W/CM Bộ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO - BỘ Y TÉ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TÉ CÔNG CÔNG TÔNG QUAN VẺ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐỂN BỆNH BỤI PHÓI - SILIC TẠI VIỆT NAM VÀ TRÊN THÉ GIỚI KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP cử NHÂN Y TỂ CÔNG CỘNG Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thúy Quỳnh Chữ ký HÀ NỘI, 5/2010 LỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tot nghiệp tôi đã nhận được sự chỉ hảo, hướng dẫn tận tình của thầy cô giáo cùng với sự chia sẻ, bảo ban giúp đỡ từ gia đình và bạn bè. Đặc biệt, để đạt được kết quả như hôm nay, tôi xin bày tỏ lòng biêt ơn và kinh trọng sâu sắc tới ThS. Nguyễn Thúy Quỳnh đã tận tĩnh bảo ban, hưởng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn tot nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Y học lao động và Vệ sinh mói trường, Viện Nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động, Cục Y tế dự phòng và Môi trường -Bộ Y tế, Trường Đại học Y Hà Nội, Trường Đại học y tế Công cộng, đã tạo điều kiện tổt nhất cho tôi trong quá trình tìm kiếm và thu thập tài liệu liên quan tới luận văn tốt nghiệp. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám Hiệu, các thầy giáo, cô giáo và các phòng ban trong trường Đại học y tế Câng cộng đã hết sức giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường và nghiên cứu. Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thần yêu trong gia đình, những người bạn thân thiết đã giúp đỡ tôi, chia sẻ cùng tôi nhừng khó khăn trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu của tôi, cũng như giành cho tôi những tình cảm, sự chăm sóc quý giá nhất. Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2010 Trần Thị Hải 1 MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIÉT TẮT.
ii DANH MỤC HÌNH VẼ.iii DANH MỤC PHỤ LỤC.iv PHẦN 1: GIỚI THIỆU ĐÈ TÀI. 1 PHẦN 2: MỤC TIÊU.3 PHÀN 3: PHƯƠNG PHÁP THƯ THẬP SỐ LIỆU. 4 PHẦN 4: NÔI DƯNG TỎNG QUAN.1 Một số thuật ngữ.2 Một sổ ngành nghề có nguy cơ cao mắc bệnh BP-silic.3 Ảnh hưởng của bệnh BP-silic tới sức khỏe người lao động.4 Những can thiệp phòng chống ảnh hường của bệnh BP-silic tới sức khỏe người lao động 20 PHẦN 5: KẾT LUẬN.27 PHÀN 6: KHUYẾN NGHỊ. 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
38 Phụ lục 1: Bảng phân loại quốc tế các bệnh bụi phổi của tổ chức ILO 1980.39 Phụ lục 2: Hướng dẫn sử dụng và giới hạn của Hoa Kỳ trong phơi nhiễm nghề nghiệp với tinh thể silic. 44 Phụ lục 3: Cơ chế bệnh sinh bệnh BP-silic.45 Phụ lục 4: Những biến chứng khác cùa bệnh BP-silic.49 Phụ lục 5: Quy định bệnh BP-silic được bảo hiểm tại Việt Nam.53 Phụ lục 6: Tiêu chuẩn bụi silic cùa Việt Nam. 54 Phụ lục 7: Những hoạt động và ngành công nghiệp chínhtrên thế giới có phơi nhiễm với silỉc dioxyt, đã được báo cáo. 55 Phụ lục 8: Các công việc chủ yếu có tiếp xúc với bụi silic tự do ở Việt Nam.58 Phụ lục 9: Thống kê kết quả kiểm tra môi trường lao động và tình hình bệnh BP-silic giai đoạn 2006-2008 59 ti DANH MỤC CÁC TỪ VIÉT TẤT ACGIH Hiệp hội của chính phủ Mỹ về vệ sinh công nghiệp (American Conference of Governmental Industrial Hygienists) Bệnh BP-silic Bệnh bụi phổi-silic Bảo hộ lao động BHLĐ BNN Bệnh nghề nghiệp BNNĐBH Bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm CBYTLĐ Cán bộ y tế lao động CDC Trung tâm phòng chống và kiểm soát bệnh tật của Mỹ (Centers for Disease Control and Prevention) CNHH Chức nàng hô hấp FEV| Thể tích thở ra tối đa/giây (Forced expiratory volume in one second) IARC Cơ quan quốc tế nghiên cứu về ung thư (International Agency for Research on Cancer) ICOH Tổ chức sức khỏe nghề nghiệp quốc tế (International commission on Occupational Health) ILO Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization) NIOSH Viện Y học Lao động Hoa Kỳ (The USA’s National Institute for Occupational Safety and Health) NSDLĐ Người sử dụng lao động RLTK Rối loạn thông khí TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam TLVs Ngưỡng giá trị giới hạn (Threshold Limit Values) TNLĐ Tai nạn lao động TWA Trung bình trọng thời gian (Time weighted average) WELs Giới hạn phơi nhiễm nghề nghiệp (Workplace Exposure Limit values) WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization) iii DANH MỤC HÌNH VẼ Tên hình Trang Hình 1 Phim chụp phổi thể bệnh BP-silic cấp tính 7 Hình 2 Phim chụp phổi thể bệnh BP-silic tiến triển 8 Phim chụp phổi thể bệnh BP-silic mạn tính đơn thuần và xơ hóa Hình 3 ,, , 8 khối tiến triến Hình 4 Một cơ sở khai thác than ở Trung Quốc 13 Người phun cát mài mòn làm việc trong không khí đầy hạt bụi Hình 5 '15 cát silic dioxyt Công nhân khoan lỗ ở mặt đường bê tông trong quá trình sửa Hình 6 x ' 16 chữa đường cao tốc Một cơ sở khai thác than ờ Trung Quổc áp dụng biện pháp phun Hình 7 , 24 ướt trong quá trình sản xuất Hình 8 Thiết bị mài mòn làm sạch di động 23 Công nhân khoan đá làm việc bên giàn khoan di động mà không Hình 9 '1 'X 21 có sự bảo vệ đường hô hâp Hình 10 Khẩu trang CT - 2002 23 iv DANH MỤC PHỤ LỤC Tên phụ lục Trang Phụ lục 1 Bảng phân loại quốc tế các bệnh bụi phổi cùa tổ chức ILO 39 1980 Phụ lục 2 Hướng dẫn sử dụng và giới hạn của Hoa Kỳ trong phơi nhiễm 44 nghề nghiệp với tinh thế silic Phụ lục 3 Cơ chế bệnh sinh của bệnh BP-silic 45 Phụ lục 4 Những biến chứng khác của bệnh BP-silic 49 Phụ lục 5 Quy định bệnh BP-silic được bảo hiểm tại Việt Nam 53 Phụ lục 6 Tiêu chuẩn bụi silic của Việt Nam 54 Phụ lục 7 Những hoạt động và ngành công nghiệp chính trên thế giới có 55 phơi nhiễm với silic dioxyt đã được báo cáo Phụ lục 8 Các công việc chủ yểu có tiếp xúc với bụi silic tự do ờ Việt 58 Nam Phụ lục 9 Thống kê kết quả hoạt động kiểm tra môi trường lao động và 59 tình hình bệnh BP-silic ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2008 PHÀN 1 GIỚI THIỆU ĐÈ TÀI Ngay từ năm 1930, một loạt các cuộc hội thảo đã được mở ra tại Johannesburg, Nam Phi tập trung vào vấn đề bệnh bụi phổi-silic (bệnh BP-silic).
Tại hội nghị này, các nhà khoa học đã đưa ra thống nhất về định nghĩa và bảng phân loại bệnh BP-silic đầu tiên. Bệnh BP-silic được coi là bệnh khá phổ biến, hoàn toàn nguyên nhân do nghề nghiệp và thực sự là mối quan tâm của nhiều quốc gia. Và ngày nay, con người luôn không ngừng tìm mọi biện pháp để phòng chống và thanh toán nó [20; 64]. Bệnh BP-silic là bệnh phổi xơ hóa lan tỏa, bệnh phát triển và không hồi phục, thậm chí cả sau khi ngừng tiếp xúc.
Nguyên nhân gây bệnh BP-silic là do silic tự do (S1O2), tuy nhiên nguy cơ mắc bệnh còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Trong khi sự nguy hại của bụi tinh thể silic hô hấp được biết đến rộng rãi trên khắp thế giới, sự tiếp xúc bụi silic vẫn thường gặp ở mọi nơi trên phạm vi rộng, thuộc các ngành công nghiệp hàng đầu như ngành xây dựng và khai mỏ. Vì vậy rất nhiều công nhân thuộc rất nhiều ngành nghề có nguy cơ mắc bệnh BP-silic, cả trên thế giới và Việt Nam. Những ngành nghề đặc biệt nguy cơ cao tiếp xúc với bụi silic như khai thác mỏ, khai thác đá, đào hầm, đánh bóng bằng cát và nghề đúc.trong đó đa số là các ngành nghề khá phổ biến ở nước ta [9; 12; 20; 66].
Bệnh BP-silic là một trong các bệnh nghề nghiệp đầu tiên dược đưa vào danh sách bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm của nước ta bởi những tác hại nghiêm trọng tới sức khỏe người lao động của nó [8; 31], Bệnh BP-silic mạn tính ban đầu chỉ lẳng lặng khó thở khi gắng sức tăng dần hoặc ho. Sau đó bệnh có thể tiến triển thành loại xơ hóa khối tiến triển cà sau khi ngừng tiếp xúc với bụi chứa silic hô hấp. Bệnh biến chứng gây tràn khí màng phổi rất nguy hiểm. Giai đoạn cuối của bệnh thường là suy hô hấp, giảm oxy máu với tâm phế mãn [66].
Ở Việt Nam, bệnh BP-silic thường phát triển ở những công nhân có tuổi , , ’ „ '. nghê trên 5 năm, làm việc trong điều kiện không khí có nhiêu bụi chứa silic dioxit tự do và thường phải lao động thể lực nặng. Tuy nhiên bệnh có thề xuất hiện ở một số người mới chỉ có 3 năm tuổi nghề [9]. Với tính chất nghiêm trọng như vậy của bệnh, trong nhiều năm qua, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và WHO đã đặc biệt quan tâm tới dự phòng bệnh BP-silic trong sự hợp tác với các tổ chức quốc tể khác, đặc biệt là Viện Y học Lao động Hoa Kỳ (NIOSH) và Tổ chức Sức khỏe Nghề nghiệp Quốc tể (ICOH).
Điều này cũng được cả các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Canada, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, hay các nước đang phát triển -2- như Brazin, Ắn Độ, Mê hi cô, Ma rốc, Tuynidi, Ukraina, Indonesia, Thái Lan, và cả Việt Nam ủng hộ và tham gia. Ngay từ năm 1930, bảng Phân loại quốc tế về các bệnh bụi phổi cùa ILO đã ra đời đánh dấu bước ngoặt trong chẩn doán bệnh BP-silic [16], Mặc dù đã thu được nhiều thành quà nhưng lĩnh vực phòng chống bệnh BP-silic vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại, cả trên thế giới và Việt Nam. Báo cáo không đầy đủ về bệnh BP-silic là một vấn đề nghiêm trọng ở mọi nơi trên thế giới ảnh hưởng đển sự chính xác của các sô liệu thông kê. Hơn nữa, các nỗ lực phòng ngừa không được thực hiện ở một tỷ lệ lớn công nhân tiếp xúc với bụi chứa silic, đặc biệt ở các nước đang phát triển, đang làm trầm trọng thêm thực trạng của bệnh.
Năm 1997, Cơ quan quốc tế về nghiên cứu ung thư (AIRC) phân loại silic kết tinh từ phơi nhiễm nghề nghiệp như là một chất gây ung thư [64]. Tại Việt Nam, theo thống kê của Cục Y tế dự phòng và Môi trường, tính đến năm 2009, số người mắc bệnh nghề nghiệp là 26.726 người, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là bệnh BP-silic (75,7%) [6]. Như vậy, bất chấp các nỗ lực phòng chống và thanh toán, bệnh BP-silic vẫn đang tiếp tục là vấn đề sức khỏe nói chung, vấn đề sức khỏe nghề nghiệp nói riêng đặc biệt nghiêm trọng ở Việt Nam.