PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trên thế giới và Việt Nam đã rất nhiều học giả khẳng định hiệu quả sử dụng vốn lưu động (VLĐ) có tác động mạnh mẽ đến khả năng sinh lời của các công ty. VLĐ là mạch máu lưu thông, duy trì tính liên tục của hoạt động kinh doanh và sự lành mạnh về tài chính của các doanh nghiệp (DN). Theo báo cáo của PwC - Tăng trưởng bền vững và khả năng thanh khoản: Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Việt Nam 2018, hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN Việt Nam còn thấp so với DN tại các quốc gia khác.
Ngoài ra, cũng theo báo cáo này, kết quả tài chính giữa các DN quản lý tốt và quản lý chưa tốt VLĐ có sự khác biệt rõ rệt, trong đó, DN quản lý tốt VLĐ đạt hiệu quả tài chính vượt trội. Thép là ngành kinh tế - kỹ thuật có ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều ngành nghề, hoạt động trong nền kinh tế, từ cơ khí chế tạo, xây dựng dân dụng và xây dựng công nghiệp, công nghiệp ô tô, xe máy, đóng tàu. đến công nghiệp quốc phòng, công nghiệp hàng không - vũ trụ của một quốc gia. Có thể khẳng định rằng: trình độ phát triển của ngành thép nói chung, sự phát triển của các DN ngành thép nói riêng, luôn gắn liền và tác động không nhỏ đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia.
Do đặc điểm ngành nghề kinh doanh, VLĐ của các DN ngành thép thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn kinh doanh của DN. Vì vậy, hiệu quả sử dụng VLĐ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh và hiệu quả hoạt động của các DN ngành thép. Ở Việt Nam, thép là một trong những ngành kinh tế trọng điểm, tổng giá trị sản phẩm của ngành thép năm 2016 chiếm khoảng 5% GDP cả nước. Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành thép Việt Nam vừa thấp, vừa thiếu ổn định: tỷ suất sinh lời VLĐ giảm liên tiếp ba năm gần đây, trong khi kỳ luân chuyển tiền mặt có xu hướng tăng và luôn cao hơn mức trung bình của các DN 1 luan an Việt Nam.
Điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả hoạt động của các DN ngành thép Việt Nam. Tình hình trên đã đòi hỏi cần có những nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành thép trong những năm qua; qua đó, chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân đã dẫn tới những hạn chế về hiệu quả sử dụng VLĐ, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành thép trong thời gian tới. Đó chính là lý do Nghiên cứu sinh đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của các doanh nghiệp ngành thép Việt Nam” cho bản Luận án Tiến sĩ kinh tế của mình. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Đề tài nghiên cứu nhằm mục tiêu: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành thép Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu cần thực hiện là: Thứ nhất, Hệ thống hoá cơ sở lý luận về VLĐ và hiệu quả sử dụng VLĐ của DN; Đồng thời tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN; Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm đối với các DN ở Việt Nam. Thứ hai, Xem xét, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành thép Việt Nam; Từ đó, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân đã hạn chế hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành thép. Bên cạnh đó, Luận án cũng tiến hành xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá tác động của các nhân tố tới hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành thép Việt Nam trong những năm gần đây. Thứ ba, Trên cơ sở tình hình thực tế các DN ngành thép và định hướng chiến lược về phát triển ngành thép Việt Nam, Luận án đề xuất hệ thống giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN thép Việt Nam.
2 luan an Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của luận án, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau: - Vốn lưu động của DN là gì? Hiệu quả sử dụng VLĐ là gì? Các nhân tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VLĐ của DN? - Các chỉ tiêu nào đo lường hiệu quả sử dụng VLĐ của DN? Sử dụng chỉ tiêu nào để đại diện cho hiệu quả sử dụng VLĐ khi đánh giá với các nhân tố ảnh hưởng? - Đặc điểm hoạt động SXKD của các DN ngành thép Việt Nam ảnh hưởng thế nào đến hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN trong ngành? - Thực trạng hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành thép Việt Nam như thế nào? Những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân? - Giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành thép Việt Nam? 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của Luận án là hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành thép. - Phạm vi nghiên cứu: + Về không gian: Luận án nghiên cứu hiệu quả sử dụng VLĐ của 26 DN Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực SXKD các sản phẩm thép. Đây là 26 DN có quy mô vốn đầu tư và thị phần chiếm tuyệt đại đa số trên thị trường thép tại Việt Nam.
+ Về thời gian: Luận án xem xét hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành thép trong khoảng thời gian từ 2009 - 2018. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - Về mặt khoa học, Luận án hệ thống hoá và làm rõ thêm cơ sở lý luận về VLĐ, hiệu quả sử dụng VLĐ, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả 3 luan an sử dụng VLĐ. Bên cạnh đó, luận án cũng tiến hành xem xét những kinh nghiệm quốc tế về việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của DN; từ đó rút ra những bài học tham khảo bổ ích đối với các DN Việt Nam trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ ở DN mình. - Về mặt thực tiễn, Luận án đi sâu xem xét thực trạng hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN trong ngành thép Việt Nam; Qua đó, chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong hiệu quả sử dụng VLĐ của các DN ngành thép Việt Nam.
Trên sơ sở thực trạng của các DN và định hướng phát triển ngành thép trong những năm tới, Luận án đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của DN ngành thép Việt Nam. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về VLĐ, quản trị VLĐvà hiệu quả sử dụng VLĐ. Có thể khái quát các nghiên cứu về VLĐ như sau: 5. Các nghiên cứu trên thế giới Các giai đoạn nghiên cứu về VLĐ của các học giả trên thế giới được chia theo 4 giai đoạn chính, có sự giao thoa về mặt thời gian, cụ thể: Thời kỳ khai phá (1900 - 1949); Thời kỳ trước và sau Thế chiến thứ 2 (1920 - 1959); Thời kỳ công nghiệp hoá (1950 - 1989); và Thời kỳ toàn cầu hoá (1990 - Nay).
Theo đó, tại mỗi thời kỳ, VLĐ được nghiên cứu và nhìn nhận dưới những trọng tâm khác nhau. Các số liệu thống kê cho thấy Thời kỳ khai phá (1900 - 1949) không có nhiều bài báo khoa học có nhắc tới cụm từ "vốn lưu động" (working capital), đồng thời có nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa của VLĐ (Darun, 2011). Đây là giai đoạn các nhà nghiên cứu đưa ra những nhận thức ban đầu về VLĐ, đặc điểm VLĐ, cũng như tìm kiếm những điểm tương đồng về VLĐ giữa lý thuyết và thực tiễn. 4 luan an Chuyển sang những giai đoạn tiếp theo, nếu Thời kỳ trước và sau Thế chiến thứ 2 (1920 - 1959) các nghiên cứu về VLĐ tập trung vào tính thanh khoản và nguồn tài trợ VLĐ thì trọng tâm nghiên cứu của Thời kỳ công nghiệp hoá (1950 - 1989) là việc xây dựng các mô hình toán học và mô hình mô phỏng để tối ưu hoá các thành phần của VLĐ.
Hai giai đoạn này chứng kiến sự bùng nổ trong các nghiên cứu của các nhà khoa học trên toàn thế giới. Mặc dù những tranh cãi vẫn là rất lớn nhưng các kết quả nghiên cứu đã thực sự giúp các nhà quản trị trong việc đưa ra quyết định tài chính của DN. Đến Thời kỳ toàn cầu hoá (1990 - Nay), hiệu quả sử dụng VLĐ là một trong những chủ đề được nghiên cứu nhiều nhất. Trong đó, các học giả tập trung vào 02 vấn đề chính: Thứ nhất, Nghiên cứu mối quan hệ giữa hiệu quả sử dụng VLĐ với khả năng sinh lời của DN.
Các nghiên cứu trên thế giới đều chỉ ra sự tác động lớn của hiệu quả sử dụng VLĐ lên khả năng sinh lời của DN. Hầu hết các tác giả đều sử dụng chỉ tiêu Kỳ luân chuyển tiền mặt (Cash conversion cycle - CCC) và các chỉ tiêu thành phần của CCC để đại diện cho hiệu quả sử dụng VLĐ, đó là: Kỳ luân chuyển HTK, kỳ thu tiền bình quânvà kỳ trả tiền bình quân. Kết quả cho thấy tác động của 4 chỉ tiêu này lên khả năng sinh lời của DN là khác nhau. Cụ thể: Raheman và Nasr (2007) đã chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa cả 4 chỉ tiêu trên, đó là kỳ luân chuyển tiền mặt, kỳ luân chuyển HTK, kỳ thu tiền bình quânvà kỳ trả tiền bình quân với khả năng sinh lời của DN.
Nhóm tác giả đã chọn mẫu 94 công ty Pakistan được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Karachi trong thời gian 6 năm từ 1999 - 2004. Điều đó có nghĩa là khi chu kỳ luân chuyển tiền mặt tăng lên sẽ dẫn đến lợi nhuận giảm của công ty và người quản lý có thể tạo ra giá trị tích cực cho các cổ đông bằng cách giảm kỳ luân chuyển tiền mặt xuống mức tối thiểu có thể. Đồng thời, các công ty có thể gia tăng hiệu quả kinh doanh bằng cách rút ngắn kỳ thu tiền bình quân và kỳ luân 5 luan an chuyển HTK đến mức tối thiểu hợp lý. Còn các công ty có khả năng sinh lời thấp hơn thường mất nhiều thời gian hơn để thanh toán các khoản phải trả.