tác giả Trần Duy Anh lựa chọn nghiên cứu nhằm làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về quy trình xây dựng pháp luật, thiết chế cơ quan truyền thông và nội dung trách nhiệm của cơ quan truyền thông trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
  2. Khảo sát, phân tích thực trạng thực hiện trách nhiệm của các cơ quan truyền thông tại Việt Nam trong hoạt động truyền thông chính sách và phản biện xã hội, chỉ ra những thành tựu đạt được, hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân.
  3. Đề xuất hệ thống các giải pháp có cơ sở khoa học và tính khả thi nhằm tăng cường trách nhiệm, nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan truyền thông trong quy trình xây dựng pháp luật giai đoạn hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm chính trị - xã hội của cơ quan truyền thông trong hoạt động xây dựng pháp luật.
  • Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu hoạt động của các cơ quan truyền thông và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên lãnh thổ Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Xem xét các vấn đề lý luận và thực tiễn của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật kể từ khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) có hiệu lực thi hành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, truyền thông; quán triệt các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí (Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, XII, XIII; Nghị quyết Trung ương 5 khóa X; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020; Quy chế giám sát và phản biện xã hội ban hành theo Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị).

Hệ thống khung pháp lý và chính sách trực tiếp điều chỉnh đề tài gồm:

  • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP;
  • Luật Báo chí năm 2016;
  • Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/03/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022 - 2027";
  • Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 21/03/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác truyền thông chính sách.

Tác giả kế thừa các kết quả nghiên cứu học thuật trong và ngoài nước về quản lý truyền thông và khoa học pháp lý, tiêu biểu như: lý thuyết quan hệ công chúng và quản lý truyền thông của Jane Johnston, Clara Zawawi (2009), Howard Nothaft (2010), Stephen W. Littlejohn và Karen A. Foss (2008); giáo trình và chuyên khảo của GS.TS. Tạ Ngọc Tấn (2004), PGS.TS. Đinh Thị Thúy Hằng (2008, 2010), PGS.TS. Nguyễn Văn Dũng (2012), Đỗ Chí Nghĩa (2012), PTS. Nguyễn Hữu Khiển (1999), TS. Nguyễn Văn Hiển, TS. Đinh Trung Tụng và TS. Nguyễn Đức Đam.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ:

  • Phương pháp luận: Sử dụng phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét mối quan hệ giữa truyền thông và quyền lực nhà nước trong bối cảnh cụ thể của hệ thống chính trị Việt Nam.
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Khảo cứu, tổng hợp các văn kiện, công trình khoa học, báo cáo chuyên đề và văn bản pháp luật hiện hành.
  • Phương pháp phân tích nội dung và quy phạm: Chiết tự, làm rõ nội hàm các khái niệm ("quy trình xây dựng pháp luật", "thiết chế truyền thông", "trách nhiệm pháp lý"), đối chiếu các điều khoản luật thực định.
  • Phương pháp thống kê, so sánh và kết hợp lý luận với thực tiễn: Thu thập số liệu về hệ thống cơ quan báo chí từ Bộ Thông tin và Truyền thông; so sánh quy trình lập pháp của Việt Nam với kinh nghiệm quốc tế; phân tích các tình huống lập pháp thực tế trên báo chí để rút ra luận cứ khoa học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về trách nhiệm của cơ quan truyền thông trong quy trình xây dựng pháp luật

Chương 1 thiết lập hệ thống khái niệm nền tảng và phân tích cấu trúc quy trình lập pháp cùng nội dung trách nhiệm của cơ quan truyền thông:

  • Khái niệm và đặc điểm quy trình xây dựng pháp luật: Quy trình xây dựng pháp luật được hiểu theo nghĩa hẹp là trình tự các bước thông qua, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; theo nghĩa rộng bao gồm chuỗi hoạt động từ lập chương trình, đề nghị, lấy ý kiến, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, chỉnh lý, thảo luận đến thông qua và công bố. Tác giả chỉ ra 5 lý do quy trình này phải tuân thủ nghiêm ngặt: (1) bảo đảm tính khoa học; (2) nâng cao tính khả thi; (3) bảo đảm tính khách quan, công khai, minh bạch; (4) bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ; (5) xác định rõ cơ chế phối hợp và phân định trách nhiệm của các chủ thể.
  • Quy trình 5 bước theo thủ tục thông thường:
    1. Bước 1: Lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật;
    2. Bước 2: Soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật;
    3. Bước 3: Thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản;
    4. Bước 4: Trình văn bản quy phạm pháp luật;
    5. Bước 5: Thông qua và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
  • Bản chất thiết chế và trách nhiệm của cơ quan truyền thông: Thiết chế truyền thông bao gồm tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất, nhân sự làm báo, kinh phí và cơ chế hoạt động. Trách nhiệm của cơ quan truyền thông theo nghĩa rộng là nghĩa vụ chủ động thực hiện đầy đủ các quyền và bổn phận theo luật định nhằm bảo đảm tính công khai, dân chủ; theo nghĩa hẹp là việc gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi khi vi phạm các quy định về thông tin, tuyên truyền trong quy trình lập pháp.
  • Nội dung trách nhiệm theo hai giai đoạn trọng tâm:
    • Giai đoạn lập đề nghị (Truyền thông chính sách): Phân tích 4 tiêu chí bắt buộc phải tổ chức truyền thông dự thảo chính sách theo Quyết định số 407/QĐ-TTg; 5 yêu cầu bắt buộc đối với thông tin truyền thông (khách quan/chính xác, tính hệ thống, tương tác hai chiều, kịp thời/cẩn trọng, đa dạng hóa nền tảng số); quy trình 3 bước thực hiện (lựa chọn nội dung gắn với 5 nhóm tác động -> xây dựng kế hoạch -> tiếp nhận và xử lý tài liệu truyền thông từ cơ quan chủ trì).
    • Giai đoạn soạn thảo (Giám sát và phản biện xã hội): Xác định phản biện xã hội của truyền thông là công cụ kiểm chứng tính đúng đắn, khoa học, tính khả thi của chính sách; kiểm soát quyền lực nhà nước; phân định hai phương thức phản biện (phản biện trực tiếp bởi cơ quan báo chí/nhà báo và phản biện thông qua việc tạo diễn đàn cho chuyên gia, nhà khoa học, nhân dân).

Chương 2: Thực trạng trách nhiệm của cơ quan truyền thông trong quy trình xây dựng pháp luật tại Việt Nam

Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn về hoạt động của hệ thống truyền thông trong công tác xây dựng pháp luật, dựa trên các số liệu và trường hợp lập pháp điển hình:

  • Quy mô hệ thống báo chí, truyền thông: Số liệu từ Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy Việt Nam hiện có 808 cơ quan báo chí (gồm 138 báo, 670 tạp chí). Hệ thống truyền thông đa phương tiện chủ lực gồm 06 cơ quan: Báo Nhân Dân, Báo Quân đội nhân dân, Báo Công an nhân dân, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV), Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) với 15 cơ quan báo chí nòng cốt (11 báo, 03 tạp chí, Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC). Tổng nhân sự báo chí đạt khoảng 41.000 người (khối báo in và báo điện tử chiếm hơn 24.000 người; khối phát thanh, truyền hình chiếm khoảng 16.000 người).
  • Thành tựu trong truyền thông chính sách và phản biện xã hội:
    • Truyền thông chính sách ngày càng cởi mở, minh bạch; các phương tiện truyền thông mở rộng diễn đàn đối thoại trực tuyến, tạo không gian lấy ý kiến nhân dân đối với các dự thảo luật phức tạp.
    • Các ví dụ lập pháp thực tiễn được phân tích chi tiết:
      • Luật Bảo hiểm xã hội: Báo chí (tiêu biểu như VnExpress) phản ánh kịp thời các luồng ý kiến tranh luận tại Quốc hội và nguyện vọng của người lao động đối với quy định hưởng bảo hiểm xã hội một lần.
      • Hiến pháp năm 2013: Truyền thông toàn diện các chủ trương sửa đổi, đăng tải công khai toàn văn dự thảo để huy động hàng triệu lượt ý kiến đóng góp của nhân dân.
      • Dự án Luật Đất đai (sửa đổi): Báo điện tử VTV News triển khai chuỗi bài viết liên tục từ cuối năm 2022 đến các kỳ họp Quốc hội năm 2023, nhấn mạnh yêu cầu lấy ý kiến nhân dân phải thực chất, công khai, minh bạch, tránh hình thức.
      • Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi: Truyền thông đa chiều về quy định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (được Quốc hội thông qua ngày 19/06/2014, có hiệu lực năm 2015), vừa làm nổi bật tính nhân văn đối với các cặp vợ chồng hiếm muộn, vừa cảnh báo nguy cơ thương mại hóa để cơ quan soạn thảo bổ sung các điều kiện pháp lý chặt chẽ.
      • Bộ luật Lao động năm 2019: Báo chí tổ chức thăm dò ý kiến, phỏng vấn chuyên gia và công nhân về thời giờ làm việc, bảo đảm quyền lợi người lao động.
  • Hạn chế và nguyên nhân tồn tại:
    • Một số cơ quan truyền thông còn đưa tin phiến diện, thiếu chiều sâu phân tích tác động chính sách; hoạt động phản biện xã hội đôi lúc còn chậm trễ hoặc mang tính hình thức.
    • Cơ chế phối hợp, cung cấp tài liệu từ cơ quan chủ trì soạn thảo sang cơ quan báo chí ở khâu lập đề nghị còn thiếu đồng bộ; nguồn lực, kỹ năng phân tích chính sách pháp luật của đội ngũ phóng viên, biên tập viên chưa đồng đều.

Chương 3: Giải pháp tăng cường trách nhiệm của cơ quan truyền thông trong quy trình xây dựng pháp luật

Chương 3 đề xuất hệ thống 8 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao trách nhiệm và chất lượng hoạt động của cơ quan truyền thông trong quy trình lập pháp:

  1. Hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm của cơ quan truyền thông: Chuẩn hóa trách nhiệm phối hợp, thời hạn cung cấp thông tin dự thảo văn bản quy phạm pháp luật giữa cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan báo chí.
  2. Nâng cao năng lực của cơ quan truyền thông: Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp lý, kỹ năng phân tích chính sách công cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên chuyên trách mảng lập pháp.
  3. Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức: Thiết lập đầu mối thông tin thường trực hai chiều giữa ban soạn thảo, tổ biên tập với các cơ quan truyền thông chủ lực.
  4. Nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện chức năng phản biện xã hội: Xác định chính xác nội dung, hình thức, phương pháp phản biện; xây dựng các tuyến bài điều tra, tọa đàm khoa học có hàm lượng chuyên môn cao.
  5. Hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo đảm thực hiện chức năng phản biện xã hội: Ban hành cơ chế tiếp thu, phản hồi và giải trình bắt buộc của cơ quan soạn thảo đối với các kiến nghị phản biện từ báo chí.
  6. Phát triển các nguồn lực báo chí: Đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và bảo đảm nguồn kinh phí ổn định cho hoạt động truyền thông dự thảo chính sách.
  7. Đẩy mạnh nghiên cứu tổng kết thực tiễn, xây dựng cơ sở pháp lý cho phản biện xã hội: Đánh giá định kỳ hiệu quả tác động của báo chí trong từng dự án luật cụ thể để rút kinh nghiệm lập pháp.
  8. Xây dựng nền báo chí, truyền thông "cách mạng, chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại": Thực hiện nghiêm quy hoạch báo chí, giữ vững tôn chỉ mục đích và đạo đức nghề nghiệp của người làm báo.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các tiêu chí pháp lý và quy trình tổ chức truyền thông chính sách trong xây dựng pháp luật theo các quy định hiện hành:

Tiêu chí xác định dự thảo chính sách cần truyền thông (Quyết định 407/QĐ-TTg) Quy trình 3 bước tổ chức truyền thông chính sách của cơ quan truyền thông Các khía cạnh đánh giá tác động chính sách cần truyền thông
Tiêu chí 1: Chính sách trong văn bản bắt buộc phải lập đề nghị xây dựng trước khi soạn thảo (Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết QH/UBTVQH, Nghị định CP, Nghị quyết HĐND cấp tỉnh). Bước 1: Lựa chọn và xác định nội dung truyền thông dự thảo chính sách dựa trên 4 tiêu chí và 5 nội dung đánh giá tác động. 1. Tác động kinh tế (chi phí, lợi ích của đối tượng chịu tác động và ngân sách nhà nước).
Tiêu chí 2: Tác động trực tiếp làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của người dân, tổ chức, doanh nghiệp. Bước 2: Xây dựng kế hoạch tổ chức truyền thông (xác định rõ đối tượng, hình thức, tiến độ và phân bổ kinh phí). 2. Tác động xã hội (việc làm, an sinh, y tế, giáo dục).
Tiêu chí 3: Vấn đề khó, phức tạp, nhạy cảm, dư luận xã hội quan tâm hoặc có nhiều ý kiến khác nhau. Bước 3: Tiếp nhận, biên tập và xử lý tài liệu truyền thông chính thống do cơ quan chủ trì soạn thảo cung cấp. 3. Tác động giới và nhóm yếu thế.
Tiêu chí 4: Chính sách có phạm vi tác động trên toàn quốc hoặc trên toàn địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 4. Tác động thủ tục hành chính (khả năng tuân thủ, quy trình thực hiện).
5. Tác động tới hệ thống pháp luật và điều ước quốc tế.

Đóng góp cụ thể của công trình:

  • Về mặt lý luận: Phân định rõ hai nội dung trách nhiệm cơ bản của thiết chế truyền thông trong quy trình lập pháp: trách nhiệm truyền thông chính sách ở giai đoạn lập đề nghị và trách nhiệm phản biện xã hội kiểm soát chất lượng ở giai đoạn soạn thảo; làm rõ khái niệm thiết chế truyền thông dưới góc độ luật học.
  • Về mặt thực tiễn: Khắc phục tính chung chung của các nghiên cứu trước đây bằng việc lượng hóa quy mô hệ thống báo chí Việt Nam, phân tích các trường hợp lập pháp cụ thể (Luật Đất đai, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Hôn nhân và Gia đình, Bộ luật Lao động) và đề xuất 8 nhóm giải pháp bám sát thực tiễn triển khai Quyết định 407/QĐ-TTg và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các cơ quan báo chí chính thống và khung pháp lý thực định tại Việt Nam từ năm 2015 đến năm 2023; chưa có điều kiện khảo sát sâu số liệu định lượng về mức độ tương tác của công chúng trên các nền tảng mạng xã hội và truyền thông số phi chính thức.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu cơ chế kiểm soát và xử lý thông tin sai lệch, tin giả đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trên môi trường mạng xã hội;
    • Nghiên cứu ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo trong việc thu thập, phân tích dư luận xã hội phục vụ công tác soạn thảo và thẩm định chính sách pháp luật.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên, nhà nghiên cứu ngành Luật học, Báo chí học, Truyền thông đại chúng, Quản lý nhà nước và Chính sách công khi tìm hiểu về kỹ thuật lập pháp, truyền thông chính sách và phản biện xã hội.
  • Cán bộ pháp chế, thành viên ban soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật tại các Bộ, ngành và địa phương: tham khảo khung 4 tiêu chí và quy trình 3 bước tổ chức truyền thông dự thảo chính sách để xây dựng kế hoạch phối hợp với cơ quan báo chí.
  • Phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí, truyền hình: sử dụng làm tài liệu tham khảo về phương pháp tiếp cận, 5 nội dung phân tích đánh giá tác động chính sách khi thực hiện các tuyến bài phản biện pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận xác định 4 tiêu chí để một dự thảo chính sách bắt buộc phải thực hiện truyền thông theo Quyết định 407/QĐ-TTg là gì?
Dự thảo chính sách phải đáp ứng đủ 4 tiêu chí: (1) Được ban hành trong các văn bản quy phạm pháp luật mà Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định phải lập đề nghị trước khi soạn thảo; (2) Tác động trực tiếp làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của người dân, tổ chức, doanh nghiệp; (3) Được xác định là vấn đề khó, phức tạp, nhạy cảm, dư luận xã hội quan tâm hoặc có nhiều ý kiến khác nhau; (4) Có phạm vi tác động trên toàn quốc hoặc toàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

2. Quy mô hệ thống báo chí và lực lượng nhân sự tại Việt Nam được tác giả trích dẫn số liệu cụ thể như thế nào?
Theo số liệu từ Bộ Thông tin và Truyền thông được trích dẫn trong Chương 2, Việt Nam có 808 cơ quan báo chí (138 báo, 670 tạp chí), trong đó có 06 cơ quan truyền thông đa phương tiện chủ lực với 15 cơ quan báo chí nòng cốt. Tổng nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí là khoảng 41.000 người (hơn 24.000 người thuộc khối báo in và báo điện tử; khoảng 16.000 người thuộc khối phát thanh, truyền hình).

3. Cơ quan truyền thông đã thể hiện vai trò phản biện xã hội đối với nội dung mang thai hộ trong Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi ra sao?
Báo chí (tiêu biểu như VnExpress) đã phản ánh đa chiều từ ý kiến chuyên gia y tế, pháp lý và bạn đọc về cả khía cạnh nhân đạo lẫn nguy cơ thương mại hóa. Nhờ đó, Quốc hội đã thông qua quy định cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo vào ngày 19/06/2014 nhưng đi kèm các điều kiện kiểm soát nghiêm ngặt: chỉ được mang thai hộ 01 lần, phải là người thân thích cùng hàng bên vợ hoặc bên chồng, phải có xác nhận y tế, tư vấn pháp lý - tâm lý và có văn bản đồng ý của người chồng nếu người mang thai hộ đã kết hôn.

4. Trong giai đoạn lập đề nghị, cơ quan truyền thông cần tập trung đánh giá 5 nhóm tác động chính sách nào?
Cơ quan truyền thông cần bám sát 5 nội dung đánh giá tác động: (1) Tác động kinh tế (chi phí và lợi ích của các bên); (2) Tác động xã hội (việc làm, y tế, giáo dục); (3) Tác động giới và các nhóm yếu thế; (4) Tác động thủ tục hành chính (chi phí tuân thủ, thời gian, quy trình); (5) Tác động tới quyền cơ bản của công dân, tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tính tương thích với các điều ước quốc tế.

5. Tác giả đề xuất bao nhiêu nhóm giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm của cơ quan truyền thông trong quy trình lập pháp?
Tác giả xây dựng hệ thống gồm 8 nhóm giải pháp tại Chương 3: (1) Hoàn thiện quy định pháp luật; (2) Nâng cao năng lực cơ quan truyền thông; (3) Bảo đảm cơ chế phối hợp; (4) Nâng cao chất lượng phản biện xã hội về nội dung, hình thức, phương pháp; (5) Hoàn thiện cơ chế chính sách bảo đảm phản biện; (6) Phát triển nguồn lực báo chí; (7) Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, hoàn thiện cơ sở pháp lý; (8) Xây dựng nền báo chí cách mạng, chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Duy Anh đã giải quyết thấu đáo các vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm của cơ quan truyền thông trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam. Công trình làm nổi bật tính tất yếu của việc truyền thông dự thảo chính sách ngay từ giai đoạn lập đề nghị và khẳng định giá trị của phản biện xã hội trong khâu soạn thảo nhằm nâng cao chất lượng lập pháp. Hệ thống 8 nhóm giải pháp được đề xuất có giá trị ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho việc hoàn thiện thể chế và nâng cao tính dân chủ, minh bạch của hệ thống pháp luật Việt Nam.