Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng hình sự 1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng hình sự Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng hình sự là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước, ở đây cơ quan Viện kiểm sát nhân dân thay mặt nhà nước bồi thường thiệt hại cho người bị oan do lỗi của cán bộ, công chức Viện kiểm sát gây ra trong quá trình tiến hành tố tụng.
Có thể xem trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước (cụ thể là trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Viện kiểm sát nhân dân) là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đặc biệt, bởi nó có những đặc thù riêng là bên có trách nhiệm bồi thường là Nhà nước (do Viện kiểm sát nhân dân thay mặt) mà không phải trách nhiệm của cá nhân cán bộ, công chức hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy, để bảo vệ lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại cần phải xây dựng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước độc lập so với việc điều chỉnh các quan hệ dân sự, hành chính nhưng cơ chế điều chỉnh phải bảo đảm tính liên thông hoặc có khả năng hoán đổi linh hoạt giữa các cơ chế khi cần thiết. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là một loại hình trách nhiệm pháp lý đặc biệt, chỉ xuất hiện trong những điều kiện và có cơ sở pháp luật cụ thể. Thuật ngữ “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước”được nhắc đến ở nhiều các văn bản pháp luật nhưng hiện nay vẫn không có định 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghĩa chính thức về trách nhiệm này.
Thông qua văn bản cũng như thực tiễn và trên cơ sở lý luận, chúng ta có thể hiểu trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là việc Nhà nước chịu trách nhiệm bồi thường đối với lỗi do hành vi của người thi hành công vụ gây ra. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự, nhiệm vụ của cơ quan tiến hành tố tụng là phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam đã thể hiện rõ nguyên tắc bảo đảm quyền công dân, xử lý kiên quyết và triệt để mọi hành vi phạm tội. Tuy nhiên, hoạt động tố tụng hình sự nói riêng, hoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung trong bất cứ lĩnh vực nào cũng khó tránh khỏi những sai sót nhất định.
Đối với trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại (người bị oan) trong hoạt động tố tụng hình sự thì vấn đề quan trọng phải xác định đúng đối tượng được bồi thường. Theo cuốn Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp thì “oan”có nghĩa là “bị quy cho tội mà bản thân không phạm, phải chịu sự trừng phạt mà bản thân không đáng phải chịu”[44] hay theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì“oan” là một người “bị quy tội không đúng, phải chịu sự trừng phạt một cách sai trái, vô lý”[45].Như vậy, oan trong tố tụng hình sự là việc một người trên thực tế không thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, không cấu thành tội phạm nhưng đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp ngăn chặn, bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Từ những nhận định trên, có thể đưa ra khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng hình sự như sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng hình sự là trách nhiệm bồi thường Nhà nước mà Nhà nước 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giao cho Viện kiểm sát thực hiện trong trường hợp người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của Viện kiểm sát thực hiện hành vi, quyết định tố tụng làm oan người vô tội, thể hiện ở việc Viện kiểm sát nhân dân phải bồi thường thiệt hại cho người bị oan theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định nhằm phục hồi danh dự, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị oan. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng hình sự Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng hình sự phát sinh do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của Viện kiểm sát đã thực hiện hành vi, quyết định tố tụng làm oan người vô tội Trách nhiệm bồi thường của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng hình sự phát sinh từ các hành vi, quyết định tố tụng của công chức Viện kiểm sát làm oan người vô tội (tức là phải có thiệt hại thực tế xảy ra và phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại).
Những hành vi, quyết định tố tụng đócủa người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của Viện kiểm sát bao gồm [32]: - Đã phê chuẩn lệnh bắt, quyết định gia hạn tạm giữ, quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra hoặc đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam, quyết định gia hạn tạm giam mà sau đó có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm; đã quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung nhưng Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can vì lý do như trên; - Đã ra quyết định truy tố bị can nhưng Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm và bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật; 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Viện kiểm sát đã có cáo trạng truy tố nhưng Tòa án cấp sơ thẩm quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung nhưng sau đó có quyết định của người có thẩm quyền của Viện kiểm sát đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm; - Viện kiểm sát đã có cáo trạng truy tố nhưngTòa án cấp sơ thẩm quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung nhưng sau đó tuyên bị cáo không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm và bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật; - Viện kiểm sát đã có cáo trạng, quyết định truy tố nhưngTòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm; - Viện kiểm sát đã có cáo trạng, quyết định truy tố nhưng Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm và sau đó Tòa án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vẫn giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm xác định bị cáo không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm. Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng hình sựthuộc trách nhiệm bồi thường nhà nước được nhà nước giao cho Viện kiểm sát thực hiện Có thể xem Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan nhân danh nhà nước thực hiện trách nhiệm bồi thường đối với người bị oan do hành vi, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân gây ra. Như vậy, đây được hiểu là một loại của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước. Với tính chất là một 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com loại hình trách nhiệm pháp lý đặc biệt, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước (cụ thể là của Viện kiểm sát nhân dân) chỉ xuất hiện trong những điều kiện và có cơ sở pháp luật cụ thể.
Nhà nước, với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật, có những quyền và nghĩa vụ nhất định, đồng thời phải chịu những hậu quả pháp lý phát sinh từ những quan hệ pháp luật đó. Nếu Nhà nước và các cán bộ, công chức trong quá trình thực thi công vụ có hành vi vi phạm pháp luật, gây tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường. Theo đó, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được phát sinh từ các hoạt động mang tính công quyền, do cơ quan nhà nước hoặc các cá nhân, tổ chức nhân danh Nhà nước thực hiện [35]. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 17/3/2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra đã quy định: Kinh phí bồi thường thiệt hại là một khoản trong ngân sách nhà nước; Bộ Tài chính có trách nhiệm quản lý, cấp phát và quyết toán kinh phí bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước; căn cứ vào bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị oan và quyết định của cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thương lượng thành hoặc bản án, quyết định của Toà án về việc bồi thường thiệt hại, cơ quan có trách nhiệm chi trả phải trả tiền cho người bị oan hoặc thân nhân của người bị oan.