CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUY TRÌNH GIAO NHẬN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 1.1 Khái quát chung về vận tải đường biển Vận tải đường biển ra đời khá sớm so với các phương thức vận tải khác. Ngay từ thế kỷ thứ V trước công nguyên con người đã biết lợi dụng biển làm các tuyến đường giao thông để giao lưu các vùng các miền, các quốc gia với nhau trên thế giới. Cho đến nay vận tải biển được phát triển mạnh và trở thành ngành vận tải hiện đại trong hệ thống vận tải quốc tế.1 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của vận tải biển Vận tải đường biển có thể phục vụ chuyên chở tất cả các loại hàng hoá trong buôn bán quốc tế. Các tuyến đường vận tải trên biển hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên.
Năng lực chuyên chở của vận tải đường biển rất lớn. Nhìn chung năng lực chuyên chở của vận tải đường biển không bị hạn chế như các công cụ của các phương thức vận tải khác. Vận tải đường biển đóng vai trò quan trọng như vậy trong thương mại quốc tế vì nó có những ưu điểm nổi bật sau đây: - Chi phí đầu tư xây dựng các tuyến đường hàng hải thấp. Các tuyến đường biển đều là đường giao thông tự nhiên trừ các hải cảng và kênh cảng nhân tạo.
Do vậy không đòi hỏi nhiều về vốn, nguyên vật liệu cũng như sức lao động để xây dựng và bảo dưỡng các tuyến đường này. Đây là một ưu thế đáng kể của phương thức vận tải biển so với các phương thức vận tải biển khác. 4 - Năng lực chuyên chở bằng đường biển được coi là không hạn chế. Trọng tải của tàu biển rất lớn: Trung bình 15.000 DWT đối với tàu chợ, 30.000 đối với tàu chở hàng khô và 50.000 DWT đối với tàu chở dầu.
Việc tổ chức chuyên chở không bị hạn chế, có thể chạy nhiều tàu trên cùng một tuyến đường, thời gian tàu nằm chờ đợi tại các cảng giảm nhờ sử dụng container và các phương tiện xếp dở hiện đại nên khả năng thông qua rất lớn, như cảng Rotterdam: 300 triệu tấn hàng/ năm, cảng New York: 150 triệu tấn hàng/ năm, cảng Kobe: 136 triệu tấn hàng/ năm. - Vận tải đường biển thích hợp cho việc vận chuyển hầu hết các loại hàng hóa trong thương mại quốc tế. Đặc biệt thích hợp và hiệu quả là các loại hàng rời có giá trị thấp như than, quặng, ngũ cốc, phốt phát và dầu mỏ. - Giá thành vận tải biển rất thấp so với các phương tiện khác.
Giá thành vận tải 1tấn/Km của vận tải biển chỉ bằng 49,2% giá thành vận tải đường sắt, 18% so với đường ô tô, 70% so với đường sông, 2,5% so với đường hàng không. Nguyên nhân chủ yếu là do trọng tải chuyên chở lớn, quảng đường vận chuyển trung bình dài, chi phí thấp. Bên cạnh những ưu điểm trên thì vận tải đường biển cũng tồn tại một số nhược điểm sau: - Vận tải biển phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên, điều kiện hàng hải: các tàu biển thường gặp rất nhiều rủi ro hàng hải như: mắc cạn, đắm, cháy, đâm va nhau, đâm va phải đá ngầm, mất tích… Theo thống kê của các công ty bảo hiểm hàng tháng trên thế giới có khoảng 300 tàu biển bị các tai nạn trên, trong đó có nhiều trường hợp tổn thất toàn bộ. - Tốc độ của tàu biển tương đối thấp: tốc độ của các tàu chở hàng hiện nay chỉ khoảng 14 – 20 hải lý/ giờ.
Tốc độ này là thấp so với tốc độ của máy bay, tàu hỏa. Về mặt kỹ thuật, người ta có thể đóng các tàu biển có tốc độ cao hơn nhiều. Tuy nhiên, đối với các tàu chở hàng người ta phải duy trì một tốc độ kinh tế nhằm giảm giá cước vận tải.2 Tác dụng của vận tải đường biển đối với buôn bán quốc tế - Vận tải đường biển là yếu tố không tách rời buôn bán quốc tế. 5 - Vận tải đường biển thúc đẩy buôn bán quốc tế phát triển.
- Vận tải đường biển phát triển góp phần làm thay đổi cơ cấu hàng hóa và cơ cấu thị trường trong buôn bán quốc tế. - Vận tải đường biển tác động tới cán cân thanh toán quốc tế.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật của vận tải đường biển Các tuyến đường: là các tuyến đường nối hai hay nhiều cảng với nhau trên đó tàu biển hoạt động chờ hàng hóa hay chở khách. Cảng biển: là nơi neo đậu của tàu biển, là đầu mối giao thông quan trọng của các quốc có biển. Cảng biển có hai chức năng: - Phục vụ tàu biển: Cảng là nơi ra vào, neo đậu của tàu, là nơi cung cấp các dịch vụ đưa đón tàu ra vào, lai dắt, cung ứng dầu mỡ, nước ngọt, vệ sinh, sửa chữa.
- Phục vụ hàng hoá: Cảng phải làm nhiệm vụ xếp dỡ, giao nhận chuyển tải, bảo quản, lưu kho, tái chế, đóng gói, phân phối hàng hoá xuất, nhập khẩu. Cảng còn là nơi tiến hành các thủ tục xuất nhập khẩu, là nơi bắt đầu, tiếp tục hoặc kết thúc quá trình vận tải…. Phương tiện vận tải: phương tiện vận tải chủ yếu là tàu biển. Có hai loại tàu biển: tàu quân sự và tàu buôn.
Để phương thức vận tải biển hoạt động được, cần có những cơ sở vật chất kỹ thuật kèm theo như: Tàu buôn, cảng biển, kho bãi, các tuyến đường hàng hải, dịch vụ sửa chữa tàu biển, dịch vụ cung ứng tàu biển. Những cơ sở vật chất kĩ thuật trên đây hoạt động với tư cách độc lập nhưng chúng lại có mối liên hệ hết sức hữu cơ mật thiết với nhau.2 Giao nhận hàng hóa chuyên chở bằng đường biển 1.1 Khái quát chung về giao nhận và vai trò của giao nhận 1.1 Khái niệm về giao nhận Trong buôn bán quốc tế người mua (nhà nhập khẩu) và người bán (nhà xuất khẩu) thường ở cách xa nhau. Việc di chuyển hàng hóa là do người vận tải đảm nhiệm. Đây là khâu nghiệp vụ rất quan trọng, thiếu nó coi như hợp đồng mua bán không thực hiện được.
Để cho quá trình vận tải được Bắt Đầu - Tiếp Tục - Kết 6 Thúc, tức là hàng hóa từ nhà sản xuất đến tay người mua, ta cần phải thực hiện một loạt các công việc liên quan đến quá trình vận chuyển như đưa hàng ra cảng, làm thủ tục gửi hàng, tổ chức xếp/dỡ, giao hàng cho người nhận ở nơi đến… Tất cả các công việc này được gọi chung là “Nghiệp vụ giao nhận – Forwarder ”. Theo quy tắc mẫu của FIATA: dịch vụ giao nhận là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, hay phân phối…hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên qua đến hàng hóa. Theo Luật Thương mại của Việt Nam thì dịch vụ giao nhận được định nghĩa như sau: Điều 163: Dịch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng). Nói tóm lại, giao nhận là tập hợp những nghiệp vụ có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi) tới người nhận hàng (người nhận).
Người giao nhận có thể làm các dịch vụ trực tiếp hoặc thông qua đại lý và thuê dịch vụ của người thứ ba khác.2 Vai trò của dịch vụ giao nhận Công tác giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu là một khâu rất cần thiết trong việc thực hiện hợp đồng mua bán giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu, nó giúp cho hai bên có thể thực hiện đúng thời gian giao hàng theo đúng quy định của hợp đồng, đồng thời cũng giúp cho việc thông quan hàng hóa nhanh chóng hơn. Hiện nay sự trao đổi giao thương giữa các nước ngày càng phát triển, số lượng hàng ngày càng lớn và đa dạng, và Việt Nam cũng đang trên đường hòa nhập từng bước với sự phát triển nền Kinh tế Thế Giới. Vì thế, trong xu thế toàn cầu hóa, khi mà các doanh nghiệp mở rộng hoạt động giao thương, số lượng đơn hàng tăng cao và ngày càng có nhiều khách hàng đến từ các nơi trên thế giới, đòi hỏi doanh nghiệp đó phải có sự hiểu biết về luật 7 pháp, cơ sở vật chất tốt… Thế nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng đủ điều kiện như vậy. Chính vì thế mà dịch vụ giao nhận hàng hóa ra đời như chiếc “phao cứu sinh” giúp họ hoạt động một cách hiệu quả hơn, cụ thể: Giao nhận tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm mà không cần có sự tham gia của người gửi cũng như người nhận tác nghiệp.
Giao nhận giúp cho người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ vòng quay của phương tiện vận tải, tận dụng tối đa, hiệu quả sử dụng của các phương tiện vận tải cũng như phương tiện khác. Nghành giao nhận phát triển góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế. Dịch vụ giao nhận góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận. Dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế có vai trò rất lớn trong việc tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thông phân phối hàng hóa trên toàn thế giới.
Các nhà giao nhận ngày nay không chỉ đơn thuần là các nhà bán cước tàu biển như xưa mà còn đóng vai trò như một người gom hàng, một người chuyên chở, một người kinh doanh vận tải đa phương thức. Các công ty cung cấp dịch vụ giao nhận vận tải ngoại thương ngày nay còn đóng vai trò là đại lý của các hãng tàu biển, chuyên cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất với giá cước rẻ nhất.3 Nguyên tắc của dịch vụ giao nhận Các văn bản hiện hành đã quy định những nguyên tắc giao nhận hàng hoá XNK tại các cảng biển Việt nam như sau: Việc giao nhận hàng hoá XNK tại các cảng biển là do cảng tiến hành trên cơ sở hợp đồng giữa chủ hàng và người được chủ hàng uỷ thác với cảng. Ðối với những hàng hoá không qua cảng (không lưu kho tại cảng) thì có thể do các chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác giao nhận trực tiếp với người vận tải.