CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM THI THỂ, MỒ MẢ 1. Khái niệm, đặc điểm của thi thể, mồ mả và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả 1. Khái niệm, đặc điểm của thi thể, mồ mả 1. Khái niệm thi thể, mồ mả Khái niệm thi thể Theo từ điển tiếng Việt, thi thể được định nghĩa như sau: “Thi thể là xác của cá nhân khi chết”1.
Về mặt sinh học, thì thi thể là toàn bộ phần thân xác của một người kể từ thời điểm người đó chết – cái chết sinh học. Đó là khi toàn thể các yếu tố tự nhiên cấu thành thực thể đó đã không còn khả năng trao đổi chất về mặt sinh học dưới bất kỳ hình thức nào. Trong lý luận cũng như trong thực tiễn, chưa có sự nhất quán trong việc phân định các khái niệm thi thể, mồ mả, hài cốt. Vì vậy, cần làm rõ các khái niệm này nhằm xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có hành vi xâm phạm thi thể, xâm phạm mồ mả hay xâm phạm hài cốt.
Khi nói đến thi thể thì thi thể được hiểu là xác của một cá nhân đã chết. Thi thể gắn liền với cá nhân có thi thể đó. Khi cá nhân chết, địa vị chủ thể của cá nhân trong các quan hệ xã hội cũng đồng thời chấm dứt từ thời điểm cá nhân chết. Thi thể của cá nhân, không thể hiểu là chủ thể mà được hiểu là đối tượng được pháp luật bảo vệ.
Khi cá nhân chết để lại thi thể và thi thể đó gắn liền với cá nhân của người chết, không thể chuyển dịch, thay thế cho cá nhân khác. Thi thể của cá nhân luôn được tôn trọng và bảo vệ không những bằng pháp luật mà còn bằng cả đạo đức. Theo đó, thi thể của cá nhân bất khả xâm phạm. Thi thể của cá nhân là một thực thể thiêng liêng không những theo phong tục, theo quan niệm tôn giáo và còn theo bản sắc của một cộng đồng, một dân tộc.
Thi thể của cá nhân là xác của cá nhân sau khi chết chưa được mai táng, điện táng hay chưa được hóa thân bằng các hình thức khác theo phong tục và tôn giáo. Thi thể của cá nhân là một thực thể tự nhiên của cá nhân, cho dù theo phong tục, tôn giáo hay pháp luật của bất kì một quốc gia có chủ quyền nào cũng đều được 1 Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, IV.289 8 tôn trọng, bảo vệ, tuy nguyên tắc và mức độ bảo vệ thi thể có thể khác nhau. Về mặt sinh học, thì thực thể đó đã chấm dứt sự trao đổi chất. Toàn thể các yếu tố tự nhiên cấu thành thực thể đó đã không còn khả năng trao đổi chất xét về mặt sinh học dưới bất kì hình thức nào.
Nhưng theo quy định của pháp luật, thi thể của cá nhân bất khả xâm phạm. Theo phong tục tập quán, theo tôn giáo, theo quan niệm xã hội thì thi thể của cá nhân là thực thể thiêng liêng, không thể xâm phạm. Khái niệm mồ mả Đa số ở nhiều nơi đều có phong tục lập mồ mả cho người chết, theo Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính: “Người mất, sau ba năm đoạn tang rồi hoặc một vài năm nữa thì con cái lo việc cải táng”2, người Việt có phong tục cải táng người chết. Tuy nhiên ở mỗi vùng miền lại có một cách thức mai táng người chết khác nhau, như tục chôn người chết trong nhà mả ở dân tộc J’rai, tỉnh Gia Lai; tục hỏa táng trong tang lễ của người Thái, tỉnh Yên Bái… Tuy mỗi địa phương có phong tục khác nhau nhưng nhìn chung đa số người Việt đều lập mồ mả cho người thân thích.
Theo định nghĩa trong từ điển tiếng Việt thì: “Mồ mả là nơi chôn cất thi thể”3. Trong định nghĩa này, nội hàm của khái niệm bị bó hẹp, chưa thể hiện được bao quát các trường hợp khác, như việc chôn cất hài cốt. Có thể thấy khái niệm “mồ mả” là khái niệm ghép của hai khái niệm “mồ” và “mả”. Có thể hiểu “mả” là nơi an táng thi hài còn “mồ” là nơi táng hài cốt của một người.
Bộ luật Dân sự 2015 cũng không bóc tách hai khái niệm này mà ghép chung thành một khái niệm “mồ mả”. Thực tế để bóc tách được hai khái niệm này cũng rất khó bởi vì ở một số địa phương tục chôn cất người chết được thực hiện một lần (không có tục bốc mộ) nên khó có thể phân biệt được “mồ” và “mả”. Trường hợp này cũng rất dễ gặp trong các quy định của pháp luật dân sự vì nhiều khi bóc tách khái niệm sẽ rất khó khăn trong việc áp dụng pháp luật, ví dụ như “di sản dùng vào việc thờ cúng”. Trong khái niệm này cũng có hai loại di sản là “di sản dùng để thờ” và “di sản dùng để cúng”.
Trên thực tế ở nước ta hiện nay, mỗi địa phương đều có tục táng người chết là khác nhau, như: địa táng, hỏa táng, hung táng và các hình thức khác. Cần làm rõ khái niệm mồ mả bởi mỗi địa phương có cách thức mai táng khác nhau, có nơi chôn 2 Phan Kế Bính, (1915), “Việt Nam phong tục”, IX. 201 3 Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, 23tr.628 9 cất thi hài người chết vĩnh viễn trong lòng đất như người Tày ở Bắc Sơn, Lạng Sơn, dân tộc Xơ-đăng huyện Kon Plông tỉnh Kon Tum…và hình thức cải táng ở một số địa phương khác. Tuy nhiên ở một số gia đình, sau khi chôn người chết xuống đất, sau một thời gian nhất định (thường là 3 năm) tùy thuộc vào kinh tế, điều kiện mỗi nhà sẽ thực hiện việc bốc mộ, sang cát, lúc này phần bên dưới của mồ mả sẽ là hài cốt của người chết chứ không còn là thi hài như lúc đầu nữa.
Với các cách táng khác nhau, một số người sẽ dễ bị nhầm lẫn và quan niệm mồ mả bao gồm cả xương cốt, hài cốt bên trong, đặc biệt là phương thức hỏa táng người chết nay đã được rất nhiều người áp dụng. Bộ luật Dân sự 2015 không quy định một cách cụ thể và phân biệt khái niệm mồ mả với hài cốt. Nhưng tại Điều 319 Bộ luật Hình sự 2015 về “Tội xâm phạm, thi thể, mồ mả, hài cốt” lại phân biệt ba cụm từ “thi thể”, “mồ mả”, “hài cốt”. Từ các phân tích trên, khái niệm mồ mả được hiểu như sau: “Mồ mả là dạng vật chất được sử dụng với mục đích chôn cất thi thể, hài cốt người chết”.
Đặc điểm của thi thể, mồ mả Từ khái niệm nêu trên, có thể khái quát đặc điểm của thi thể, mồ mả như sau: Đặc điểm của thi thể Một là, về mặt sinh học, thi thể là một phần hoặc toàn bộ thân xác của một người kể từ thời điểm người đó chết. Như vậy, một thực thể được coi là thi thể khi các yếu tố tự nhiên cấu thành thực thể đó đã không còn khả năng trao đổi chất về mặt sinh học dưới bất kỳ hình thức nào. Hai là, về mặt pháp lý, thi thể gắn liền với một cá nhân cụ thể và không thể thay đổi. Khi cá nhân chết để lại thi thể và thi thể đó gắn liền với cá nhân của người chết, không thể chuyển dịch, thay thế cho cá nhân khác.
Bởi các đặc điểm nhận dạng của cá nhân khi còn sống cũng chính là những đặc điểm riêng phân biệt giữa các thi thể. Ba là, thi thể không phải là chủ thể mà là đối tượng được pháp luật bảo vệ. Trong quan hệ pháp luật, chủ thể mà pháp luật bảo vệ phải là cá nhân hoặc tổ chức cụ thể, tức là vật sống, có thể tham gia quan hệ pháp luật. Còn đối tượng được pháp luật bảo vệ là nội dung mà pháp luật muốn hướng tới nhằm ngăn chặn mọi sự xâm 10 hại ảnh hưởng đến sự tồn tại của nó.
Vì vậy, thi thể - vật không sống là đối tượng bảo vệ của pháp luật mà không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật Bốn là, thi thể cá nhân là bất khả xâm phạm và là một thực thể thiêng liêng theo phong tục tập quán và bản sắc văn hóa của dân tộc. Lại thêm quan niệm “trần sao âm vậy”, với lối tư duy người chết ở cõi này nhưng vẫn tồn tại ở cõi khác, người Việt Nam cho rằng việc tôn trọng thi thể của người đã khuất cần phải được thực hiện như lúc người đó còn sống. Hay nói cách khác, xâm phạm thi thể chính là mạo phạm vong hồn người đó, tương tự như với người đó khi sống. Mồ mả có những đặc điểm sau đây: Một là, mồ mả là một phương thức mai táng người đã khuất phổ biến trên toàn thế giới theo hình thức địa táng.
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đã có nhiều hình thức xử lý thi thể người đã khuất khác nhau như hỏa táng hoàn toàn, hỏa táng một phần… nên thuật ngữ mồ mả cũng được mở rộng nội hàm. Theo đó, có thể hiểu mồ mả là phần chôn xuống dưới đất thi thể hoặc một phần thi thể hoặc tro cốt sau khi hỏa táng. Hai là, các vấn đề về mồ mả mang ảnh hưởng nhiều về vấn đề tâm linh, tín ngưỡng và phong tục tập quán vùng miền. Với quan niệm “sống vì mồ vì mả không ai sống bằng cả bát cơm”, người Việt Nam cho rằng mồ mả là phần linh thiêng và mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc.
Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả 1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả BLDS năm 2015 không đưa ra khái niệm thế nào là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả. Vậy nên, tác giả sẽ phân tích, làm rõ nội hàm cũng như khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả. Về khái niệm BTTH.
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, “thiệt hại” là những hậu quả bất lợi ngoài ý muốn về tài sản hoặc phi tài sản do một sự kiện hoặc một hành vi nào đó gây ra, những chi phí phải bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, hư hỏng, mất mát về tài sản, thu nhập thực tế bị giảm sút hoặc bị mất.