phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự. Chƣơng II: Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự. Chƣơng III: Thực tiễn và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trách nhiệm chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình chứng minh vụ án hình sự. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.
Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự 1. Khái niệm trách nhiệm chứng minh trong vụ án hình sự Pháp luật TTHS Việt Nam góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi ngƣời ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Bộ luật TTHS quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các CQTHTT; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những ngƣời tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những ngƣời tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân; hợp tác quốc tế trong TTHS, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan ngƣời vô tội. Với sứ mệnh quan trọng của mình trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật TTHS đề cao trách nhiệm chứng minh tội phạm để tránh làm oan ngƣời vô tội, không bỏ lọt tội phạm.
Trách nhiệm chứng minh tội phạm là một nội dung trong nguyên tắc xác định sự thật của vụ án trong Bộ luật TTHS. Để có thể làm rõ khái niệm trách nhiệm chứng minh tội phạm, trƣớc hết cần làm rõ khái niệm “trách nhiệm”. Theo từ điển tiếng việt thông dụng thì “Trách nhiệm” đƣợc hiểu: “Là phần việc đƣợc giao cho hoặc coi nhƣ đƣợc giao cho. Phải bảo đảm làm tròn nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả”.
Thuật ngữ “Trách nhiệm” theo nghĩa là thể hiện khả năng của một cá nhân, tổ chức thừa nhận về những gì mình đã làm khi thực hiện một việc nào đó; đồng thời, nó bao hàm nghĩa vụ giải thích, báo cáo, thông tin, biện giải về những việc đó và những hệ quả, cũng nhƣ việc sẵn 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sàng chịu sự đánh giá, phán xét, thậm chí là trừng phạt cả về mặt pháp lý và đạo đức đối với những hệ quả đó. Theo từ điển tiếng việt thì “ Trách nhiệm” đƣợc hiểu là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình. Thuật ngữ "Trách nhiệm" thƣờng đƣợc hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất, trách nhiệm là nghĩa vụ, bổn phận của một ngƣời trƣớc ngƣời khác, trƣớc xã hội hoặc Nhà nƣớc.
Ví dụ, trách nhiệm của nhân viên với lãnh đạo, trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ môi trƣờng sống; trách nhiệm của bố mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con cái v. Thứ hai, trách nhiệm là hậu quả bất lợi mà một ngƣời phải gánh chịu trƣớc ngƣời khác, trƣớc xã hội hoặc Nhà nƣớc do đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ, bổn phận nào đó. Nhƣ vậy, có thể hiểu trách nhiệm là nhiệm vụ đƣợc phân công theo chức trách của mỗi cá nhân, đảm bảo phải hoàn thành và phải gánh chịu hậu quả bất lợi khi không hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao hoặc có nghĩa vụ phải hoàn thành. Thuật ngữ “chứng minh” đƣợc hiểu là xác định là có căn cứ đúng hay sai có hay không dùng suy luận logic để vạch rõ vấn đề [29, tr239].
Chứng minh là một hoạt động nhận thức chân lý của con ngƣời, hoạt động chứng minh tiến hành trong nhiều lĩnh vực, tuy nhiên đặc điểm chung là việc chủ thể sử dụng những phƣơng tiện để làm sáng tỏ sự thật khách quan, khẳng định tính đúng đắn của một vấn đề nào đó để tìm ra chân lý. Hoạt động chứng minh là một trong những hoạt động thực tiễn của con ngƣời và có mặt trong nhiều lĩnh vực cụ thể. Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, hoạt động là “làm những việc khác nhau với mục đích nhất định trong xã hội” [54, tr.475]; chứng minh là “dùng lý lẽ, suy luận, bằng cứ để chỉ rõ điều gì đó là đúng hay không đúng” [54, tr.Trong TTHS chứng minh là quá trình khôi phục lại sự thật khách quan của vụ án, là quá trình nhận thức sự thật khách quan. Cơ sở lý luận nhận thức của hoạt động nhận thức này chính là lý luận nhận thức của triết học Mác – Lênin.
Lý luận nhận thức Mác – Lênin khẳng định rằng: Nhận thức là sự phản ánh biện chứng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tích cực, sự phản ánh đó là một quá trình vận động và phát triển không ngừng tự không biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tƣợng đến bản chất, từ thấp đến cao, từ nông đến sâu để nắm đƣợc bản chất quy luật của sự vật và hiện tƣợng. Trong thế giới khách quan, không có gì là con ngƣời không nhận thức đƣợc, mà chỉ có những cái con ngƣời chƣa nhận thức đƣợc nhƣng dần dần cũng sẽ nhận thức đƣợc. Nhƣ vậy, trong VAHS hoạt động chứng minh đƣợc tiến hành bằng việc phát hiện, thu thập chứng cứ từ các nguồn khác nhau và sử dụng chứng cứ này làm nguồn phƣơng tiện chứng minh làm rõ các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án. Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự có thể hiểu là “quá trình tƣ duy và thực tiễn của CQĐT, VKS, TA và những ngƣời có quyền chứng minh dựa trên cơ sở những quy định của pháp luật tố tụng hình sự để thu thập, kiểm tra và đánh giá các thông tin, tài liệu cần thiết nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn, khách quan vụ án” [48,tr.183] Chứng minh trong VAHS là một hoạt động khá phức tạp, đó là việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật của vụ án.
Để giải quyết đúng đắn VAHS, các CQTHTT và ngƣời THTT có trách nhiệm áp dụng mọi biện pháp để chứng minh sự thật của vụ án. Những vụ án xảy ra luôn để lại những dấu vết trong thế giới khách quan, đƣợc con ngƣời và môi trƣờng vật chất phản ánh lại [27,tr8-9]. Chứng minh trong VAHS bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án, gồm nhiều hoạt động khác nhau nhƣ điều tra, truy tố, xét xử. Trong mỗi giai đoạn lại chứa đựng những nội dung cần chứng minh khác nhau cho nên trách nhiệm của từng CQTHTT và ngƣời THTT sẽ khác nhau nhƣng đều đòi hỏi phải tuân theo trình tự và thủ tục mà Bộ luật TTHS quy định.
Chứng minh trong VAHS là quá trình các chủ thể của TTHS trên cơ sở quy định của pháp luật TTHS tiến hành phát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và sử dụng các chứng cứ thu thập đƣợc làm phƣơng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiện, căn cứ để xác định, làm rõ về tội phạm và ngƣời thực hiện hành vi phạm tội cũng nhƣ tất cả những vấn đề liên quan đến vụ án. Trách nhiệm chứng minh nhìn từ góc độ pháp luật Quốc tế: Trong Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế năm 1948 ghi nhận rằng “Mọi ngƣời, nếu bị cáo buộc về hình sự, đều có quyền đƣợc coi là vô tội cho đến khi đƣợc chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên toà xét xử công khai, nơi ngƣời đó đƣợc bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình”. Bản Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con ngƣời này là thƣớc đo chung cho tất cả các quốc gia và các dân tộc, và cho cả mọi cá nhân và tổ chức xã hội, đánh giá việc thực hiện các mục tiêu của mình, trên cơ sở luôn ghi nhớ bản Tuyên ngôn này. Quyền con ngƣời đƣợc bảo vệ, để buộc tội một ngƣời bị cho là có tội thì các chủ thể đại diện cho cơ quan Nhà nƣớc phải chứng minh theo trình tự luật định, chứng minh ngƣời đó có các dấu hiệu vi phạm pháp luật để đƣa ra xét xử bằng một phiên tòa công khai.
Tuyên ngôn cũng khẳng định rằng ngƣời bị cáo buộc phải đƣợc đảm bảo quyền tự bào chữa cho mình trƣớc những cáo buộc bất lợi cho mình. Lịch sử xã hội loài ngƣời là lịch sử của các cuộc đấu tranh giành các quyền dân chủ và tiến bộ. Các quyền tự do, dân chủ mà con ngƣời có đƣợc ngày nay là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài, bền bỉ của những lực lƣợng tiến bộ chống lại những thế lực độc tài, phản dân chủ trên thế giới. Một trong những quyền dân chủ mà con ngƣời giành đƣợc trong các cuộc đấu tranh này là quyền bào chữa.
Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, tại khoản 3 Điều 14 của Công ƣớc này có nội dung nhƣ sau: Trong quá trình xét xử về một tội hình sự, mọi ngƣời có quyền đƣợc hƣởng một cách đầy đủ và hoàn toàn bình đẳng những bảo đảm tối thiểu nhƣ đƣợc thông báo không chậm trễ và chi tiết, bằng một ngôn ngữ mà ngƣời đó hiểu đƣợc về bản chất và lý do buộc tội mình, không bị buộc đƣa ra lời khai chống lại mình, bị buộc phải nhận là mình có tội”. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tòa án Hình sự quốc tế (ICC) đƣợc hình thành trên cơ sở Quy chế Rôm - một trong những điều ƣớc quốc tế đa phƣơng có sự tham gia rộng rãi nhất của các quốc gia trong cộng động quốc tế. Theo đó Điều 42 Quy chế Rome quy định: Văn phòng công tố hoạt động độc lập nhƣ một cơ quan riêng biệt của Tòa án. Văn phòng có trách nhiệm nhận các thông báo và bất kỳ thông tin quan trọng nào về tội phạm thuộc thẩm quyền tài phán của Tòa án, kiểm tra các thông báo và thông tin này, tiến hành điều tra và truy tố trƣớc Tòa án.
Thành viên của văn phòng công tố không nhận hoặc không hành động theo các chỉ thị từ bên ngoài[ 31, Điều 42].