Chương I: Cơ sở lý luận về hiệu qua sử dụng tài sản ngắn han của doanh nghiệp Chương II: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty TNHH Giao nhận vận tải Cargotrans Việt Nam Chương III: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty TNHH Giao nhận vận tải Cargotrans Việt Nam CHUONG 1: CƠ SO LÝ LUẬN VE TAI SAN NGAN HAN VÀ HIỆU QUÁ SU DUNG TAI SAN NGAN HAN TRONG DOANH NGHIEP. Khái quát về tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp. “Tài sản là tất cả những nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, năm giữ và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó”. Tài sản được mang vào quá trình sản xuất, kinh doanh với mục đích giảm số tiền chỉ ra, tăng số tiền thu vào, tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu.
Do đó, DN cần phải quản lý chặt chẽ khoản mục này. Căn cứ vào thời gian sử dụng, đầu tư và thu hồi, tài sản được phân thành hại loại là tài sản ngăn hạn và tài sản dài hạn. Khái niệm về tài sản ngăn han Tài sản mà doanh nghiệp sở hữu và quản lý có thời gian sử dụng, thu hồi, luân chuyên ngắn, thường nhỏ hơn hoặc bằng 1 năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh gọi là Tài sản ngắn hạn. Tài san ngắn hạn tồn tại, bổ sung, hỗ trợ cho tất cả các khâu của chu trình kinh doanh, là một khoản mục quan trọng trong tổng tài sản nói riêng và của DN nói chung.
Do đó, cần phải quản lý chặt chẽ tài sản ngắn hạn dé nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho DN. Đặc điểm tài sản ngắn hạn Để quá trình kinh doanh được diễn ra liên tục, không bị gián đoạn với chi phi bỏ ra là thấp nhất, tài sản ngắn hạn được các nhà quản trị doanh nghiệp tìm cách phân bồ theo tỷ lệ hợp lý theo từng giai đoạn, gắn liền với mục tiêu cũng như định hướng phát triên của doanh nghiệp đó. Vì vậy, tài sản ngăn hạn có các đặc điêm: Thứ nhát, chu kỳ TSNH luân chuyển thường trong vòng 1 năm hoặc trong 1 chu kỳ kinh doanh. Cụ thể, các khoản mục như tiền và khoản tương đương tiền, HTK, phải thu ngắn hạn sẽ được sử dụng gói gọn trong một kỳ kinh doanh.
Khác biệt với TSDH, như nhà xưởng, máy móc sẽ được sử dụng lâu dài, trích lập khấu hao mỗi năm, qua nhiều chu kỳ. Thứ hai, TSNH được biéu hiện bằng nhiều hình thái khác nhau, với mỗi hình thái có những mục đích khác nhau như giúp chu trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn, đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả, mức độtín dụng thương mại của doanh nghiệp. Cụ thể, tiền và khoản tương đương tiền giúp đảm bảo khả năng thanh toán, hàng tồn kho đảm bảo toàn bộ chu trình kinh doanh được trơn tru, hay các chính sách phải thu ngắn hạn quyết định đến tình hình kinh doanh kỳ tới của doanh nghiệp. Thứ ba, tài sản ngắn hạn không giữ nguyên vật chất ban đầu.
Cụ thé, với khoản mục hàng tồn kho, khi DN tiến hành nhập nguyên vật liệu để sản xuất hàng hóa, hàng ton kho qua một chu kỳ kinh doanh sẽ biến thành thành phẩm dé bán ra thị trường. Phân loại tài sản ngắn hạn Dựa vào tính chất vận động, TSNH được chia thành nhiều loại với nhiều hình thức khác nhau. e Dựa vào các khoản mục trên Bảng CDKT, tài sản ngắn hạn được phân chia gồm các khoản mục sau: + “Tiền và khoản tương đương tiền: Tiền bao gồm tiền mặt và tiền gửi ngân hàng, là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất. Khoản tương đương tiền bao gồm các loại chứng khoán như trái phiếu kho bạc ngắn hạn, hối phiếu, chúng có tính thanh khoản cao, dé dàng chuyển đổi sang tiền khi doanh nghiệp có nhu cầu”.
Doanh nghiệp phân tích, đo lường và tính toán để duy trì Tiền và khoản tương đương tiền ở một tỷ lệ hợp lý, vừa nham đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu thường xuyên, vừa ngăn chặn tình trạng ứ đọng vốn làm giảm bớt khả năng sinh lợi. + “Khoản phải thu ngắn hạn: là khoản tiền phát sinh từ việc doanh nghiệp bán chịu các sản phâm, hàng hóa hay cung cấp dịch vụ” cho doanh nghiệp khác hay khách hàng cá nhân. DN sẽ thu hồi số tiền nàykhi đến hạn thanh toán. Tuy nhiên, trên thực tế, sẽ có những khoản ma DN khó có thé thu hồi, do đó DN cần lập ra những khoản trích lập dự phòng hàng quý dựa trên kinh nghiệm của mình cũng như khả năng thanh toán của mỗi khách hàng.
Tùy vào chính sách, chiến lược từng thời kỳ của DN mà khoản phải thu sẽ biến đổi khác nhau. + Hàng tồn kho: luôn đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong các doanh nghiệp, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra trơn tru, không bị gián đoạn do thiếu nguyên vật liệu. Tùy vào chính sách, chiến lược từng thời kỳ của doanh nghiệp, hay thậm chí tính mùa vụ trong năm mà hàng tồn kho lại biến động theo tỷ lệ khác nhau. Việc tính được điểm đặt hàng tối ưu nhằm giảm tối thiêu chỉ phí lưu kho luôn là bài toán khó được hầu hết các DN quan tâm.
+ Các khoản dau tư tài chính ngăn hạn: bao gồm các khoản đầu tư ngắn han như tín phiếu kho bạc, thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi,. với mục đích kiếm lời bằng việc hưởng lãi hoặc mua đi bán lại nhằm hưởng chênh lệch giá thay vì việc nắm giữ quá nhiều tiền mặt gây ứ đọng vốn. Chính vì vậy, DN chidau tư vào tài chính ngắn hạ khi có khoản tiền nhàn rỗi trong khoảng thời gian nhất định. + TSNH khác: bao gồm tat cả các tài sản ngăn hạn ngoài ba khoản mục tài sản ké trên, ví dụ như ký quỹ, thương phiếu, chi phí trả trước ngắn hạn, tạm ứng chưa thanh toán.
e Dua vào vai tro của TSNH: + TSNH thuộc khâu dự trữ: các nguyên vật liệu, là yếu tố góp phan cau thành hay làm đẹp sản phẩm, phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm của DN. + TSNH thuộc khâu sản xuất: bao gồm sản pham do dang, tức là sản phẩm đang nằm trên dây chuyền va bán thành pham là hàng hóa đã qua giai đoạn dở dang nhưng cũng cần thực hiện một vài bước mới được gọi là thành phẩm. + TSNH thuộc khâu lưu thông: bao gồm thành phẩm đã hoàn thiện chờ nhập kho, hàng hóa mà DN mua về dé bán, hàng hóa đang trên đường dé bán. Vai trò của tài sản ngắn han đối với doanh nghiệp Vì mang đặc điểm tính thanh khoản cao, tức khả năng chuyên đổi sang tiền mặt nhanh chóng nên doanh nghiệp luôn dự trữ TSNH để thực hiện khả năng thanh toán như đáp ứng chỉ trả kịp thời các khoản chỉ phí giao dịch.
Trong một số trường hợp, khi DN phải trực tiếp đối mặt với áp lực tài chính lớn, như trả nợ gốc ngân hàng thì một phần của TSNH cũng được đưa ra dé chi trả mặc dù nó mang lại lợi nhuận ít hơn cho DN hơn là các khoản đầu tư tài sản dài hạn. Nhờ có TSNH mà vòng quay kinh doanh của DN được diễn ra liên tục, thuận lợi. Vòng luân chuyền của TSNH ngắn, nên tùy vào từng giai đoạn, DN áp dụng chính sách nào thì các khoản mục trong TNSH sẽ dễ dàng thay đổi linh hoạt theo chính sách đó. Ví dụ như DN đang muốn tăng doanh thu băng cách tăng bán chịu, thì khi đó vòng quay hàng tồn kho sẽ giảm, nếu DN vẫn giữ nguyên số ngày đặt hàng thì lượng hàng tồn kho tại mỗi lần đặt sẽ tăng.
Quản lý Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1. Quản lý tiễn của doanh nghiệp Nhu chúng ta đã biết, khả năng thanh toán luôn có sự đánh đổi với khả năng sinh lợi. Các khoản tiền dự phòng mặc dù đáp ứng được khả năng thanh toán nhưng lại không sinh lợi, do đó việc xác định lượng tiền mặt tối ưu để nắm giữ nhằm tối da khả năng sinh lợi luôn được các nhà quản lý quan tâm.Mặc dù tiền mặt không sinh lợi, nhưng không thể không nắm giữ khoản tiền này do nó có nhiều lợi ích trong thanh toán: + Đảm bảo toàn bộ các giao dịch hàng ngày được diễn ra suôn sẻ. Việc thanh toán đúng hạn các khoản nợ không chỉ giúp DN được hưởng chiết khấu mà còn được hưởng mức tín dụng rộng rãi, có thêm những điều kiện thuận lợi hơn.
Ngoài ra, việc nắm giữ một lượng tiền mặt vừa đủ cũng giúp DN chủ động hơn trong việc thanh toán các món hàng hay các khoản vay. + Dự phòng cho các trường hợp không lường trước được của các khoản phát sinh hay những yếu tố mang tính khách quan khác như đình công, hỏa hoạn. + Đảm bảo cho việc sinh hoạt tại văn phòng của DN. Việc nắm giữ tiền tạo ra nhiều lợi thế cho DN, do đó các nhà quản lý cần xác định lượng tiền tối ưu dé năm giữ sao cho tiền vừa có thé mang đi dau tư dé sinh lãi vừa đảm bảo được hoạt động chi trả của DN.
Nhận thấy việc quan trọng của năm giữ tiền mặt, có ba mô hình được tham khảo là “mô hình Baumol”,“m6 hình Miller-Orr” và “mô hình Stone”. Mô hình Baumol Theo Baumol, ông giả định răng “Doanh nghiệp có dòng tiền tệ rời rac với lưu chuyền tiền thuần 6n định, không đổi qua các kỳ”. Do đó, nếu M là lượng tiền cần duy trì trong kỳ thì M/2 sẽ là mức tồn quỹ bình quân trong kỳ. Ngân quỹ M/2 Thoi gian Hình 1.1: Biến động ngân quỹ của doanh nghiệp theo mô hình Baumol Nhằm tận dụng khả năng sinh lời ở mức cao nhất, thay vì nắm giữ tiền, DN sẽ nam giữ chứng khoán có tính thanh khoản cao như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng.
mục đích vừa có thé sinh lãi, vừa nhanh chóng chuyền đôi được sang tiền mặt lúc cần. Nếu ngân quỹ của DN đang trong tình trạng thiếu hụt, các nhà quản lý sẽ tiến hành bán loại chứng khoán ít rủi ro này dé thu tiền về va ngược lại. Tuy nhiên, việc nam giữ tiền luôn tồn tại hai chi phi đó là chi phí cơ hội (i) ma đáng ra DN sẽ được hưởng nếu mang khoản tiền nay đi đầu tư và chi phi giao dịch (Cy) của mỗi lần bán chứng khoán. Nếu gọi Mn là tông số tiền mà DN sử dụng trong kỳ, suy ra số lần DN bán chứng khoán là MưM.