Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN TẬP ĐOÀN KINH TẾ 1. Đặc điểm của Tập đoàn kinh tế ảnh hưởng đến công tác kế toán 1. Sự hình thành, phát triển của Tập đoàn kinh tế tại Việt Nam 1. Khái niệm Tập đoàn kinh tế Công ty là một chủ thể kinh doanh quan trọng của nền kinh tế, có thể hoạt động dưới dạng công ty đơn lẻ không tham gia vào cơ cấu tổ chức kinh doanh với các công ty khác, hoặc có thể tham gia vào một tổ hợp công ty có mối liên kết kinh tế nhất định.
Tập đoàn kinh tế là một hình thức liên kết kinh tế của các công ty, là tổ hợp các công ty liên kết với nhau về tài chính, công nghệ, thị trường và các mối liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các công ty thành viên. Theo điều 146 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì tập đoàn kinh tế được xếp thành một thành phần trong nhóm công ty, cụ thể như sau: “Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác. Nhóm công ty bao gồm các hình thức sau đây: Công ty mẹ, công ty con; tập đoàn kinh tế; các hình thức khác.” Trong khi đó, theo Chuẩn mực kế toán quốc tế số 27 (IAS 27) thì tập đoàn kinh tế là một tập hợp các công ty bao gồm công ty mẹ và các công ty con. Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau nhưng các tập đoàn kinh tế có những đặc điểm cơ bản sau: - Tập đoàn không có tư cách pháp nhân.
- Các công ty trong tập đoàn có mối liên kết với nhau về tài chính, công nghệ, thị trường và do công ty mẹ đứng đầu. - Sở hữu đa dạng và tổ chức chủ yếu theo mô hình công ty mẹ, công ty con. - Các công ty trong tập đoàn là các thực thể pháp lý độc lập. Các công ty này có liên hệ với nhau về lợi ích kinh tế và mối liên hệ này được thực hiện chủ yếu thông qua các quan hệ tài chính.
Quá trình hình thành và phát triển củaTập đoàn kinh tế Trên thế giới tập đoàn kinh tế đã xuất hiện và hoạt động từ rất lâu nhưng đối với Việt Nam tập đoàn vẫn là một vấn đề khá mới mẻ. Do mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới nên cần phải tổ chức và sắp xếp các doanh nghiệp nhỏ, manh mún trở thành những doanh nghiệp đủ lớn để đủ khả năng đối tác cũng như cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, tăng cường vị trí của doanh nghiệp nhà nước trong việc đóng vai trò chủ đạo, dẫn dắt các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác hoạt động theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính vì điều này, năm 2005 chính phủ đã thí điểm thành lập những tập đoàn kinh tế nhà nước đầu tiên tại Việt Nam. Tính đến tháng 7 năm 2010 đã có 12 tập đoàn kinh tế nhà nước được Chính phủ thí điểm thành lập gồm: 1.
Tập đoàn Bưu chính – Viễn thông 2. Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam 3. Tập đoàn Dầu khí quốc gia 4. Tập đoàn Điện lực Việt Nam 5.
Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy 6. Tập đoàn Dệt may Việt Nam 7. Tập đoàn Công nghiệp cao su 8. Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm (Bảo Việt) 9.
Tập đoàn Viễn thông quân đội 10.Tập đoàn Hóa chất Việt Nam 11.Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị 12.Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Quá trình hội nhập kinh tế sẽ phải chấp nhận cạnh tranh, điều này dẫn đến quá trình tích tụ và tập trung vốn vì vậy tất yếu sẽ hình thành các tập đoàn kinh tế. Song khác với các tập đoàn kinh tế ở các quốc gia phát triển, hầu hết đều đi từ các công ty nhỏ, hoạt động rất hiệu quả, tích tụ vốn và phát triển quy mô dần trở thành các tập đoàn khổng lồ. Các tập đoàn kinh tế Việt Nam được hình thành chủ yếu từ việc sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà Nước. Tuy nhiên, trong những 2 năm qua, các tập đoàn kinh tế nhà nước đã có nhiều cố gắng trong quá trình sắp xếp, tổ chức bộ máy quản lý để theo kịp và đóng góp tích cực cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
Mặc dù, từ năm 2005 những tập đoàn kinh tế Nhà nước đầu tiên đã được thí điểm thành lập nhưng đến cuối năm 2009 mới có khung pháp lý cho vấn đề này thông qua Nghị định 101/2009/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 05/11/2009 về thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước. Do đó, hiện nay các tập đoàn kinh tế Nhà nước vẫn hoạt động theo hình thức thí điểm. Với số lượng 12 tập đoàn kinh tế Nhà nước so với tổng số lượng các doanh nghiệp hiện nay thì tỷ lệ tập đoàn kinh tế Nhà nước là rất nhỏ nhưng lại nắm giữ một khối lượng tài sản lớn của nền kinh tế quốc dân. Thực tế cho thấy, các tập đoàn kinh tế Nhà nước đã có những đóng góp nhất định vào sự phát triển nền kinh tế của đất nước thời gian qua.
Sự hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế Nhà nước của Việt Nam có những đặc trưng cơ bản sau đây: - Tất cả các tập đoàn kinh tế Nhà nước hiện nay đều được hình thành dựa trên các quyết định hành chính Nhà nước chứ không hình thành trên cơ sở các doanh nghiệp tự phát triển, tích tụ, tập trung vốn, đầu tư và chi phối các doanh nghiệp khác thông qua quá trình sáp nhập, mua cổ phần để hình thành các liên kết bền chặt. - Việc hình thành các doanh nghiệp Nhà nước chủ yếu thiên về khía cạnh tổ chức sắp xếp lại các Tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước để hình thành cơ cấu thành viên. Trong khi đó, ở khu vực kinh tế tư nhân, một số doanh nghiệp có quy mô tương đối lớn cũng đã thay đổi tên gọi thành tập đoàn như FPT, Hoàng Anh Gia Lai, Kinh Đô, Vincom, Trung Nguyên, Hòa Phát, Mai Linh… Các doanh nghiệp này cũng đã có những tiền đề cần thiết cho việc hình thành các tập đoàn kinh tế như: chuyên môn hóa các công ty con, hình thành quá trình tích tụ vốn, tập trung vốn, gắn kết với thị trường chứng khoán… Tuy nhiên, xét về quy mô và lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp này hiện vẫn còn khiêm tốn so với các tập 3 đoàn kinh tế nhà nước. Mặt khác, hệ thống pháp luật về tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hiện chưa đầy đủ nên khái niệm tập đoàn kinh tế tư nhân chưa được thừa nhận.
Vừa qua Chính Phủ đã giao cho các cơ quan chức năng nghiên cứu, đề xuất mô hình tập đoàn kinh tế tư nhân trình Chính Phủ xem xét trong năm 2010. Do đó, xét trên phương diện pháp lý lẫn quy mô hoạt động thì hiện nay Việt Nam chỉ có 12 tập đoàn kinh tế đang hoạt động với hình thức thí điểm và đều là tập đoàn kinh tế Nhà nước. Đặc điểm của Tập đoàn kinh tế Theo quan niệm phổ biến, tập đoàn kinh tế có các đặc điểm sau: (1) đa dạng hóa về tính chất sở hữu; (2) không có tư cách pháp nhân; (3) có quy mô rất lớn về vốn, lao động, doanh thu, phạm vi hoạt động thường vượt ra khỏi biên giới quốc gia; (4) các thành viên trong tập đoàn đều có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập và gắn kết chủ yếu bằng quyền lực kinh tế thông qua quan hệ tài chính; (5) tổ chức chủ yếu theo mô hình công ty mẹ, công ty con. Bên cạnh một số điểm chung trên, các tập đoàn kinh tế của Việt Nam còn mang một số đặc điểm đặc thù sau: - Các tập đoàn kinh tế đều hoạt động trong các ngành kinh tế trọng điểm của quốc gia như: điện lực, dầu khí, bưu chính viễn thông, than và khoáng sản.
Do đó, hoạt động của các tập đoàn này không chỉ tác động và đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội mà còn là một trong những công cụ điều tiết hiệu quả kinh tế vĩ mô của Chính phủ. - Các tập đoàn kinh tế phần lớn đều hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực. Ngoài lĩnh vực kinh doanh chính, các tập đoàn đều có đầu tư vào các hoạt động khác như bất động sản, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, nhà hàng, du lịch. - Các tập đoàn kinh tế Việt Nam chủ yếu được hình thành từ ý chí chủ quan thông qua việc sắp xếp lại các tổng công ty Nhà nước thông qua các quyết định hành chính.
Do đó, khác với các tập đoàn kinh tế trên 4 thế giới, phạm vi hoạt động của các tập đoàn kinh tế Việt Nam chủ yếu là trên lãnh thổ Việt Nam. Khi mới thành lập thì các tập đoàn kinh tế chủ yếu hoạt động trong một hoặc một vài lĩnh vực nhất định. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới thì xu hướng kinh doanh ở nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực khác nhau của các tập đoàn là điều tất yếu. Từ đây đã xuất hiện các tập đoàn kinh tế đa ngành.
Ngoài các đặc điểm của tập đoàn kinh tế nói chung thì tập đoàn kinh tế đa ngành còn có các đặc điểm sau: - Công ty mẹ và công ty con trong tập đoàn hoạt động kinh doanh trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. - Trong tập đoàn, có những công ty con hoạt động trong những lĩnh vực khác biệt cơ bản với công ty mẹ và các công ty con khác. Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau về hiệu quả kinh doanh đa ngành của các tập đoàn kinh tế. Tuy nhiên trên thực tế kinh doanh đa ngành đang là xu hướng phát triển của phần lớn các tập đoàn kinh tế tại Việt Nam.
Đặc điểm về tổ chức quản lý Các khái niệm công ty mẹ, công ty con, tập đoàn kinh tế mới chỉ xuất hiện trong những năm gần đây nên cơ cấu tổ chức các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam vẫn còn đơn giản, chủ yếu tổ chức theo chiều dọc, chưa mang tính đầu tư đan xen, gắn bó chặt chẽ như các tập đoàn của các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc điểm chung của các công ty mẹ, công ty con được hình thành trong các tập đoàn kinh tế là: - Công ty mẹ đều là doanh nghiệp nhà nước (doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước có tỷ lệ vốn chi phối). Tại tập đoàn có các ban tham mưu, các đơn vị hạch toán phụ thuộc.